Tòa Án Linh Hồn

phần của bức tường. Gã thợ săn lại gần để ngó

phần của bức tường. Gã thợ săn lại gần để ngó

phần của bức tường. Gã thợ săn lại gần để ngó gáy sách. Có sách về động vật học, nhân chủng học và rất nhiều về phong tục học. Đó là của những tác giả như Darwin, Lorenz, Morris và Dawkins. Những nghiên cứu về kiến thức các loài, về điều kiện môi trường của các loài và những chuyên luận về mối quan hệ giữa bản năng và những yếu tố kích thích từ bên ngoài. Các cuốn sách không liên quan gì đến công việc của một kỹ thuật viên turbine. Ở phía dưới là những quyển sổ ghi chép – có khoảng hai mươi quyển – tất cả được đánh số. Gã thợ săn không biết nên nghĩ gì. Nhưng kết luận quan trọng nhất là Anatolij Petrov sống một mình. Không thấy có dấu hiệu của một gia đình. Cũng như của một đứa trẻ. Gã thất vọng trong giây lát. Giờ gã buộc phải ở lại đây cả đêm. Gã không thể nhóm lửa vì sự đốt cháy có thể làm gia tăng ảnh hưởng của phóng xạ. Gã không mang theo thức ăn, chỉ có mỗi nước uống. Gã sẽ phải tìm chăn và một vài hộp thức ăn. Trong khi tìm kiếm, gã nhận thấy tủ quần áo trong phòng ngủ thiếu đồ và những cái kệ trong tủ bếp cũng trống trơn. Tất cả cho thấy Anatolij đã chuẩn bị sẵn sàng rời khỏi Pripjat ngay sau sự cố ở lò phản ứng Chernobyl, nhưng trước cuộc sơ tán trên

diện rộng. Anh ta không bỏ lại tất cả một cách vội vã như những người khác. Có thể anh ta không tin vào những trấn an của nhà chức trách – ngay khi thảm họa xảy ra họ nhắc nhở người dân phải ở yên trong nhà. Gã thợ săn chuẩn bị một chỗ ngủ tạm trong phòng khách, với gối trên sofa và một vài cái chăn lông. Gã nghĩ sẽ cần thêm một ít nước mang theo để rửa mặt và tay, hay ít ra cũng gột được chút bụi phóng xạ. Gã rút từ trong túi chiếc bi đông nước và tuột ra cùng nó là con thỏ bằng vải từng thuộc về Dima giả. Gã đặt nó cạnh máy đếm Geiger và chiếc đèn pin, để nó bầu bạn cùng gã trong tình cảnh nghịch lý đó. Gã mỉm cười. “Có lẽ cậu có thể giúp tôi một tay, cậu bạn già của tôi.” Con rối chỉ nhìn gã với một con mắt duy nhất. Và gã thợ săn thấy mình thật ngu ngốc. Vô tình gã hướng mắt về phía dãy sổ ghi chép trong tủ sách. Gã lấy một quyển bất kỳ – số 6 – và mang nó về chỗ ngủ, định lướt qua. Nó không có nhan đề và được viết tay. Những chữ Kirin có đường nét chính xác và ngay ngắn. Gã đọc trang đầu tiên. Đó là một quyển nhật ký. 14 tháng Hai Tôi có ý định làm lại thí nghiệm số 68, nhưng lần này tôi thay đổi một cách đáng kể phương pháp tiếp cận. Mục đích là để chứng minh rằng điều kiện môi trường có ảnh hưởng tới hành vi, làm đảo lộn quá trình in dấu hệ gen. Với

