Tòa Án Linh Hồn

phần còn lại.

phần còn lại.

phần còn lại. “Anh ta đã phát hiện ra kho dữ liệu của giáo đoàn ân giải. Anh hiểu mà Marcus, tôi không thể để anh ta sống, ” Jeremiah thanh minh. Giờ Sandra biết đâu là động cơ, và nếu người đàn ông đang chĩa súng vào gáy cô là một linh mục ân giải thì Shalber đã có lý. Chính một người trong số họ đã giết David, và cô đã không tin ông ta. Theo thời gian, cái ác đã hủy hoại họ. “Đằng nào thì vợ anh ta đã tới Roma để trả thù cho anh ta. Nhưng cô ta sẽ không bao giờ thú nhận điều đó. Phải không Sandra?” Cô nhìn hắn bằng tất cả lòng căm thù.

“Tôi có thể để cô tin đó là một tai nạn, ” Jeremiah nói với cô. “Đằng này tôi lại cho cô cơ hội biết sự thật và tìm ra tôi.” “Lara ở đâu?” Marcus ngắt lời hắn. “Cô ấy có ổn không? Có còn sống không?” “Khi lên kế hoạch mọi chuyện tôi đã nghĩ rằng anh sẽ tới chỗ trú ẩn trong biệt thự rồi tới đây và hỏi tôi đúng điều này.” Hắn ngừng lại và mỉm cười nhìn thẳng vào anh. “Bởi vì tôi biết chỗ cô ta đang ở.” “Vậy thì nói cho tôi biết.” “Tất cả phụ thuộc vào anh thôi, bạn của tôi. Trái lại, nếu anh không khám phá ra kế hoạch của tôi trong tối nay, tôi sẽ tự cho phép mình thức dậy khỏi cái giường này và biến mất vĩnh viễn.” “Tôi đã biết kế hoạch của ông, tôi cũng giỏi như ông. Vậy tại sao ông không thả người phụ nữ đó ra và đưa Lara cho tôi?” “Vì không đơn giản thế đâu. Anh phải lựa chọn.” “Như thế nào?” “Tôi có một khẩu súng, anh có một khẩu súng. Anh sẽ phải quyết định ai chết tối nay.” Bằng nòng súng, hắn vuốt ve mái đầu người phụ nữ. “Tôi sẽ bắn cô cảnh sát. Nếu anh để tôi làm việc đó, tôi sẽ nói cho anh biết Lara ở đâu. Tuy nhiên nếu anh giết tôi anh sẽ cứu được mạng của cô cảnh sát, nhưng sẽ không bao giờ biết chuyện gì đã xảy ra với cô sinh viên.” “Tại sao ông lại muốn tôi giết ông?”

“Anh vẫn chưa hiểu sao, Marcus?” Giọng nói và ánh mắt của hắn khi đặt câu hỏi đó truyền cho anh một nỗi đau bất ngờ. Như thể Jeremiah đang nói với anh rằng đáng lẽ ra anh phải biết điều đó. “Hãy nói cho tôi biết, ” Marcus nhắc lại. “Cha Devok, lão già điên rồ đó đã theo đúng bài học cho những linh mục ân giải. Ông ta tin rằng cách duy nhất để ngăn chặn cái ác chính là cái ác. Nhưng anh nghĩ xem, có tự phụ không? Để biết được cái ác chúng ta phải thâm nhập vào lãnh thổ tối tăm của chúng, khám phá chúng từ bên trong, hòa mình vào chúng. Nhưng vài người trong số chúng ta đã lạc lối để quay về.” “Chuyện đó đã xảy ra với ông.” “Và với những người khác trước tôi, ” Jeremiah bổ sung. “Tôi vẫn còn nhớ khi Devok tuyển dụng tôi. Cha mẹ tôi rất ngoan đạo, nhờ họ tôi đã nhận ơn gọi. Khi mười tám tuổi tôi theo học tại trường Công giáo. Cha Devok mang tôi theo, dạy tôi nhìn thế giới bằng cặp mắt của cái ác. Rồi ông ta đã xóa sạch quá khứ của tôi, danh tính của tôi, trói buộc tôi vĩnh viễn vào cái đại dương nhá nhem này.” Một giọt nước mắt chảy dài trên gương mặt hắn. “Tại sao ông lại bắt đầu giết người?” “Tôi luôn nghĩ là mình đứng về phe của những người tốt. Và rằng điều đó làm tôi trở nên tốt hơn những người khác.” Hắn ta nói với giọng điệu mỉa mai. “Nhưng đến một lúc tôi thấy mình

phải chắc chắn rằng đó không chỉ đơn giản là một ý tưởng. Cách duy nhất là tự đặt ra thử thách. Tôi đã bắt cóc cô gái đầu tiên, mang cô ta tới chỗ ẩn náu. Cả anh cũng thấy đó: Không có dụng cụ tra tấn, vì tôi không cảm thấy thích thú việc mình đang làm. Tôi không phải là một tên ác dâm.” Lời bào chữa có vẻ buồn rầu. “Tôi để cho cô ta sống trong lúc cố tìm một cái cớ hay để thả cô ta đi. Nhưng mỗi ngày, tôi lại trì hoãn. Cô ta khóc lóc, tuyệt vọng, van nài tôi thả cô ta ra. Tôi đã cho mình thời gian một tháng để quyết định. Cuối cùng tôi hiểu rằng mình không hề thấy thương cảm. Và tôi đã giết cô ta.” Đó là Teresa. Sandra nhớ lại tên cô em gái của Monica, chính cô bác sĩ đã cứu mạng hắn. “Nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn. Tôi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình trong giáo đoàn ân giải, nhận dạng những tội ác và những tên tội phạm, Devok không nghi ngờ gì cả. Trong tôi có hai thứ cùng tồn tại, đúng đắn và tội lỗi. Một thời gian sau tôi lặp lại thử thách với cô gái thứ hai. Và rồi với cô gái thứ ba và thứ tư. Tôi lấy của họ mỗi người một vật, một kiểu đồ lưu niệm, hy vọng rằng cùng với thời gian chúng sẽ giúp tôi thấy có lỗi về việc mình đã làm. Nhưng lần nào tôi cũng chỉ nhận được một kết quả duy nhất: không hề rủ lòng thương. Tôi đã quen với cái ác đến nỗi không thể phân biệt giữa việc tôi gặp lúc điều tra hay việc do chính tôi thực hiện. Và anh có muốn biết kết cục nghịch lý của câu chuyện này không? Càng gây ra nhiều tội ác bao nhiêu, tôi càng giỏi khám phá ra nó bấy nhiêu. Từ thời điểm đó

tôi đã cứu hàng chục mạng sống, ngăn chặn được vô số những tên tội phạm.” Hắn cười cay đắng. “Bởi vậy nếu giờ tôi giết ông, tôi sẽ cứu được mạng sống của người phụ nữ này và để mất Lara.” Marcus bắt đầu hiểu ra. “Nếu tôi không làm việc đó, ông sẽ nói cho tôi biết cô sinh viên đang đâu nhưng sau đó ông sẽ bắn cô cảnh sát. Đằng nào, tôi cũng vô phương cứu chữa. Chính tôi mới là nạn nhân thực sự của ông. Trên thực tế hai khả năng đều ngang nhau. Ông muốn chứng minh rằng chỉ khi gây tội ác người ta mới làm được điều tốt.” “Cái tốt bao giờ cũng có giá, Marcus. Cái ác thì miễn phí.” Sandra bàng hoàng. Nhưng cô không muốn chỉ là người chứng kiến đơn thuần trong tình huống trớ trêu đó. “Hãy để tên khốn này giết tôi, ” cô nói. “Và bắt hắn nói ra Lara đang ở đâu. Cô ấy đang mang thai.” Jeremiah lấy súng đập vào đầu cô. “Đừng có động tới cô ấy, ” Marcus đe dọa hắn. “Giỏi lắm, tôi thích như thế. Tôi muốn nhìn thấy anh phản ứng. Giận dữ là bước đầu tiên.” Marcus không biết rằng Lara đang có bầu. Phát hiện này làm anh sững sờ. Jeremiah nhận ra điều đó. “Sẽ tồi tệ hơn khi thấy ai đó bị giết trước mặt anh, hay biết rằng ai đó ở xa đây đang hấp hối? Cô cảnh sát hay Lara và đứa con cô ta đang mang trong bụng? Quyết định đi.”

Marcus phải kéo dài thời gian. Anh không biết có nên hy vọng vào sự xuất hiện của cảnh sát. Mọi chuyện sẽ ra sao trong trường hợp đó? Vì Jeremiah không còn gì để mất. “Nếu tôi để ông bắn cô cảnh sát, ai dám đảm bảo sau đó ông sẽ nói cho tôi biết Lara đâu? Thực tế là ông có thể giết cả hai bọn họ. Có thể là ông hy vọng rằng trong trường hợp đó, ông sẽ làm tôi điên lên, ép tôi phải báo thù. Ông sẽ thắng.” Jeremiah nháy mắt. “Quả là tôi đã tạo ra cho anh một cuộc chơi thú vị, không có gì để nói.” Marcus không hiểu gì. “Là sao?” “Nghĩ đi Marcus. Làm thế nào anh phát hiện ra tôi?” “Chất succinylcholine mà Alberto Canestrari đã tự tiêm. Ông đã lấy ý tưởng từ vụ án cuối cùng.” “Chỉ mỗi từ vụ đó sao? Anh chắc chứ?” Marcus buộc phải suy nghĩ. “Tiếp đi nào, đừng làm tôi thất vọng. Hãy nghĩ tới dòng chữ trên ngực tôi.” Giết tao đi. Hắn đang muốn nói với anh điều gì đây? “Tôi sẽ gợi ý cho anh một chút. Trước đây tôi đã quyết định hé lộ bí mật về kho dữ liệu của chúng ta cho họ hàng hay người quen của những nạn nhân trong những vụ án chưa chính thức được giải quyết. Thế mà tôi đã giải quyết chúng. Nhưng tôi đã xóa kết quả những cuộc điều tra khỏi dữ liệu của giáo đoàn ân giải và đưa nó cho họ. Nhưng tôi nghĩ rằng, vì bản thân mình cũng là một kẻ có tội, tôi phải nhường cơ hội cho người mà tôi