mục đích này, hôm nay ở chợ tôi đã mua hai mẫu thỏ trắng… Gã thợ săn đột ngột ngước mắt lên con thỏ bằng vải. Đó là một sự trùng hợp lạ lùng. Và gã chưa bao giờ thích những sự trùng hợp. 22 tháng Hai Hai mẫu thỏ được nuôi riêng và chúng đã đủ lớn. Hôm nay tôi sẽ thay đổi thói quen của một trong hai con… Gã thợ săn nhìn những tủ kính trong phòng. Đó là nơi Anatolij Petrov nhốt những vật thí nghiệm của mình. Phòng khách là một loại trại nuôi động vật. 5 tháng Ba Sự thiếu thốn thức ăn và việc sử dụng điện cực làm một trong hai con thỏ trở nên hung dữ hơn. Bản chất hiền hòa của nó đang dần chuyển thành một bản năng nguyên thủy… Gã thợ săn không hiểu. Anatolij đang tìm cách chứng minh điều gì? Tại sao anh ta lại phải cống hiến quên mình cho hoạt động đó? 12 tháng Ba

Tôi đã cho hai mẫu thí nghiệm ở chung trong một cái tủ. Cơn đói và sự hung dữ do ép buộc đã phát huy tác dụng. Một con đã tấn công con kia, làm nó bị thương đến chết… Kinh hãi, gã thợ săn bật dậy khỏi chỗ ngủ và đi ra tủ sách lấy những quyển sổ khác. Một vài quyển có cả ảnh cùng những chú giải tỉ mỉ. Những con vật thí nghiệm bị buộc phải học các hành vi không thuộc bản chất của chúng. Tất cả diễn ra khi chúng bị bỏ đói và bỏ khát trong thời gian dài, hoặc bị nhốt vào chỗ tối hay quá sáng, hoặc bị kích động bằng những luồng điện nhẹ hay bị cho uống những loại thuốc làm rối loạn nhân cách. Trong mắt chúng người ta nhìn thấy sự kinh hoàng pha với điên loạn. Lần nào thí nghiệm cũng có kết cục tàn ác, vì một trong số những vật mẫu giết con còn lại, hoặc chính Anatolij tiêu diệt cả hai. Gã thợ săn nhận thấy quyển sổ cuối cùng – số 9 – báo hiệu vẫn còn những quyển tiếp theo nhưng chúng lại không có trong tủ sách. Có thể Anatolij Petrov đã mang chúng theo và bỏ lại những quyển kia không đáng giá bằng. Có một ghi chép bằng bút chì ở trang cuối cùng đặc biệt thu hút sự chú ý của gã. … Tất cả những cá thể sống trong tự nhiên đều giết chóc. Nhưng chỉ có con người làm việc đó không chỉ vì nhu cầu mà còn vì tính ác dâm đơn thuần, đó là thú vui được gieo rắc sự đau khổ. Lòng tốt và sự độc ác không chỉ là

những phạm trù đạo đức. Trong những năm qua tôi đã chứng minh rằng người ta có thể nuôi cấy một sự điên cuồng giết chóc trong bất cứ loài vật nào và xóa bỏ đặc tính di truyền loài của chúng. Tại sao con người phải là ngoại lệ?… Đọc những lời lẽ đó, gã thợ săn thấy ớn lạnh. Đột nhiên ánh mắt nài nỉ của con thỏ bằng vải làm gã khó chịu. Gã với tay để di chuyển nó và bất ngờ quệt phải cái bi đông làm sánh nước xuống sàn. Đang định dựng nó lên, gã nhận thấy chất lỏng thấm vào miếng ốp chân tường dưới chỗ tủ sách. Gã thợ săn đổ một chút nước nữa. Cả chỗ chất lỏng này cũng biến mất. Gã quan sát bức tường và ước lượng tỷ lệ của căn phòng, cho đến khi phán đoán ra rằng phía sau cái tủ có thứ gì đó, có lẽ là một khoảng trống. Hơn nữa, gã nhận thấy trên lớp gạch phía trước tủ sách có một vết xước hình tròn. Gã cúi xuống để kiểm tra từ cự ly gần. Chống hai tay lên tường, gã thổi dọc theo cái rãnh làm bay lớp bụi chồng chất trong nhiều năm. Xong việc, gã đứng lên và quan sát. Một hình cung 180 độ hoàn hảo hiện ra. Tủ sách là một cánh cửa và khi liên tục được sử dụng, nó tạo ra dấu hiệu đó trên mặt đất. Gã tóm lấy một ngăn bất kỳ và kéo về phía mình để mở. Quá nặng. Gã quyết định lôi sách ra. Gã mất vài phút để đặt chúng xuống sàn. Rồi gã thử lại và bắt đầu thấy tủ sách xoay trên bản lề. Một lát sau, gã đã mở được.

Phía sau lộ ra một cánh cửa nhỏ thứ hai được khóa bằng hai cái chốt. Ở chính giữa có một con mắt thần, sát đó là một cái công tắc nhưng nếu không có điện thì cũng chẳng có ích gì. Gã thợ săn không ngần ngại nheo mắt nhìn thử vào bên trong. Gã quyết định mở cả cánh cửa đó. Gã mất một lúc để vặn hai cái chốt vì thép đã bị oxy hóa theo thời gian. Cửa mở và trước mắt gã hiện ra một lối đi tối om. Mùi hôi thối buộc gã phải chùn bước. Rồi, một tay bịt mũi, một tay lấy đèn pin, gã tiến vào cái hốc. Nó rộng khoảng hai mét vuông, trần cao tầm một mét rưỡi. Phần bên trong cánh cửa hẹp và những bức tường được phủ một loại vật liệu mềm, sẫm màu, tương tự như xốp dùng để cách âm phòng. Có một cái bóng đèn công suất thấp trong một cái chụp lưới bằng kim loại. Ở một góc thoáng thấy hai cái bát. Lớp phủ tường đầy những vết xước, cứ như thế ở đó cầm tù một con vật. Luồng sáng của đèn pin chiếu rõ thứ gì đó lấp lánh ở cuối phòng giam ấy. Gã thợ săn rướn người về phía trước, với lấy một vật nhỏ và kiểm tra nó. Một cái vòng tay bằng nhựa màu xanh da trời. Không, ở đây không có con vật nào cả, gã kinh hãi nghĩ. Trên đó có khắc một dòng chữ Kirin. BỆNH VIỆN CÔNG LẬP KIEV. KHOA SẢN.

Gã thợ săn đứng dậy, không thể nán lại trong phòng. Gã thấy buồn nôn và lao vội ra hành lang. Trong bóng tối, gã dựa vào một bức tường, sợ mình sẽ ngất xỉu. Gã cố tự trấn an và cuối cùng cũng lấy lại nhịp thở. Cùng lúc đó trong đầu gã đã manh nha một lời giải thích. Gã thấy ghê tởm khi tất cả việc này xuất phát từ một động cơ rõ ràng và có lý. Thế nhưng hắn đã hiểu. Anatolij Petrov không phải là một nhà khoa học. Hắn là một tên ác dâm bệnh hoạn, một kẻ biến thái. Trong thí nghiệm của hắn che giấu một nỗi ám ảnh. Như bọn trẻ con dùng đá để giết một con thằn lằn. Hành động của chúng thực tế không chỉ là một trò chơi. Có một sự tò mò lạ lùng đẩy chúng về phía cái chết bất đắc kì tử. Chúng không biết điều đó, nhưng chúng đang lần đầu trải nghiệm thú vui của sự độc ác. Chúng biết rõ là đã cướp đi sinh mạng của một con vật vô ích, và cũng chẳng ai sẽ rầy la chúng. Nhưng Anatolij Petrov hẳn đã sớm chán ngấy mấy con thỏ. Vì thế hắn đã bắt cóc một đứa trẻ sơ sinh. Hắn nuôi đứa bé trong sự độc ác, dùng nó như một vật thí nghiệm. Trong hàng năm trời hắn cho nó nếm trải mọi thử thách để định hình tính cách của nó. Hắn đã kích thích trong nó bản năng giết người. Người ta sinh ra hay được nuôi dưỡng thành người tốt hay kẻ xấu? Đó là câu hỏi mà hắn tìm kiếm câu trả lời. Vậy ra kẻ biến hình là đây. Kết quả của một thí nghiệm. Khi xảy ra vụ nổ lò phản ứng của nhà máy điện, Anatolij đã vội vã rời khỏi thành phố. Hắn ta là một kỹ thuật viên turbine