đã gây tổn thương. Chính vì thế mới có vụ dàn dựng với xe cứu thương và màn kịch đau tim. Nếu như thay vì cứu tôi, cô bác sĩ trẻ để cho tôi chết, tôi sẽ trả được món nợ của mình. Đằng này chị gái của Teresa lại chọn để tôi sống.” Không phải là một lựa chọn khôn ngoan, Sandra tự nhủ. Cái ác mà Monica tránh gây ra đã tìm ra cách khác để hiện hình. Vì thế mà họ ở đó, vì cô gái ấy là người tốt. Thật nghịch lý. “Dẫu vậy hiển nhiên là tôi đã sắp xếp mọi chuyện. Tôi thậm chí đã tự viết lên thân mình để tránh có những hiểu nhầm… Nhưng không ai biết đọc chữ viết đó. Điều này gợi anh nhớ tới cái gì?” Marcus sắp xếp lại những suy nghĩ. “Vụ sát hại Valeria Altieri. Chữ viết bằng máu phía sau giường. EVIL.” “Giỏi lắm, ” Jeremiah tán thưởng. “Tất cả đọc thành EVIL, cái ác, nhưng nó là LIVE. Họ kiếm tìm một tà giáo có liên quan đến biểu tượng hình tam giác được in bằng máu của những nạn nhân trên thảm trải sàn, và không ai nghĩ tới một cái máy quay. Câu trả lời lúc nào cũng nằm ngay trước mắt – Giết tao đi. Và chưa bao giờ có người nhìn thấy chúng. Chẳng ai muốn nhìn thấy chúng.” Marcus suy ra bức tranh làm nền cho kế hoạch có một không hai đó: “Vụ án của Federico Noni. Tất cả nhìn thấy một chàng thanh niên ngồi trên xe lăn, không ai có thể hình dung rằng chính hắn là hung thủ giết hại cô em gái và trên hết là hắn có thể đi lại. Cũng giống như ông. Một người đang bất tỉnh, bề

ngoài có vẻ vô hại. Chỉ có một cảnh sát canh gác. Sau khi loại trừ khả năng tai biến, chẳng bác sĩ nào hiểu được ông bị làm sao. Nhưng thực ra ông chỉ đang chịu tác dụng của chất succinylcholine và nó sẽ sớm hết hiệu lực.” “Là lòng thương đã làm mờ mắt chúng ta, Marcus. Nếu Pietro Zini không thương hại Federico Noni, ông ta đã bắt hắn ngay tức khắc. Nếu cô cảnh sát này không rủ lòng thương với tôi, cô ta đã không kể lại việc tự giải phóng khỏi đứa con của mình bằng cách phá thai. Và giờ cô ta lo ngại rằng Lara đang mang bầu.” Hắn cười ngạo nghễ. “Tên khốn. Tôi không thương cảm gì ông hết.” Ở tư thế đó, Sandra bị đau lưng. Nhưng cô tiếp tục nghĩ tới việc làm thế nào để thoát ra ngoài. Cô có thể lợi dụng một khoảnh khắc Jeremiah sao nhãng và lao vào hắn. Tới lúc đó, Marcus – như tên linh mục ân giải gọi anh và giờ cô cũng biết – có thể tước vũ khí của hắn. Sau đó, cô sẽ tẩn tên quái vật kia cho tới khi nào hắn phun ra chỗ của Lara. “Tôi chẳng học được gì ở ông, ” Marcus trả lời hắn. “Một cách vô thức anh đã làm theo những bài học kia và anh tới tận đây. Giờ anh phải quyết định xem có nên đi tiếp.” Hắn nhìn chằm chằm vào anh, nghiêm nghị. “Giết tôi đi.” “Tôi không phải là kẻ sát nhân.” “Anh chắc chứ? Để nhận ra cái ác cần phải có nó trong người. Anh cũng giống như tôi. Bởi vậy, hãy tự nhìn lại chính mình và anh sẽ hiểu.” Jeremiah chỉnh lại khẩu súng trên đầu của Sandra,

đưa cánh tay còn lại ra sau lưng và đứng theo một thế võ. Như một tên đao phủ sẵn sàng hành quyết. “Giờ tôi sẽ đếm đến ba. Anh không còn nhiều thời gian đâu.” Marcus giương súng về phía Jeremiah. Hắn là một mục tiêu hoàn hảo, từ khoảng cách đó anh có thể dễ dàng bắn trúng hắn. Nhưng trước tiên anh nhìn lại người phụ nữ. Anh hiểu rằng cô ấy đang chuẩn bị làm gì đó để tự giải thoát. Anh chỉ việc đợi cô ấy hành động rồi sẽ bắn bị thương Jeremiah mà không cần phải giết hắn. “Một.” Sandra không cho hắn có thời gian để đếm. Cô đứng phắt dậy, huých vai vào khẩu súng trong tay Jeremiah. Nhưng ngay khi bước một bước về phía Marcus, cô thấy nhói một phát sau lưng. Cô nghĩ mình đã bị thương, nhưng vẫn kịp lao được tới chỗ anh và trốn sau lưng anh. Đúng khoảnh khắc đó, cô nhận ra mình không nghe thấy tiếng nổ. Cô sờ ngay một tay lên lưng và động vào cái vật cắm vào giữa cột sống. Cô nhận ra nó. “Chúa tôi.” Đó là một cái ống tiêm. Jeremiah cười khoái trá, đung đưa trên mép giường. “Succinylcholine, ” hắn reo lên. Marcus nhìn chằm chằm vào bàn tay mà gã đàn ông đã bất ngờ rút ra sau lưng. Hắn đã đoán trước sự phản kháng của cô cảnh sát.

“Thật khó tin là người ta có thể tìm thấy nó trong một bệnh viện, phải không?” hắn nói. Hắn đã chuẩn bị nó sau khi bắn vào người cảnh sát canh gác, chính vì thế mà cô thấy hắn trước phòng thuốc. Sandra hiểu ra điều đó khi đã quá muộn. Đầu tiên cô có cảm giác tê liệt ở các chi rồi lan dần lên cổ họng. Cô không thể cử động đầu và đôi chân đã quỵ ngã. Cô nằm dưới đất. Cơ thể cô co giật đột ngột mà không tài nào kiểm soát nổi. Rồi cô thấy mình ngạt thở. Như thể trong căn phòng đó không còn không khí. Như ở trong một bể cá thực, cô nghĩ và nhớ lại phép so sánh của mình khi bước vào chỗ đó. Nhưng xung quanh không có nước. Chính cô không thể hít thở oxy. Marcus lao về phía Sandra. Cô đang giãy giụa và dần thâm tím. Anh không biết phải làm sao để giúp cô. Jeremiah chỉ cho anh cái ống cao su sát giường. “Để cứu cô ta, anh nên đặt cái này vào họng cô ta. Hoặc là nhấn chuông báo động, nhưng trước tiên phải giết tôi đi, nếu không tôi sẽ không cho anh làm việc đó.” Marcus nhìn khẩu súng hắn đặt dưới đất. “Cô ta chỉ còn khoảng bốn phút nữa, có thể là năm. Sau ba phút đầu tiên, những tổn thương về não bộ sẽ không thể cứu vãn nổi. Hãy nhớ lấy Marcus. Ở chỗ ranh giới giữa điều tốt và cái ác có một chiếc gương. Nếu anh nhìn vào đó, anh sẽ khám phá ra sự thật. Bởi vì cả anh….”

Tiếng súng cắt đứt câu nói. Jeremiah ngã về phía sau, tay dang ra, đầu ngoẹo về một bên giường. Không thèm bận tâm tới hắn và khẩu súng anh vẫn cầm trong tay sau khi bóp cò, Marcus tập trung vào người phụ nữ. “Tôi xin cô đấy, hãy cố gắng lên.” Rồi anh đi về phía cửa và kéo cần gạt hệ thống báo cháy. Đó là cách duy nhất để gọi ứng cứu. Sandra không kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Cô thấy mình đang mất dần cảm giác. Cô thấy như có lửa cháy trong phổi và không thể cựa quậy, không thể gào thét. Tất cả xảy ra trong người cô. Marcus quỳ bên cạnh và cầm lấy tay cô. Anh đang chứng kiến một cách bất lực trận chiến thầm lặng của cô cảnh sát. “Anh tránh ra đi.” Giọng nói quả quyết đến từ phía sau anh. Anh làm theo mệnh lệnh và thấy một cô gái nhỏ nhắn trong chiếc blouse trắng tóm lấy cánh tay của Sandra và kéo cô về phía chiếc giường trống gần nhất. Anh giúp cô nâng chân Sandra. Họ đặt cô ấy nằm trên giường. Cô gái lấy lưỡi đèn từ một cái tủ đẩy chứa dụng cụ cho những trường hợp khẩn cấp. Cô cho nó vào cổ họng của người phụ nữ và bình tĩnh đưa một cái ống qua rồi nối nó với máy thở. Cô dùng ống nghe để kiểm tra. “Nhịp tim đang trở lại bình thường, ” cô nói. “Có lẽ chúng ta đã xử lý kịp.” Rồi cô quay về phía cái xác vô hồn của Jeremiah Smith. Cô nhìn lỗ viên đạn

găm trên thái dương của hắn. Rồi vết sẹo trên thái dương của Marcus, ngạc nhiên vì sự giống nhau đặc biệt đó. Chỉ khi ấy anh mới nhận ra cô. Đó là Monica, chị gái của Teresa. Lần này cô ấy đã cứu mạng cô cảnh sát. “Anh ra khỏi đây đi, ” cô bác sĩ trẻ nói với anh. Nhưng anh chưa kịp hiểu. “Anh đi đi, ” cô nhắc lại. “Không ai hiểu tại sao anh lại bắn hắn đâu.” Marcus lưỡng lự. “Tôi thì biết rõ” , cô bổ sung. Anh quay về phía cô cảnh sát đang dần hồng hào trở lại. Anh thấy một quầng sáng trong đôi mắt mở to của cô. Cô tán thành. Anh vuốt nhẹ cô và bỏ đi về phía lối ra nội bộ.

Một năm trước

H Pripjat oàng hôn hàn gắn đường chân trời phía trên Chernobyl. Nhà máy điện bình yên tọa lạc bên bờ sông là một núi lửa đang ngủ. Trên thực tế, điều có vẻ như đã kết thúc và vô hại lại sống động và chết chóc hơn bao giờ hết, và nó sẽ tiếp tục gieo rắc cái chết và sự dị dạng trong hàng thiên niên kỷ. Từ đường cái, gã thợ săn có thể chiêm ngưỡng hình ảnh của những lò phản ứng, trong đó cái số 4 – lãnh trách nhiệm cho thảm họa hạt nhân lớn nhất trong lịch sử – giờ đang cuộn mình trong cái quan tài bằng chì và bê tông cốt thép mỏng manh của mình. Mặt đường đầy ổ gà và hệ thống treo của chiếc Volvo già nua rung lên sau mỗi cú va đập. Gã tiếp tục men theo một không gian mênh mông những khu rừng sum suê. Sau tai nạn, do ảnh hưởng từ gió phóng xạ mà cây cối đã chuyển màu. Vẫn chưa biết mọi chuyện thực tế đang diễn ra như thế nào, người dân địa phương dã đặt cho nó cái tên khu rừng đỏ. Thảm họa thầm lặng bắt đầu vào ngày 24 tháng 4 năm 1986, lúc 1 giờ 23 phút sáng. Thoạt đầu, chính quyền đánh giá thấp chuyện xảy ra, cố tìm cách che đậy mọi việc. Họ lo lắng đến việc tin tức bị lan truyền

nhiều hơn là sức khỏe của cộng đồng. Việc sơ tán khu vực đó chỉ bắt đầu ba mươi sáu tiếng sau thảm họa. Thành phố Pripjat nằm cách những lò phản ứng không bao xa. Gã thợ săn nhìn thấy hình ảnh ma quái của nó sau tấm kính chắn gió. Không ánh sáng, không dấu hiệu của sự sống giữa những tòa nhà bằng xi măng cao lớn được xây dựng cùng với nhà máy điện. Vào năm bị bỏ hoang, Pripjat có khoảng bốn mươi bảy nghìn dân. Nó là một thành phố hiện đại với quán cà phê, nhà hàng, rạp chiếu phim, nhà hát, trung tâm thể thao và hai bệnh viện hoạt động hiệu quả. Điều kiện sống tốt hơn những chỗ khác ở trong nước. Giờ nó chỉ còn là một tấm bưu thiếp tối mang hai màu đen trắng. Một con chồn nhỏ băng qua đường, gã thợ săn phải đạp phanh để không đâm phải nó. Thiên nhiên biết cách tranh thủ sự thiếu vắng của con người, rất nhiều loài động thực vật đã thích nghi với môi trường sống – thật trớ trêu giờ đã trở thành một kiểu thiên đường trần gian. Nhưng chẳng ai có thể nói được chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai do những ảnh hưởng lâu dài của chất phóng xạ. Gã thợ săn đặt trên ghế bên cạnh một bộ đếm Geiger* đang liên tục phát ra một âm thanh điện tử đều đặn, như một thông điệp bằng mật mã đến từ một không gian khác. Gã không có nhiều thời gian. Gã phải đút lót một tay viên chức Ucraina để lấy giấy phép đi vào vùng cách ly. Khu vực bị cấm có bán kính ba mươi cây số và tâm điểm của nó chính là nhà máy giờ đã

không hoạt động. Gã phải tranh thủ lúc hoàng hôn để hoàn thành cuộc điều tra. Trời sẽ tối rất nhanh. Gã tình cờ bắt gặp những phương tiện quân sự bị bỏ lại bên lề đường. Có đến hàng trăm chiếc. Một nghĩa địa thực sự của xe cam nhông, trực thăng, xe tăng và xe cộ đủ loại. Chúng được quân đội sử dụng để giải quyết tình trạng khẩn cấp, nhưng sau khi thực hiện nhiệm vụ chúng bị ô nhiễm đến nỗi người ta phải quyết định bỏ chúng lại đó. Một tấm biển hoen gỉ với dòng chữ Kirin chào mừng bạn tới trung tâm dân cư. Ở chỗ ranh giới có một công viên giải trí nơi lũ trẻ vẫn tiếp tục đến chơi đùa vào hôm sau ngày diễn ra thảm kịch. Đó là địa điểm đầu tiên bị mây phóng xạ bao phủ. Cái vòng quay mặt trời rất lớn giờ chẳng khác nào một bộ xương hoen gỉ bởi những trận mưa phóng xạ. Một vài tảng bê tông đặt chình ình giữa đường để chặn lối vào Pripjat. Trên dây thép gai còn treo những cảnh báo nguy hiểm. Gã thợ săn đậu xe với ý định xuống đi bộ tiếp. Gã lấy một cái túi trong khoang hành lý và đặt lên vai. Cầm máy đếm Geiger trong tay, gã bắt đầu cuộc thám hiểm trong thành phố ma. Cuộc viếng thăm của gã được đón chào bởi tiếng líu lo của chim chóc, âm vang của nó hòa cùng tiếng bước chân của gã giữa những đại lộ bao quanh các tòa nhà. Ánh sáng lạnh lẽo của ban ngày đang vội vã biến mất và trời thêm lạnh. Đôi lúc gã cảm giác như nghe thấy tiếng nói đang rượt đuổi lẫn nhau trên

những con đường hoang vắng. Những ảo giác âm thanh hay những tiếng động từ xa xưa bị cầm tù vĩnh viễn ở một nơi mà thời gian đã trở nên vô nghĩa. Một vài con chó sói lượn lờ quanh đống đổ nát. Gã có thể cảm thấy chúng hoặc phát hiện ra sự có mặt của chúng dưới những vệt màu xám. Hiện giờ chúng còn ở xa, nhưng chúng đang quan sát gã. Gã kiểm tra tấm bản đồ mang theo người, rồi ngó xung quanh. Mỗi công trình xây dựng được đánh dấu bằng một chữ số viết bằng những ký tự in hoa, sơn trắng trên mặt tiền. Con số gã quan tâm là chung cư 109. Trên tầng mười một trước kia Dima Karoliszyn sống cùng cha mẹ. Nhưng gã thợ săn biết điều đó. Phải tiến hành điều tra từ vụ giết người đầu tiên chứ không phải vụ cuối cùng trong chuỗi án mạng. Vì hung thủ vẫn còn thiếu kinh nghiệm và dễ mắc sai lầm hơn. Nạn nhân đầu tiên được xem như một kiểu mẫu số không, từ đó hắn bắt đầu một chuỗi phá hủy không ngừng nghỉ và thông qua đó người ta có thể hiểu được nhiều điều về tên giết người hàng loạt. Theo những gì gã thợ săn biết, Dima là đối tượng đầu tiên mà kẻ biến hình đã hóa thân, khi hắn mới có tám tuổi, trước khi người ta đưa hắn tới trại trẻ mồ côi ở Kiev. Gã phải leo cầu thang bộ vì không có điện để chạy thang máy. Dẫu vậy, thật trớ trêu, những địa điểm đó đã từng có thừa năng lượng nhờ vào phóng xạ. Máy đếm Geiger ghi nhận những

mức kỷ lục mới. Gã thợ săn biết rằng ở trong phòng kín còn nguy hiểm hơn cả ở ngoài trời. Phóng xạ tập trung chủ yếu trên đồ vật. Leo dần lên cao gã có thể thấy những thứ còn lại của những căn hộ không người ở. Những thứ mà bọn trộm bỏ qua tái hiện lại một cách nguyên vẹn khung cảnh gia đình dang dở vào thời điểm sơ tán. Một bữa ăn còn sót lại một nửa. Một ván cờ không bao giờ kết thúc. Quần áo đang chơi trên máy sưởi. Một chiếc giường chưa dọn. Thành phố như một ký ức tập thể khổng lồ nơi mà mỗi con người, trong lúc tháo chạy bất ngờ, đã để lại những kỷ niệm của họ. Album ảnh, những đồ vật thân thiết và quý giá nhất, những kỷ vật của gia đình: tất cả đang chờ đợi một ngày trở về không bao giờ thành hiện thực. Mỗi thứ đều đang treo lơ lửng. Như bối cảnh sân khấu trống rỗng sau vở kịch, khi những diễn viên đã bỏ đi để lộ sự hư cấu. Như một thứ khinh bỉ của thời gian. Sự phúng dụ thê lương của cả sự sống lẫn cái chết. Của những cái đã có và sẽ không còn nữa. Theo các chuyên gia, con người sẽ không trở lại Pripjat trong một trăm nghìn năm nữa. Ngay khi bước vào căn hộ của gia đình Karoliszyn, gã thợ săn để ý thấy nó gần như chưa được động đến. Hành lang hẹp dẫn vào ba căn phòng, một bếp và một nhà vệ sinh. Giấy dán tường bị bong tróc vài chỗ, sự ẩm ướt đã thống trị. Bụi phủ lên mọi thứ như một tấm vải liệm trong suốt. Gã thợ săn bắt đầu đi quanh những căn phòng.

Phòng ngủ của Konstantin và Anja cực kỳ ngăn nắp. Trong tủ vẫn còn tất cả quần áo. Trong phòng nhỏ của Dima, gần giường có kê thêm một chiếc giường xếp. Trong bếp bàn ăn được dọn cho bốn người. Trong phòng khách có những chai vodka đã cạn. Gã thợ săn biết lý do tại sao. Khi trong thành phố người ta biết tin về thảm họa, những quan chức y tế đã phổ biến tin giả rằng rượu có thể làm chất phóng xạ suy yếu. Trên thực tế đó chỉ là một thủ đoạn để làm nhụt nhuệ khí của người dân và ngăn chặn sự chống đối. Trên bàn, một lần nữa, gã thợ săn đếm thấy có bốn chiếc cốc. Sự tái diễn của con số đó chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Gia đình Karoliszyn có một vị khách. Gã thợ săn tiến tới gần một cái tủ trên đó có đặt một khung ảnh: bên trong là một tấm hình gia đình. Một người phụ nữ, một người đàn ông và một cậu bé. Tuy nhiên, những khuôn mặt đã bị xóa bỏ. Quay lại phía sau, gã nhận ra có bốn đôi giày gần cửa ra vào. Giày của nam giới, phụ nữ. Hai đôi của trẻ con. Tổng hợp những chi tiết đó, gã suy luận rằng kẻ biến hình đã tới ngôi nhà vào thời điểm ngay sau thảm họa của nhà máy hạt nhân. Gia đình Karoliszyn, không biết kẻ đó là ai, đã tiếp đón hắn. Trong những khoảnh khắc lo sợ và hoảng loạn, họ thấy không cần phải giao đứa bé đơn độc và sợ hãi cho nhà chức trách.

Họ không thể hình dung ra loại quái vật nào mình đã rước vào nhà. Và thế là họ mời hắn một bữa cơm nóng sốt và cho hắn ngủ cùng Dima. Rồi hẳn có chuyện đã xảy ra. Có lẽ là vào ban đêm. Gia đình Karoliszyn biến mất trong hư vô và kẻ biến hình đã thế chỗ của Dima. Những thi thể giờ ở đâu? Nhưng trên hết đứa bé đó là ai? Và từ đâu chui ra? Bóng tối đã bắt đầu vây hãm những cánh cửa của thành phố. Gã thợ săn rút đèn pin trong túi và định rời khỏi khu chung cư. Gã sẽ trở lại vào hôm sau, đúng vào giờ này. Gã sẽ không qua đêm đây. Trong lúc vội vã xuống cầu thang, một nghi vấn khác đột ngột tấn công gã. Tại sao lại là gia đình Karoliszyn? Gã đã không nghĩ tới điều đó. Kẻ biến hình đã chọn gia đình đó vì một lý do. Không phải tình cờ. Vì hắn không phải từ xa đến. Hắn không đến từ nơi không ai biết, trái lại hắn phải ở rất gần đây. Gã thợ săn đưa ánh đèn pin về phía cánh cửa của căn hộ bên cạnh căn hộ của nhà Karoliszyn. Nó đóng kín. Trên một tấm biển đồng có ghi tên Anatolij Petrov. Gã nhìn giờ. Bên ngoài đã tối và gã sẽ phải lái xe mà không bật đèn pha để không bị lính gác Ucraina đang giám sát biên giới của khu vực cách ly phát hiện ra. Đằng nào cũng đáng để

nán lại thêm chút nữa. Ý tưởng đang ở rất gần đáp án làm gã hứng khởi, quên cả những thận trọng sơ đẳng nhất. Gã phải biết liệu phán đoán của mình về Anatolij Petrov có chính xác hay không. ← Máy dò bức xạ ion hóa.