và hắn biết tình huống nghiêm trọng đến mức nào. Nhưng hắn không thể mang theo đứa trẻ đó. Có thể hắn định giết đứa trẻ, gã thợ săn suy đoán. Nhưng rồi thứ gì đó đã làm hắn thay đổi kế hoạch. Có lẽ là ý tưởng rằng tạo vật của hắn từ lúc đó có thể thử sức với thế giới. Nếu nó sống sót, đó sẽ là thành công thực sự của hắn. Vì thế hắn quyết định trả tự do cho vật thí nghiệm giờ đã là một đứa trẻ tám tuổi. Đứa bé đã lang thang trong nhà, rồi tìm được nơi nương náu ở chỗ những người hàng xóm không biết nó là ai. Và có một điều mà Anatolij Petrov không dự tính trước: Hắn quên không cho đứa trẻ một danh tính. Công cuộc đi tìm hiểu xem mình thực sự là ai của kẻ biến hình bắt đầu với Dima và còn tiếp diễn. Gã thợ săn lại phải đối mặt với một cảm giác kinh hoàng. Con mồi của gã không hề có sự thấu cảm, nó đã bị tước bỏ tất cả những cảm xúc cơ bản nhất của con người. Khả năng học hỏi của nó rất tuyệt vời. Nhưng xét cho cùng, nó chỉ là một tờ giấy trắng, một cái vỏ rỗng, một cái gương vô dụng. Người dẫn đường duy nhất của nó là bản năng. Nhà tù phía sau tủ sách – nơi chẳng ai nhận ra, trong một căn hộ được bao quanh bởi những căn y hệt, tại một tòa nhà đông người – là tổ ấm đầu tiên của nó. Trong khi nghĩ ngợi, gã thợ săn nhìn xuống. Thị giác của gã đã quen với bóng tối của hành lang và giờ gã có thể nhận ra những vết sẫm màu trên sàn, gần cửa ra vào.

Cả lần này cũng có máu trên mặt đất. Những giọt nhỏ. Gã thợ săn cúi xuống để sờ chúng, như ở trại trẻ mồ côi của Kiev hay ở Paris. Nhưng lần này máu còn tươi.

Hôm nay

Trong lúc ở khách sạn hoàn tất việc đóng gói hành lý mà hôm trước còn dở dang, Sandra nghĩ lại chuyện tối hôm đó với gã đàn ông đã làm cô tin là Thomas Shalber, trong ngôi nhà mà cô cho là nhà khách của Interpol. Nghĩ tới bữa tối mà hắn đã chuẩn bị cho cô, tới những tâm sự hai người chia sẻ cùng nhau. Bao gồm cả tấm ảnh cô bé mà hắn tuyên bố là con gái mình – Maria – người mà hắn không thể thường xuyên gặp mặt như mong ước. Mọi chuyện với cô có vẻ… chân thực. Trước sự xuất hiện của hai nhân viên thật của Interpol, cô tự đặt câu hỏi người cô thực sự gặp trong những ngày đó là ai. Những thắc mắc đang treo lơ lửng trong đầu cô lúc này lại khác. Mình đã ân ái cùng ai tối hôm đó? Thật khó chịu khi không có được câu trả lời. Người đàn ông đó đã len lỏi vào cuộc sống của co dưới nhiều vai diễn. Thoạt đầu, hắn chỉ là một giọng nói gắt gỏng trên điện thoại muốn thuyết phục cô nghi ngờ chồng mình. Sau đó hắn lại đóng vai người hùng cứu mạng cô, kéo cô thoát khỏi loạt bắn của tay súng trong gang tấc. Rồi hắn giúp đỡ cố, tìm cách quyến rũ để