Hôm qua

X 4 giờ 46 phút ác chết đang khóc. Lần này anh không bật đèn cạnh giường. Anh không lấy bút để thêm một chi tiết khác trên tường căn hộ áp mái ở phố Serpenti. Anh chỉ chìm trong im lặng, bóng tối, cố tìm ra ý nghĩa của điều mình vừa thấy trong mơ. Anh sắp xếp lại những manh mối cuối cùng từ cơn mơ tối qua về chuyện đã xảy ra trong phòng khách sạn ở Praha. Kính vỡ. Ba phát súng. Tay trái. Đảo chúng lại, anh có được lời giải cho bí ẩn. Những lời nói cuối cùng của Jeremiah Smith: “Ở ranh giới giữa cái thiện và cái ác có một chiếc gương. Nếu anh nhìn vào trong, anh sẽ khám phá ra sự thật.” Anh đã tìm ra lý do vì sao mình ghét soi gương. Anh và Devok, mỗi người nhận một phát súng. Nhưng tên sát nhân không thuận tay trái. Hắn chính là hình ảnh phản chiếu của anh. Phát đầu tiên đã phá hủy chiếc gương. Không có người thứ ba. Chỉ có hai bọn họ. Anh hiểu ra sau những chuyện đã xảy ra ở khoa điều trị tích cực của bệnh viện Gemelli, khi anh nổ súng không do dự. Nhưng nhờ giấc mơ anh mới có được sự khẳng định, khi xem

lại hồi kết của cảnh tượng. Anh không biết tại sao mình lại ở Praha, cũng chẳng biết tại sao thầy của anh cũng xuất hiện ở đó. Anh không biết nội dung cuộc nói chuyện của họ, cũng như họ đã nói điều gì. Marcus chỉ biết rằng ít giờ trước anh vừa giết Jeremiah Smith. Nhưng trước hắn, anh cũng đã làm thế với Devok. Vào lúc bình minh, cơn mưa quay trở lại xâm chiếm Roma, tẩy sạch màn đêm khỏi những con đường. Trong khi dạo quanh các con hẻm của khu Regola, Marcus trú mưa dưới một mái vòm. Anh ngó lên trời, không có vẻ sẽ sớm tạnh. Anh kéo chiếc mũ áo mưa và đi tiếp. Khi tới phố Giulia, anh bước vào một nhà thờ. Anh chưa tới đó bao giờ. Clemente hẹn anh ở hầm mộ. Bước xuống những bậc thang bằng đá, anh nhận ra ngay sự kỳ dị của nơi này. Đó là một nghĩa địa dưới lòng đất. Trước khi Napoleon ban hành một nghị định về những nguyên tắc vệ sinh, theo đó người chết phải được chôn cách xa người sống, mỗi nhà thờ đều có khu nghĩa địa của mình. Nhưng nơi anh đang đứng không giống các chỗ khác. Những đồ nội thất – chân nến, vật trang trí và tác phẩm điêu khắc – được làm từ xương người. Một bộ xương treo trên tường đang chào những tín đồ nhúng ngón tay trong bình đựng nước thánh. Xương được chia thành từng loại và được xếp lại ngăn nắp trong những cái hốc. Có tới hàng ngàn cái. Nhưng chỗ này trông quái đản hơn là rùng rợn.

Clemente đứng chắp tay sau lưng, cúi xuống xem dòng chữ khắc ở phía dưới một đống đầu lâu. “Tại sao lại ở đây?” Cậu bạn quay lại và nhìn thấy anh. “Tôi thấy đây là chỗ thích hợp nhất sau khi nghe tin nhắn anh để lại cho tôi tối qua trong hộp thư thoại.” Marcus chỉ ra xung quanh. “Chúng ta đang ở đâu thế?” “Vào khoảng cuối của thế kỷ mười sáu, Huynh đoàn cầu nguyện và cái chết bắt đầu thực hiện nhiệm vụ nhân nghĩa của mình. Mục đích là xây dựng chỗ chôn cất xứng đáng cho những xác chết vô danh người ta tìm thấy trên đường phố Roma hay ở những vùng quê, hoặc được trả lại từ sông Tevere. Những người tự sát, nạn nhân của bọn giết người hay đơn giản chỉ là những người chết vì nghèo khó. Có khoảng tám nghìn thi thể chen chúc trong chỗ này.” Clemente quá thản nhiên. Trong tin nhắn, Marcus đã tóm tắt sơ lược chuyện xảy ra vào đêm hôm qua nhưng cậu bạn anh không có vẻ bị sốc vì kết cục của sự việc. “Tại sao tôi có cảm tưởng rằng cậu không thèm coi trọng những gì tôi nói với cậu?” “Bởi vì chúng tôi đã hiểu mọi chuyện.” Giọng điệu hiểu biết đó làm anh phát cáu. “Ai? Cậu nói là chúng tôi, nhưng lại không muốn cho tôi biết người cậu đang ám chỉ là ai. Ai ở phía trên cậu? Tôi có quyền biết điều đó.” “Anh biết là tôi không thể. Nhưng họ rất hài lòng về anh.”

Marcus thấy khó chịu. “Hài lòng về cái gì? Tôi đã phải giết Jeremiah, Lara thì không còn hy vọng và tối nay, sau một năm trời mất trí nhớ hoàn toàn, tôi đã lấy lại được ký ức đầu tiên. Tôi đã bắn Devok.” Clemente kéo dài thời gian. “Có một tù nhân trong phòng biệt giam của một nhà tù an ninh bậc nhất phạm phải một tội ác kinh khủng và đã chờ hành hình được hai mươi năm. Năm năm trước người ta chẩn đoán hắn bị ung thư não. Loại bỏ khối u, hắn đã mất trí nhớ. Hắn phải học tất cả từ đầu. Sau ca phẫu thuật, hắn thấy thật lạ khi phải ở trong một phòng giam, bị kết án cho một tội ác mà hắn không nhớ là mình đã gây ra. Giờ hắn cho rằng mình không phải là kẻ đã sát hại vô số nạn nhân, thậm chí hắn nói rằng mình không đủ sức để cướp đi dù chỉ một mạng người. Hắn xin được tha tội, quả quyết rằng nếu không hắn sẽ là một người vô tội bị hành quyết. Các bác sĩ tâm thần cho rằng hắn thành thực và đó không phải chỉ là một thủ đoạn để tránh án tử hình. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ khác. Nếu người phải chịu trách nhiệm về hành động của một cá nhân là chính cá nhân đó, thì tội lỗi của anh ta nằm ở đâu? Nó ở trong cơ thể anh ta, trong tâm hồn hay trong nhận dạng của anh ta?” Với Marcus, mọi thứ bỗng nhiên trở nên rõ ràng. “Các cậu biết việc tôi làm ở Praha?” Clemente gật đầu, rồi tiếp tục: “Giết Devok, anh đã phạm phải tội trọng. Nhưng nếu anh không nhớ ra việc đó, anh không thể xưng tội. Và nếu không xưng tội, anh cũng không

thể được giải tội. Nhưng cũng vì lẽ đó, có thể coi như anh không phạm tội. Chính vì thế mà anh đã được tha thứ.” “Vì lý do này mà các cậu che giấu tôi.” “Đâu là câu nói mà các linh mục ân giải thường nhắc đi nhắc lại?” Marcus nhớ lại câu kinh mà anh đã được học. “Có một nơi mà đó thế giới ánh sáng tiếp xúc với thế giới bóng tối. Và ở đó, xảy ra mọi việc: trong vùng đất nhá nhem mọi thứ tan ra, lẫn lộn, mơ hồ. Chúng tôi là những người canh gác có nhiệm vụ bảo vệ biên giới đó. Nhưng thi thoảng cũng có thứ lọt được qua… Nhiệm vụ của tôi là tống khứ nó trở lại bóng tối.” “Ở bên bờ của ranh giới đó lúc nào cũng nguy hiểm, một vài linh mục ân giải đã có bước đi tai hại. Họ bị bóng tối nuốt chửng và không quay trở lại nữa.” “Cậu đang muốn nói với tôi rằng chuyện xảy ra với Jeremiah Smith cũng từng diễn ra với cả tôi trước khi tôi mất trí nhớ?” “Không phải với anh. Với Devok.” Marcus không thốt nên lời. “Ông ta đã mang súng tới phòng khách sạn đó. Anh chỉ tước vũ khí của ông ta và cố tự vệ. Một cuộc ẩu đả đã nổ ra và có hai phát súng.” “Làm thế nào các cậu biết được chuyện gì đã diễn ra? Các cậu không có ở đó, ” anh phản đối. “Trước khi tới Praha, Devok đã xưng tội. Culpa gravis 785- 34-15: chống lệnh Giáo hoàng, phản bội Giáo hội. Trong hoàn

cảnh đó, ông ta đã tiết lộ sự tồn tại bất hợp pháp của những linh mục ân giải. Có thể ông ta đã đoán ra có điều gì đó không ổn. Kho dữ liệu bị xâm phạm, bốn cô gái đã bị bắt cóc và cắt cổ, cuộc điều tra đã liên tiếp bị chệch hướng. Cha Devok bắt đầu nghi ngờ về những người của mình.” “Có bao nhiêu linh mục ân giải?” Clemente thở dài. “Chúng tôi không biết. Nhưng chúng tôi nuôi hy vọng rằng trước hay sau ai đó sẽ xuất đầu lộ diện. Trong lời xưng tội, Devok không muốn nói tên họ. Ông ta chỉ nói rằng:”Tôi phạm phải một sai lầm, tôi phải sửa chữa nó." “Tại sao ông ta tìm tôi?” “Chúng tôi cho rằng ông ta muốn giết hết tất cả. Bắt đầu từ anh.” Marcus đã hiểu mọi chuyện diễn ra như thế nào, thật khó tin. “Devok muốn giết tôi ư?” Clemente đặt một tay lên vai anh. “Tôi rất tiếc. Tôi đã hy vọng anh sẽ không bao giờ biết điều đó.” Marcus nhìn vào hố mắt trống rỗng của một trong số rất nhiều hộp sọ được bảo quản trong hầm mộ. Người đó là ai? Tên của anh ta là gì, khuôn mặt anh ta ra sao? Có ai từng yêu thương anh ta? Anh ta chết thế nào và tại sao? Đó là một người đàn ông tốt hay xấu? Ai đó sẽ đặt ra những câu hỏi như thế cho cái xác của anh nếu Devok giết chết anh. Bởi vì, như tất cả những linh mục ân giải, anh không có danh tính.

Mình không tồn tại. “Trước khi chết, Jeremiah Smith đã nói: Càng gây ra nhiều tội ác bao nhiêu, tôi càng giỏi khám phá ra nó bấy nhiêu. Và tôi tự hỏi: Tại sao tôi không nhớ nổi giọng nói của mẹ trong khi tôi biết rất rõ làm thế nào để phát hiện ra cái ác? Tại sao tôi lại quên đi tất cả những thứ còn lại mà không quên năng khiếu của mình? Cái thiện và cái ác đều có sẵn trong mỗi chúng ta, hay chúng phụ thuộc vào con đường mà chúng ta lựa chọn cho cuộc sống của chính mình?” Marcus ngước mắt lên nhìn cậu bạn. “Tôi tốt hay xấu?” “Giờ anh biết mình đã phạm tội trọng vì giết Devok và sau đó là Jeremiah. Vì thế anh phải xưng tội và chịu sự phán xét của Tòa án linh hồn. Nhưng tôi chắc chắn anh sẽ được ân giải vì khi phải xử lý cái ác, đôi lúc chúng ta bị lấm bẩn.” “Thế còn Lara? Jeremiah đã mang theo bí mật đó. Cậu nghĩ sao về cô gái bất hạnh đó?” “Nhiệm vụ của anh kết thúc tại đây, Marcus.” “Cô ấy đang mang bầu.” “Chúng ta không thể cứu cô ấy.” “Đứa con của cô ấy thậm chí còn không có nổi một cơ hội. Không, tôi không chấp nhận.” “Hãy nhìn chỗ này xem, ” Clemente chỉ cho anh kho hài cốt. “Ý nghĩa của nơi đây là lòng thương. Dựng một lăng mộ Công giáo cho một cá nhân vô danh, không phụ thuộc vào việc anh ta như thế nào hay anh ta phạm tội gì khi còn sống. Tôi muốn hẹn

anh ở nơi này để anh có thể thương cảm cho chính bản thân mình. Lara sẽ chết nhưng không phải do lỗi của anh. Vậy nên, hãy thôi tự hành hạ mình. Việc ân giải của Tòa án linh hồn sẽ chẳng có nghĩa gì nếu như chính anh không tự ân giải trước cho mình.” “Vậy là giờ tôi được tự do? Tôi không hình dung ra thế này. Không ổn như những gì tôi đã nghĩ.” “Tôi còn một nhiệm vụ nữa cho anh.” Clemente cười. “Có thể nhiệm vụ này sẽ giúp anh làm mọi thứ nhẹ nhàng hơn.” Cậu ta đưa anh một hồ sơ lưu trữ. Marcus cầm lấy và đọc trên trang bìa: c.g.294-21-12. “Anh đã không cứu được Lara. Nhưng biết đâu anh còn có thể cứu cô ấy.”

M 9 giờ 02 phút ột cảnh tượng siêu thực đang diễn ra trong khoa điều trị tích cực. Cảnh sát và kỹ thuật viên đội Khoa học hình sự đang thực hiện công việc thu thập bằng chứng như thường lệ để tái dựng quá trình vụ thảm sát. Nhưng tất cả được tiến hành với sự hiện diện của những bệnh nhân đang hôn mê và người ta không thể di chuyển họ trong ít thời gian như vậy. Vì không có nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc điều tra, họ được giữ nguyên ở đó. Hậu quả không thể lý giải nổi là những cảnh sát di chuyển một cách thận trọng, nói năng thầm thì, cứ như thể họ e ngại sẽ làm ai đó tỉnh giấc. Quan sát những đồng nghiệp từ một chỗ ngồi trong hành lang, Sandra lắc đầu tự hỏi liệu cảnh tượng này có vẻ ngu ngốc chỉ với riêng cô hay không. Các bác sĩ một mực giữ cô lại để theo dõi nhưng cô đã ký giấy để được xuất viện. Cô không cảm thấy khỏe cho lắm, nhưng cô muốn trở về Milan, lấy lại quyền sở hữu cuộc sống của mình. Và thử bắt đầu lại. Marcus, cô tự nhủ khi nhớ lại tên của vị linh mục ân giải có vết sẹo trên thái dương. Cô muốn nói chuyện với anh ta thêm một lần nữa và cố tìm hiểu. Khi cô đang ngạt thở, cái ôm thật chặt của anh đã truyền cho cô sự can đảm cần thiết để kháng cự. Cô muốn anh biết điều đó.

Jeremiah Smith đã được mang đi trong một cái bao màu đen đựng xác chết. Hắn bị mang đi trước mặt cô và cô nhận ra mình không hề thấy tiếc thương gì cho gã đàn ông đó. Đêm ấy, chính bản thân cô đã trải nghiệm hệ quả của cái chết. Điều đó đủ để cô tự giải phóng tất cả lòng căm ghét, sự thù hận và khao khát báo thù. Vì trong những khoảnh khắc đó cô thấy rất gần David. Monica đã kéo cô ra khỏi một kết cục hiển nhiên với sức mạnh của người bác sĩ can đảm. Rồi cô ấy đã diễn kịch với cảnh sát, tự thế mình cho Marcus ở hiện trường. Cô ấy tự nhận là đã bắn Jeremiah. Monica đã làm rất tốt việc xóa dấu vân tay trên khẩu súng và in dấu vân tay của mình vào. Không phải là báo thù, mà là tự vệ hợp pháp. Tất cả để làm họ tin cô ấy. Sandra gặp cô ấy khi đi ngược chiều ở hành lang, vào cuối cuộc hỏi cung lần thứ bao nhiêu không biết nữa. Monica không có vẻ mệt mỏi, trái lại nét mặt cô ấy có phần tươi vui. “Thế nào, cô ổn chứ?” “Tôi ổn, ” Sandra hắng giọng đáp. Cô vẫn còn khản tiếng do ống thở và thấy đau mọi thứ cơ trên cơ thể. Nhưng ít ra cảm giác kinh hãi về sự tê liệt đã qua đi. Một bác sĩ gây mê đã giúp cô dần thoát khỏi tác dụng của succinylcholine. Như thể cải tử hoàn sinh. “Người ta trưởng thành nhờ cả sức mạnh của những cái tát, bố cô đã nói vậy nếu tôi không nhầm.” Họ cười. Chỉ là vô tình mà đêm hôm trước Monica quay trở lại khoa điều trị tích cực sau chuyến viếng thăm thường lệ vào buổi tối. Sandra không hỏi cô ấy tại sao và cô ấy đã nói là không

biết lý do nào thôi thúc mình. “Có lẽ là do cuộc nói chuyện của chúng ta lúc trước, tôi không biết nữa.” Sandra không biết nên cảm ơn cô ấy về sự rủi ro kia hay cảm ơn số phận, hoặc ai khác ở phía trên thi thoảng để ý sắp xếp mọi việc. Có thể là Chúa trời hay chồng cô, với cô chẳng có gì khác nhau cả. Monica cúi xuống chỗ Sandra và ôm lấy cô. Không cần lời nói. Họ ở yên như vậy trong vài giây. Rồi cô bác sĩ trẻ chia tay với một nụ hôn má. Cô lơ đãng dõi theo cô ấy khuất dần và không để ý tới thanh tra Camusso đang tiến lại gần. “Cô cừ lắm, ” ông đánh giá. Sandra chuyển ánh mắt lên nhìn ông. Ông ta vẫn một bộ toàn màu xanh da trời. Màu duy nhất cho cả áo khoác, quần, sơ mi và cà vạt. Cô cược rằng cả đôi tất cũng đồng màu. Ngoại lệ duy nhất là đôi giày moca màu trắng. Nếu thiếu đôi giày và mái tóc thì Camusso sẽ bị lẫn với đồ nội thất và tường của khoa điều trị tích cực và biến mất như một con tắc kè hoa. “Tôi đã nói chuyện với cấp trên của cô, thanh tra De Michelis. Ông ấy đang từ Milan tới để đón cô.” “Ôi không, khỉ thật. Tại sao ông không ngăn ông ấy lại? Tôi định khởi hành vào tối nay.” “Ông ấy đã kể cho tôi một câu chuyện rất thú vị về cô.” Sandra bắt đầu lo ngại. “Có vẻ như cô đã có lý, sĩ quan Vega. Xin chúc mừng.”

Cô phân vân. “Về việc gì cơ?” “Câu chuyện về cái máy sưởi bằng gas và cacbon monoxit. Người chồng đã bắn vợ và con trai sau khi tắm, và rồi ông ta quay trở lại phòng vệ sinh và bất tỉnh, ngã đập đầu và chết.” Bản tóm tắt thật hoàn hảo, kết quả thì chưa rõ. “Bác sĩ pháp y đã chấp nhận giả thuyết của tôi?” “Không chỉ chấp nhận. Ông ta ủng hộ nó.” Sandra không thể tin nổi. Điều này sẽ không thể làm mọi chuyện trở lại như cũ. Nhưng sự thật luôn làm khuây khỏa. Như chuyện của David, cô thấy vậy. Giờ biết được kẻ nào đã giết anh, cô thấy nhẹ nhõm khi để anh ra đi. “Tất cả các khoa trong bệnh viện đều được giám sát bởi hệ thống camera an ninh, cô biết chứ?” Camusso phát biểu câu đó một cách đột ngột và Sandra rùng mình vì đã không nghĩ tới điều đó. Phiên bản về sự việc xảy ra do Monica cung cấp và sau đó được có xác nhận đang gặp nguy hiểm. Marcus cũng gặp nguy hiểm. “Các ông đã có cơ hội xem những đoạn phim đó chưa?” Ông thanh tra nhăn nhó. “Có vẻ như là hệ thống camera giám sát khu điều trị tích cực đã bị hỏng do bão trong những ngày vừa qua. Vì vậy không có hình ảnh nào ghi lại sự việc đã xảy ra. Thật không may, phải không?” Sandra cố không để lộ vẻ nhẹ nhõm. Nhưng Camusso vẫn còn điều gì đó để bổ sung: “Cô biết là bệnh viện Gemelli thuộc về Vatican chứ?”