chiếm lòng tin của cô. Và thế là hắn đã lừa được cô và chiếm hữu những tấm ảnh của chiếc Leica. Jeremiah Smith xác nhận rằng David đã tìm thấy kho dữ liệu bí mật của giáo đoàn ân giải. Vì thế hắn buộc phải giết anh. Cả Shalber giả mạo cũng đang tìm kiếm kho dữ liệu? Có lẽ hắn phải đầu hàng trước tấm ảnh tối om có thể chứa đựng lời giải đáp nhưng hình ảnh lại không xuất hiện. Tới lúc này thì đúng như Sandra lo ngại, hắn đang cố sức lật mặt Marcus, cũng bởi vì bức ảnh mà David chụp linh mục ân giải là chỗ bấu víu duy nhất mà hắn có. Nhưng rồi hắn xuất hiện trở lại ở nhà thờ Thánh Maria sopra Minerva, trước gian thờ Thánh Raimondo di Peñafort, chỉ muốn giải thích cho cô tại sao hắn lại hành động như vậy để rồi tiếp tục biến mất. Xét cho cùng, hắn cũng có thể không cần làm việc đó. Vậy thì vì mục đích gì? Càng cố gắng tìm kiếm một logic liên kết những sự kiện đó, cô càng không hiểu nổi ý nghĩa của mỗi hành động. Cô không biết nên coi hắn là bạn hay là thù. Tốt hay xấu? David, cô tự nhủ. Không biết anh ấy có hiểu người mà mình đã giao thiệp là ai không. Anh ấy có số điện thoại của hắn, chính anh đã cung cấp cho cô những con số còn thiếu qua tấm ảnh chụp bằng chiếc Leica trước gương trong căn phòng đó. Chồng cô không mấy tin tưởng để giao những manh mối cho

người đàn ông đó, nhưng anh vẫn muốn cô gặp hắn. Tại sao vậy? Sandra suy nghĩ và những phân vân mới lại xuất hiện. Cô bỏ dở cái vali trong giây lát và ngồi lên giường để suy nghĩ. Mình đã sai lầm ở đâu nhỉ? Cô muốn quên thật nhanh tất cả câu chuyện đó, và cô sẽ phải làm vậy để không phá hủy kế hoạch về một cuộc sống mới của mình. Nhưng cô biết sẽ không thể chung sống với những nghi vấn đó. Cô sẽ phát điên lên mất. David là câu trả lời, cô chắc chắn vậy. Vì sao chồng cô lại đâm đầu vào vụ đó? Anh ấy là một phóng viên ảnh có tài, nhưng câu chuyện đó có vẻ như chẳng có gì liên quan đến anh. Anh là người Do Thái và, khác với cô, anh không bao giờ nói chuyện về Chúa. Ông nội của David đã sống sót trong trại tập trung của Phát xít Đức và anh cho rằng những nỗi kinh hoàng đó không phải để hủy hoại dân tộc của mình mà là để làm họ mất đi đức tin. Như vậy, những người Do Thái sẽ có bằng chứng rằng Chúa không tồn tại, điều này đủ để tiêu diệt họ. Lần cuối cùng họ nói chuyện về chủ đề tôn giáo nghiêm túc hơn một chút là thời gian trước khi diễn ra đám cưới. Một ngày nọ, trong lúc đang tắm, Sandra phát hiện ra một khối u nhỏ. Phản ứng của David điển hình cho văn hóa Do Thái: Anh bắt đầu đùa cợt. Cô nghĩ rằng thái độ của anh phụ thuộc vào một dạng yếu mềm trong tính cách, do vậy những vấn đề sức khỏe của cô bị cho là nực cười và chuyển thành trò đùa vì David cảm thấy có lỗi khi không thể giải quyết chúng. Tất cả rất đáng yêu nhưng