Đó không phải một lời khẳng định vô tình, nó có một ngụ ý mà cô phớt lờ. “Tại sao ông lại nói với tôi điều đó?” Ông cảnh sát nhún vai, nhìn cô ngờ vực, nhưng ông ta từ chối đi sâu vào việc đó. “Vậy thôi, chỉ đơn giản là sự tò mò.” Trước khi ông ta quay lại chủ đề, Sandra đứng dậy khỏi ghế. “Ông có thể nhờ ai đó đưa tôi về khách sạn được không?” “Tôi sẽ đưa cô đi, ” Camusso trả lời. “Ở đây tôi không còn việc gì khác.” Sandra chuyển nỗi thất vọng thành một nụ cười vô cùng giả tạo. “Vâng nhưng trước tiên tôi muốn ghé qua một chỗ.” Ông thanh tra sở hữu một chiếc Lancia Fulvia và giữ gìn nó một cách hoàn hảo. Khi bước vào xe, Sandra cảm thấy như quay trở về thời quá khứ. Bên trong có mùi như vừa mới ra khỏi đại lý ủy quyền phân phối xe. Mưa trút xuống không ngừng nghỉ nhưng chiếc xe có vẻ sạch sẽ đến khó tin. Camusso đưa cô tới địa chỉ mà cô chỉ dẫn. Suốt chặng đường họ nghe một kênh radio chỉ đưa tin về các thành công vào thập kỷ bảy mươi. Họ đi qua phố Veneto và Sandra thấy như được quay trở lại thời đại của Cuộc sống ngọt ngào. Hành trình lỗi thời kết thúc dưới tòa nhà nơi có nhà khách của Interpol. Lúc đi lên cầu thang, Sandra đã rất hy vọng gặp lại Shalber. Cô không chắc sẽ tìm thấy ông ta ở đó, nhưng cô phải thử. Cô có hàng nghìn thứ để kể cho Shalber và trên hết, cô chờ đợi ông ta nói với mình điều gì đó. Ví dụ như ông ta vui mừng vì cô còn

sống, cho dù đã ngu ngốc để mất dấu của cô. Nếu tối hôm trước ông ta theo cô tới tận bệnh viện Gemelli thì có lẽ mọi chuyện đã khác. Xét cho cùng, Shalber chỉ muốn bảo vệ cô. Nhưng điều cô muốn nghe thấy nhất từ ông ta là sẽ tuyệt vời nếu họ gặp lại nhau trong tương lai. Họ đã ân ái cùng nhau và cô thấy ổn. Cô không muốn mất ông ta. Dù vẫn chưa thể thừa nhận, nhưng cô đang phải lòng Shalber. Tới chiếu nghỉ, cô thấy cửa phòng mở. Không hề do dự, cô bước qua ngưỡng cửa với một tia hy vọng. Cô nghe thấy những tiếng ồn phát ra từ phòng bếp và đi thẳng tới đó. Nhưng khi bước vào cô thấy một người đàn ông khác đang mặc vest màu lam, rất lịch thiệp. Cô chỉ nói được mỗi câu: “Xin chào.” Ông ta nhìn cô, ngạc nhiên về sự hiện diện của cô. “Cô không đưa chồng tới sao?” Sandra không hiểu, nhưng vội vã làm sáng tỏ sự hiểu lầm có thể có. “Sự thật là tôi đang tìm Thomas Shalber.” Người đàn ông động não. “Có thể là một người thuê nhà trước đây.” “Tôi nghĩ Shalber là một đồng nghiệp của ông. Ông không biết ông ấy sao?” “Theo tôi được biết thì bên duy nhất lo việc bán nhà là công ty của chúng tôi. Và ở chỗ chúng tôi không có ai tên như thế.” Sandra bắt đầu lờ mờ hiểu. “Ông là đại diện của công ty bất động sản?”

“Cô không thấy biển chúng tôi treo trên cửa sao?” Người đàn ông nói với một giọng điệu kiểu cách. “Căn hộ đang được rao bán.” Cô không biết nên buồn hay ngạc nhiên hơn. “Từ bao giờ vậy?” Người bán có vẻ mất phương hướng. “Hơn sáu tháng nay không có ai ở đây cả.” Cô không biết phải nói gì. Bất cứ lời giải thích nào xuất hiện trong đầu cũng không đủ sức thuyết phục. Người đàn ông lại gần cô tỏ vẻ thân thiện. “Tôi đang đợi người mua. Tuy nhiên trong lúc đó nếu cô muốn xem căn hộ…” “Không, cảm ơn, ” Sandra trả lời. “Tôi nhầm, xin lỗi ông.” Cô quay gót để trở ra nhưng nghe thấy người bán năn nỉ. “Nếu cô không thích nội thất, cô không nhất thiết phải lấy chúng. Chúng tôi có thể trừ tiền nhà.” Sandra lao xuống cầu thang, tới chỗ tầng trệt cô buộc phải tựa vào tường vì bị chóng mặt. Hai phút sau, cô ra đến đường và trở lại xe của Camusso. “Sao cô nhợt nhạt vậy? Cô muốn tôi đưa đến bệnh viện không?” “Tôi ổn.” Nhưng không phải. Cô đang giận dữ. Một trò bịp nữa của Shalber. Có lẽ nào tên cảnh sát đó đã dựng lên tất cả? Vậy thì cái đêm bên nhau ấy là sao đây? “Cô đang tìm ai trong tòa nhà đó vậy?” Ông thanh tra hỏi cô.

“Một người bạn làm việc cho Interpol. Nhưng ông ta không ở đó và tôi không biết ông ta đi đâu.” “Tôi có thể tìm người đó cho cô, nếu cô muốn. Tôi sẽ gọi điện cho đồng nghiệp tại trụ sở ở Roma, tôi biết họ rất rõ và cũng chẳng tốn công gì.” Sandra thấy cần phải tìm hiểu chân tơ kẽ tóc sự việc đó. Cô không thể trở về Milan mang theo một mối nghi ngờ. Cô phải biết liệu Shalber có cảm thấy dù là một phần rất nhỏ những gì mà cô cảm nhận hay không. “Nếu ông có thể, vì cuộc gọi đó rất quan trọng với tôi.”

B 13 giờ 55 phút runo Martini đang ẩn mình ở một cái ga-ra ô tô trong khoảng sân tòa nhà ông ta sinh sống. Ông ta đã biến nó thành một xưởng làm việc. Thú vui giết thời gian của ông là sửa chữa đồ lặt vặt. Ông sửa đồ điện gia dụng, nhưng làm cả công việc của thợ mộc và thợ cơ khí. Khi Marcus nhìn thấy ông ở phía bên kia rèm cuốn đã được kéo lên, ông đang tập trung vào động cơ của một chiếc Vespa. Bố của Alice không để ý rằng anh đang tới gần. Mưa rơi xối xả như một tấm rèm cửa và chỉ được vén lên khi Marcus tới gần. Martini quỳ sát chiếc mô tô, ngước mắt lên và nhận ra anh. “Anh còn muốn gì ở tôi?” ông ta cộc cằn hỏi. Người đàn ông to lớn cuồn cuộn cơ bắp để đối phó với những đắng cay của cuộc sống, nhưng lại bất lực trước sự mất tích của cô con gái. Tính xấu của ông ta là sự bảo vệ duy nhất để ông ta không sụp đổ. Bởi vậy Marcus không chỉ trích ông ta. “Tôi có thể nói chuyện được không?” Martini suy nghĩ một chút về điều đó. “Vào trong đi. Anh đang bị ướt rồi.”

Anh lại gần và người kia bắt đầu đứng dậy, lau tay vào bộ đồ bảo hộ đầy dầu mỡ. “Tôi đã nói chuyện với Camilla Rocca sáng nay, ” người đàn ông nói. “Cô ấy rất thất vọng vì giờ biết rằng sẽ không bao giờ tìm được công lý.” “Tôi ở đây không phải vì chuyện đó. Rất tiếc tôi không thể làm gì được cho bà ấy.” “Đôi khi không biết lại tốt hơn.” Anh ngạc nhiên khi nghe thấy Martini thốt ra câu đó. Một người bố luôn làm mọi việc để đi tìm con gái, ông đã mua một khẩu súng bất hợp pháp và thách thức chính quyền, tự biến mình thành kẻ báo thù. Anh tự hỏi liệu mình đến đây có đúng không. “Thế còn ông, ông vẫn còn muốn biết sự thật về những gì đã xảy ra với Alice chứ?” “Từ ba năm nay tôi tìm kiếm con bé cứ như thể nó còn sống, nhưng tôi lại khóc than cho nó như thể nó đã chết.” “Đó không phải câu trả lời, ” Marcus cũng nhắc lại với vẻ cay đắng đó và anh có cảm giác Martini đã nhượng bộ đôi phần. “Anh có biết không thể chết nghĩa là thế nào không? Là tiếp tục phải sống, như một người bất tử. Nhưng thử nghĩ xem, đó là hình phạt kiểu gì vậy? Dẫu thế, tôi cũng không thể chết khi chưa khám phá ra chuyện gì đã xảy đến với Alice. Và tôi phải ở đây, chịu đựng đau khổ.” “Tại sao ông lại tự làm khổ mình?” “Ba năm trước tôi có tật xấu là hút thuốc.”

Marcus không hiểu điều đó thì liên quan gì nhưng vẫn để cho ông ta nói. “Hôm ấy ở công viên, tôi đã đi ra một chỗ để hút thuốc, đúng lúc đó Alice đã biến mất. Có cả mẹ con bé, nhưng người phải để mắt tới con bé là tôi. Tôi là bố của nó, đó là nhiệm vụ của tôi. Thế mà tôi lại sao nhãng.” Với Marcus câu trả lời đó là đủ. Anh cho một tay vào túi và lấy ra tập hồ sơ Clemente đã đưa anh. c.g.294-21-12. Anh mở và lấy ra một tờ giấy. “Tôi muốn tiết lộ cho ông một việc nhưng với một điều kiện. Ông không được hỏi tôi làm thế nào tôi biết chuyện đó và cũng không bao giờ được nói rằng ông có thông tin đó từ tôi. Đồng ý chứ?” Người đàn ông nhìn anh mông lung. “Được.” Có một nốt mới trong sâu thẳm giọng nói của ông ta. Đó là niềm hy vọng. Marcus nói tiếp: “Tôi chắc chắn điều ông sắp nghe sau đây không mấy dễ chịu. Ông đã sẵn sàng chưa?” “Rồi.” Ông nói liền một hơi. Marcus cố đề cập một cách tế nhị. “Ba năm trước Alice bị một người đàn ông bắt cóc và đưa ra nước ngoài.” “Chuyện là thế nào?” “Hắn ta là một kẻ biến thái. Hắn nghĩ người vợ đã chết của mình đã đầu thai vào con gái ông. Vì thế hắn đã bắt cóc cô bé.” “Vậy thì…” Ông ta không thể tin nổi.

“Phải, cô bé còn sống.” Đôi mắt của Martini ngấn lệ, con người to lớn đó sắp sụp đổ. Marcus đưa ông ta tờ giấy anh có trong tay. “Ở đây có tất cả những thứ cần thiết để lần ra dấu vết của cô bé. Nhưng hứa với tôi, ông phải làm việc đó một mình.” “Tôi hứa.” “Ở cuối trang là số điện thoại của một chuyên gia đi tìm những người bị mất tích, đặc biệt là trẻ em. Ông hãy liên lạc với cô ấy. Cô ấy tên là Mila Vasquez, có vẻ là một cảnh sát giỏi.” Martini cầm tờ giấy và nhìn anh chăm chú, không biết nên nói gì. “Giờ tốt hơn tôi nên đi.” “Đợi đã.” Marcus dừng lại, nhưng anh nhận thấy người đàn ông không thể thốt nên lời. Ngực ông ta rung lên những tiếng nấc thầm lặng. Anh biết ông ta đang nghĩ gì, suy nghĩ đó không chỉ cho Alice. Lần đầu tiên, Marcus có thể hình dung ra một cuộc đoàn tụ gia đình. Người vợ đã bỏ đi do cách cư xử của ông ta trước vụ mất tích sẽ quay lại và cả cậu con trai. Và họ sẽ lại yêu thương nhau như ngày xưa. “Tôi không muốn Camilla Rocca biết việc này, ” Martini khẳng định. “Ít ra là chưa. Sẽ thật kinh khủng nếu biết Alice còn hy vọng sống trong khi Filippo con trai cô ấy lại không bao giờ trở về nữa.”

“Tôi không có ý định để bà ấy biết. Dẫu sao người phụ nữ đó vẫn luôn có gia đình ở bên.” Martini ngước đầu lên và nhìn anh ngạc nhiên. “Gia đình nào cơ? Chồng cô ấy đã bỏ cô ấy hai năm trước và tái hôn với một người khác, họ thậm chí đã có con. Vì thế tôi và cô ấy đã gắn bó với nhau.” Bất giác, Marcus nhớ lại mẩu giấy anh đã thấy ở nhà của Camilla, nó được gắn trên tủ lạnh bằng một miếng nam châm hình con cua. Hẹn gặp em sau mười ngày nữa. Yêu em. Ai biết được nó đã ở đó bao lâu rồi. Nhưng còn một việc khác làm anh lo lắng, dù chưa biết đó là gì. “Tôi phải đi, ” anh nói với Martini. Và trước khi người đàn ông kịp cảm ơn, anh quay lưng và một lần nữa băng qua tấm rèm mưa. Anh mất gần hai tiếng để tới được Ostia do giao thông đình trệ vì mưa giông. Chiếc xe khách thả anh ở trước một đảo giao thông gần đường ven biển, từ đó anh đi bộ tiếp. Xe của Camilla Rocca không đậu trong hẻm. Nhưng Marcus nán lại một chút dưới cơn bão quan sát ngôi nhà để chắc chắn ở đó không có ai. Rồi anh tiến tới cổng và lại đột nhập vào bên trong. Không có gì thay đổi so với chuyến viếng thăm ngày hôm trước. Nội thất theo phong cách hàng hải, cát lạo xạo dưới đế giày. Nhưng bồn rửa trong bếp không được đóng cẩn thận và

đang rỏ nước. Những giọt nước rơi vào im lặng, hòa lẫn tiếng mưa đang xối xả bên ngoài. Anh bước về phía phòng ngủ. Trên những chiếc gối vẫn là hai bộ pijama. Anh không nhầm, anh nhớ rất rõ. Một của nữ, một của nam. Những đồ trang trí và các vật dụng khác đều ngăn nắp. Lần đầu ở đó, anh đã nghĩ rằng sự chính xác ấy có thể là kiểu trốn tránh khỏi nỗi sợ hãi, khỏi đống hỗn loạn mà vụ mất tích của cậu con trai đã để lại. Tất cả có vẻ đang ở đúng chỗ của nó, tất cả đều hoàn hảo. Những dấu hiệu bất thường, anh tự nhủ và nhắc lại điều gì mình sẽ phải tìm kiếm. Tấm ảnh tươi cười của Filippo đang quan sát anh từ tủ ngăn kéo, và Marcus cảm thấy được chỉ dẫn. Trên tủ đầu giường, ở phía Camilla nằm, có thiết bị giám sát trẻ nhỏ mà hẳn người phụ nữ dùng để trông chừng giấc ngủ của đứa con mới sinh. Và điều này làm anh nhớ tới căn phòng kế bên. Anh bước qua ngưỡng cửa của căn phòng từng một thời là phòng riêng của Filippo, giờ đã được chia thành hai phần bằng nhau. Phần anh quan tâm có một cái tủ mini, một núi thú nhồi bông và một cái cũi. Đứa trẻ mà anh tin là đang tồn tại hiện ở đâu? Mánh khóe nào ẩn giấu sau vụ dàn dựng này? Anh nhớ lại lời nói của Bruno Martini: “Chồng cô ấy đã bỏ cô ấy hai năm trước và tái hôn với một người khác, họ thậm chí đã có con.” Camilla buộc phải chịu thêm một nỗi đau nữa. Người đàn ông bà ấy chọn yêu đã ruồng bỏ bà. Nhưng sự phản bội không

nằm việc ông ta có người phụ nữ khác, mà ở chỗ đứa con mà người phụ nữ kia đã trao tặng. Một kẻ thế chỗ của Filippo. Bản án thực sự không phải là việc mất con, anh nghĩ. Mà là cuộc sống vẫn tiếp diễn bất chấp chuyện đó. Và Camilla Rocca không muốn từ bỏ công việc làm mẹ. Ngay khi hiểu ra sự thật, Marcus nhận ra dấu hiệu bất thường. Lần này không phải là một sự hiện diện. Có lẽ, thứ gì đó đã vắng mặt. Bên cạnh chiếc cũi thiếu thiết bị giám sát trẻ nhỏ thứ hai. Nếu bộ nhận tín hiệu ở trong phòng của Camilla thì bộ phát đang ở đâu? Marcus quay trở lại và ngồi lên chiếc giường đôi, cạnh tủ đầu giường. Anh với một tay về phía cái nút điều khiển thiết bị. Anh bật nó lên. Một tiếng lạo xạo đều đặn và liên tục. Âm thanh đó là một giọng nói khó hiểu của bóng tối. Marcus áp tai lại gần, cố giải mã thứ gì đó. Chẳng có gì. Anh vặn âm thanh to hết cỡ. Tiếng ồn xâm chiếm căn phòng. Anh ở yên đó chờ đợi, cảnh giác. Thời gian trôi qua và anh đang dò đáy sâu của một biển tiếng lao xao, tìm kiếm một thay đổi nhỏ nhất, một dấu hiệu mang màu sắc khác so với những thứ còn lại. Rồi anh nghe thấy nó. Có một thứ gì đó ở dưới cùng của lớp bụi màu xám từ loa phát ra. Một âm thanh khác. Có nhịp điệu. Không phải nhân tạo, mà là sống động. Một hơi thở.

Marcus tóm lấy thiết bị giám sát trẻ, cầm nó trong tay, anh bắt đầu di chuyển trong ngôi nhà tìm kiếm nguồn phát tín hiệu. Nó không thể ở xa, anh tự nhủ. Những thiết bị này chỉ phủ sóng trong tầm vài mét. Vậy thì nó ở đâu? Anh mở tất cả cửa, kiểm tra những căn phòng. Khi tới trước lối cửa hậu, qua tấm lưới chống muỗi, anh nhìn thấy hình ảnh lờ mờ của một khu vườn bỏ hoang và một nhà chứa dụng cụ. Anh ra phía sau và điều đầu tiên anh để ý thấy là những nhà hàng xóm ở khá xa còn ngôi nhà được bao quanh bởi những cây thông cao như thể một bức bình phong. Chỗ này thật hoàn hảo. Anh bước dọc theo một lối đi rải sỏi để tới cái nhà bằng kim loại. Những bước chân hằn lên nền sỏi ẩm ướt, mưa quất vào anh liên hồi, gió ngược chiều tấn công, cứ như thể những thế lực bóng tối đang cố tìm cách bắt anh phải thoái lui. Nhưng anh đã đến đích. Cánh cửa bị khóa bằng một ổ khóa nặng trịch. Marcus nhìn quanh và ngay lập tức tìm thấy thứ anh cần: một thanh sắt cắm trong đất để làm cọc cho hệ thống tưới tiêu. Anh đặt thiết bị giám sát trẻ nhỏ xuống, tóm lấy thanh sắt bằng cả hai tay và dùng một lực rất mạnh để kéo nó lên. Rồi anh trở lại chỗ ổ khóa và bắt đầu quật vào nó một cách quyết đoán nhưng cũng giận dữ. Cuối cùng, anh đã chiến thắng. Móc khóa bật tung và cửa hé ra vài centimet. Marcus chỉ chờ có thể để mở toang nó ra. Ánh sáng mốc meo của ban ngày xâm lấn ít mét vuông, làm lộ ra một thảm rác và một cái máy sưởi nhỏ bằng điện. Thiết bị

giám sát thứ hai ở gần một cái đệm bị quẳng dưới đất và bên trên là một đống giẻ… nhưng lại động đậy. “Lara…” anh gọi, và chờ đợi rất lâu nhưng câu trả lời không tới. “Lara?” Anh nhắc lại, lớn tiếng hơn. “Vâng, ” một giọng hoài nghi đáp. Marcus lao về phía cô. Cô ấy đang cuộn mình dưới lớp chăn dơ dáy. Cô ấy yếu ớt, bẩn thỉu, nhưng còn sống. “Cô yên tâm, tôi tới đây để cứu cô.” “Cứu tôi với, xin anh đấy, ” cô vừa khóc vừa cầu xin mà không nhận ra anh đã đang cứu mình. Cô ấy tiếp tục lặp lại câu nói đó ngay cả khi Marcus đỡ tay cô, khi anh cùng cô đi ra dưới trời mưa, khi họ băng qua con đường rải sỏi, cho đến khi họ cùng nhau bước qua ngưỡng cửa của ngôi biệt thự nhỏ và Marcus khựng lại. Ở hành lang là Camilla Rocca, người ướt sũng. Trong tay là chùm chìa khóa và túi đi chợ. Bà nhân viên bảo trợ xã hội đứng bất động. “Ông ta đã bắt cô ấy cho tôi. Ông ta nói rằng tôi có thể giữ đứa con của cô ấy.” Marcus hiểu bà ta đang nói tới Jeremiah Smith. Người phụ nữ trân trân nhìn anh rồi lại nhìn Lara. “Cô ấy không muốn có nó.” Cái ác được sản sinh sẽ sản sinh ra cái ác khác, đó là những lời của Jeremiah. Camilla đã nhận từ cuộc đời một sự trớ trêu. Nhưng thứ bà ta phải chịu đựng lại biến bà ta thành chính nó. Bà ta đã chấp nhận món quà của một con quỷ. Marcus cũng

hiểu được tại sao người phụ nữ đó có thể qua mặt được anh. Bà ta đã tự tạo ra một thế giới song song mà mình cho là có thực. Bà ta chân thành, không đóng kịch. Anh bước tiếp và tới bên bà ta với Lara trong tay. Phớt lờ Camilla, anh lấy từ tay bà chùm chìa khóa xe ô tô. Camilla đứng đó quan sát họ, rồi ngã khuỵu xuống sàn. Bà ta thều thào độc thoại, nhắc đi nhắc lại không dứt chỉ một câu duy nhất. “Cô ấy không muốn có nó.”