chẳng giúp ích gì. Vì thế anh đã đưa cô đi làm các xét nghiệm, trêu chọc cô suốt quãng thời gian đó. Sandra vờ làm anh tin rằng những câu đùa cợt đó thực sự giúp cô giảm áp lực. Trái lại, bên trong cô cảm thấy rất buồn bực và chỉ muốn anh chấm dứt trò đó lại. Nhưng đó là cách anh đương đầu với sự việc, và cô không chắc mình có thấy ổn hay không. Trước hay sau họ cũng phải nói chuyện và cô dự kiến sẽ có cuộc cãi vã về chủ đề ấy. Suốt tuần họ chờ đợi kết quả xét nghiệm, David vẫn tiếp tục cái thái độ không thể chịu nổi đó. Sandra định rút ngắn thời gian và đề cập ngay vấn đề, nhưng sợ mình sẽ nổ tung. Đêm trước ngày nhận kết quả, cô tỉnh giấc và với tay về phía David tìm kiếm anh trên giường. Nhưng anh không có ở đó. Vậy là cô thức dậy và thấy trong nhà không có ngọn đèn nào sáng. Trong khi đang tự hỏi anh đi đâu, cô tới ngưỡng cửa phòng bếp và trông thấy anh. Anh ngồi cúi gập người, lưng quay về phía cô. Anh đung đưa lẩm nhẩm những lời lẽ khó hiểu. Anh không để ý thấy cô, nếu không anh đã ngừng cầu nguyện. Cô quay trở lại giường và khóc. Thật may cuối cùng đó là u lành tính. Nhưng Sandra cần phải nói chuyện rõ ràng với David về vấn đề đó. Chắc chắn họ sẽ phải trải qua những thử thách khó khăn trong hôn nhân bởi vậy họ cần thứ gì đó hơn sự mỉa mai để có thể đi tiếp. Cô nói về chuyện cầu nguyện tối hôm đó và David với đôi chút thẹn thùng buộc phải thừa nhận rằng anh đã hoảng sợ thế nào khi nghĩ rằng sẽ mất cô. Với bản thân mình, anh không sợ cái chết, công việc trên tuyến đầu của anh khiến anh tự động loại bỏ ý

nghĩ mình có thể chết. Nhưng khi đó là Sandra, anh không biết phải làm gì. Điều duy nhất anh nghĩ tới là cầu cứu một vị Chúa mà anh thường né tránh. "Khi em không còn gì để bấu víu, điều cuối cùng còn lại là lòng tin vào một vị Chúa trời mà em không tin tưởng. Với Sandra nó đáng giá như một tuyên ngôn tình yêu thực thụ. Nhưng giờ, trong căn phòng khách sạn đó, ngồi trên chiếc giường cạnh một chiếc vali còn bừa bộn, cô tự hỏi tại sao, nếu chồng cô có linh cảm sẽ bỏ mạng ở Roma, anh lại quyết định gửi cho cô những manh mối của một cuộc điều tra như một lời vĩnh biệt. Chính xác hơn, những tấm ảnh, vì đó là ngôn ngữ của họ thông qua công việc mà họ làm. Nhưng tại sao anh không chuẩn bị chẳng hạn một đoạn video để cho cô biết cô quan trọng với anh đến nhường nào? Anh không viết cho cô lấy một lá thư, một mẩu tin, chẳng gì cả. Nếu anh yêu cô nhiều như thế, tại sao không dành cho cô suy nghĩ cuối cùng? “Vì David không muốn cô bị bó buộc với anh nếu anh chết, ” cô tự nhủ. Và đó là một phát hiện. Anh ấy đã tặng mình

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 60

Đang tải bình luận...