T 22 giờ 30 phút hanh tra De Michelis nhét những đồng xu vào một cái máy bán cà phê tự động. Sandra bị thôi miên bởi sự chính xác trong thao tác của ông. Cô không hình dung nổi mình trở lại bệnh viện Gemelli sớm như thế. Cuộc gọi của Camusso đến vào một giờ trước, trong khi cô đang vội vã thu dọn hành lý để rời khách sạn và lên tàu về Milan cùng với ông sếp của mình, người vừa đến đón cô. Thoạt tiên, cô nghĩ ông thanh tra sẽ có thông tin về Shalber nhưng sau khi đảm bảo với cô rằng Interpol đang phụ trách việc đó, ông thông báo về bước ngoặt cuối cùng trong vụ án của Jeremiah Smith. Vậy là cô và De Michelis đã lao ngay vào bệnh viện để tận mắt kiểm chứng xem mọi việc có thật không. Lara còn sống. Phát hiện đó tới trong hoàn cảnh không mấy rõ ràng. Cô sinh viên kiến trúc được tìm thấy trong một chiếc xe ô tô rẻ tiền bị bỏ lại ở một bãi đỗ của một trung tâm thương mại gần cửa ngõ Roma. Cảnh sát nhận được tin tố giác dưới dạng nặc danh, qua một cú điện thoại. Thông tin vẫn còn vụn vặt và không lọt được qua cánh cửa phòng cấp cứu nơi Lara hiện đang được giữ lại để kiểm tra.

Sandra chỉ biết rằng thanh tra Camusso đã đưa người tới thi hành lệnh bắt giữ ở Ostia, vì Lara đã dẫn họ tới hướng đó, hơn nữa trên giấy tờ của chiếc xe nghi vấn cũng có ghi địa chỉ của một công dân ở khu vực ven biển. Cô tự hỏi Jeremiah Smith dính líu tới vụ đó như thế nào, nhưng trên hết cô chắc chắn rằng Marcus chính là người đứng sau phá án. Phải, chính là anh ấy, cô nhắc lại. Cô gái chắc chắn sẽ nói tới một người giải cứu có vết sẹo trên thái dương và ai biết được liệu những nhân viên điều tra có tìm ra vị linh mục ân giải. Cô hy vọng điều đó sẽ không xảy ra. Ngay khi tin tức về vụ giải thoát lan ra, giới truyền thông sẽ tấn công bệnh viện. Những nhà báo, thợ quay phim, chụp ảnh sẽ ẩn nấp trong công viên đối diện. Bố mẹ của Lara vẫn còn chưa đến vì chuyến đi từ miền Nam lên sẽ mất thời gian. Trong khi ấy bạn bè cô đã bắt đầu bất ngờ xuất hiện từng ít một để chắc chắn về tình trạng của cô. Trong số họ, Sandra nhận ra Christian Lorieri, trợ giảng môn Lịch sử Nghệ thuật và cũng chính là bố của đứa trẻ mà Lara đang mang trong bụng. Họ trao nhau một cái nhìn chóng vánh nhưng có ý nghĩa hơn ngàn lời nói. Nếu ông ta ở đó chứng tỏ cuộc nói chuyện của họ ở trường đã có ích. Cho tới lúc đó mới chỉ có một báo cáo y tế được công bố. Nó thông báo sơ sài rằng tình trạng sức khỏe của cô sinh viên khá tốt và bất chấp sự căng thẳng phải chịu đựng, cái thai vẫn mạnh khỏe.

De Michelis lại gần Sandra, ông đang thổi nguội một cái cốc nhựa. “Cô có nghĩ là tới lúc này cô nên giải thích điều gì cho tôi không?” “Ông có lý, nhưng tôi báo trước là một cốc cà phê với ông là không đủ đâu đấy.” “Đằng nào thì trước sáng mai chúng ta cũng không thể khởi hành. Tôi nghĩ có khi chúng ta phải qua đêm ở đây.” Sandra cầm lấy tay ông. “Tôi muốn nói chuyện với ông như bạn bè và để cảnh sát ra ngoài câu chuyện này. Ông thấy được chứ?” “Sao thế, cô không thích cảnh sát nữa à?” Ông mỉa mai. Nhưng thấy Sandra nghiêm nghị, ông đổi giọng. “Tôi đã không ở bên cô khi David ra đi. Điều tối thiểu tôi có thể làm lúc này là lắng nghe cô.” Trong hai giờ sau đó, Sandra đã kể lại mọi chuyện cho người đàn ông mà cô luôn coi như một hình mẫu về đạo đức liêm chính. De Michelis để cho cô nói và chỉ ngắt lời khi cần sự giải thích. Kể xong, cô cảm thấy rất nhẹ nhõm. “Cô nói là những linh mục ân giải?” “Vâng, ” cô xác nhận. “Chẳng lẽ ông lại chưa bao giờ nghe nói tới họ?” De Michelis nhún vai. “Với cái nghề này tôi đã thấy nhiều chuyện đến nỗi giờ chẳng có gì làm tôi ngạc nhiên. Cũng có những trường hợp được giải quyết thông qua tố giác hay vì lý do may mắn và không có lời giải thích. Nhưng tôi chưa bao giờ

liên hệ sự việc với ai đó đang điều tra song song với cảnh sát. Tôi là một người theo đạo, cô biết rồi đó. Tôi thấy hay khi nghĩ rằng có thứ gì đó phi lý và cũng rất tuyệt vời mà tôi có thể trông cậy vào khi không thể chịu nổi sự tàn ác mà tôi chứng kiến mỗi ngày.” De Michelis vuốt nhẹ cô như Marcus đã làm trước khi biến mất khỏi phòng hồi sức và khỏi cuộc đời của cô. Qua bờ vai của ông thanh tra, Sandra thấy có hai người đàn ông mặc áo khoác và thắt cà vạt đang hỏi thăm một cảnh sát, người này đã chỉ về phía họ. Hai người kia tiến lại gần. “Cô là Sandra Vega?” Một người trong số họ hỏi. “Tôi đây, ” cô xác nhận. “Chúng ta có thể nói chuyện một lát được không?” Người kia hỏi. “Dĩ nhiên.” Họ để cô hiểu rằng nội dung cuộc nói chuyện là bí mật và trong khi cả ba đi ra đứng một chỗ, họ đưa cô xem thẻ ngành. “Chúng tôi ở Interpol.” “Có chuyện gì vậy?” Người lớn tuổi hơn nói. “Trưa hôm nay thanh tra Camusso gọi cho chúng tôi để hỏi thông tin về một người của chúng tôi và nói rằng cô cần biết. Tên của ông ấy là Thomas Shalber. Cô xác nhận với chúng tôi là cô biết ông ấy chứ?” “Vâng.” “Cô nhìn thấy ông ấy lần cuối là khi nào?”

“Hôm qua.” Hai người họ nhìn nhau. Rồi người trẻ hơn hỏi cô: “Cô chắc chứ?” Sandra bắt đầu mất kiên nhẫn. “Tất nhiên là tôi chắc chắn rồi.” “Đây là người đàn ông cô đã gặp?” Họ đưa cho cô xem một tấm ảnh thẻ và Sandra nhướng mắt để nhìn nó kỹ hơn. “Dù khá giống nhau, nhưng tôi không biết người đàn ông này là ai.” Hai người họ lại nhìn nhau, và lần này tỏ vẻ lo lắng. “Cô có sẵn sàng miêu tả lại người mà cô thấy cho một chuyên gia về nhận dạng của chúng tôi được không?” Sandra đã quá ngán ngẩm, cô muốn biết chuyện gì đang diễn ra. “Được thôi. Ai trong số các anh nói cho tôi biết chuyện xảy ra là gì vậy? Vì có vẻ tôi đã bỏ sót điều gì đó.” Người trẻ hơn nhìn người lớn tuổi tìm kiếm sự đồng thuận. Sau đó, anh ta bắt đầu nói. “Lần cuối cùng Thomas Shalber liên lạc với chúng tôi, ông ấy đã phải ngụy trang để điều tra một vụ.” "Tại sao anh nói là đã?" “Vì ông ấy đã bốc hơi được hơn một năm nay, chúng tôi không biết gì về ông ấy.” Tin đó làm cô bàng hoàng. Sandra không biết phải nghĩ gì. “Xin lỗi, nếu người trong ảnh là đồng nghiệp của các anh và các anh không biết ông ta biến đi đâu, vậy thì tôi đã gặp ai?”

Một năm trước

L Pripjat ũ sói gọi nhau trên những ngả đường hoang vắng, tru tréo tên nhau lên nền trời tối đen. Chúng giờ là những chủ nhân của Pripjat. Gã thợ săn có thể nghe thấy chúng trong lúc gã đang ở chiếu nghỉ tầng mười một của tòa nhà 109, tìm cách phá cửa căn hộ của Anatolij Petrov. Lũ sói biết kẻ đột nhập vẫn chưa rời khỏi thành phố, và giờ chúng đang tìm kiếm gã. Gã không thể bỏ đi trước khi mặt trời mọc. Đôi bàn tay gã tê cóng vì giá lạnh và không thể thắng nổi cái ổ khóa. Nhưng cuối cùng gã đã mở được. Căn hộ có cùng diện tích với căn hộ kề bên. Mọi thứ vẫn y nguyên. Những cửa kính được đóng kín bằng giẻ và băng dính cách điện để bịt những khe hở. Anatolij đã thực hiện ngay những hành động thận trọng đó sau sự cố hạt nhân để ngăn chặn phóng xạ xâm nhập. Gã thợ săn nhìn thấy tấm thẻ có ảnh của anh ta trên bộ đồng phục của nhà máy điện treo ở lối vào. Anh ta khoảng ba mươi lăm tuổi. Tóc thẳng và vàng, mái xõa xuống trán. Dưới cặp kính

cận gọng lớn là đôi mắt vô hồn màu xanh da trời. Đôi môi mỏng có phủ một lớp lông tơ sáng màu. Công việc của anh ta là kỹ thuật viên turbine. Gã thợ săn nhìn xung quanh. Nội thất khiêm tốn. Trong phòng khách có một chiếc sofa bằng nhung hoa và một chiếc tivi. Trong một góc có kê hai tủ kính trống rỗng. Một tủ sách che khuất một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 59

Đang tải bình luận...