Năng Lượng

phần của việc cải thiện môi trường quan niệm

phần của việc cải thiện môi trường quan niệm

phần của việc cải thiện môi trường quan niệm những cải tiến như vậy là một thứ hàng hóa xa xỉ: giới thượng lưu mua không khí và nước sạch hơn và không gian ít chật chội hơn (giới kinh tế học gọi nó là sự “tiện nghi môi trường”). Trong mô hình này nhu yếu phẩm vẫn phải chăng khi sản xuất trở nên hiệu quả hơn và vật liệu mới thay thế tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt, trong khi tiện nghi môi trường trở nên đắt đỏ hơn: điện vẫn rẻ, nhưng chỉ có một công viên quốc gia Grand Canyon, nhiều người hơn có nghĩa là ít cơ hội tiếp cận hơn. Các nhà kinh tế không thích mô hình này và tuyên bố bác bỏ nó.[37] Ở đâu đó thời hậu Thế Chiến II có lẽ tồn tại tâm trạng mong ngóng hòa bình, yên tĩnh, gia đình và một khởi đầu mới cho một thế giới mới tinh khôi. Cựu chiến binh trở về nhà mệt mỏi vì chiến tranh, mệt mỏi vì mồ hôi, mùi hôi thối, buồn chán và giết chóc. Các quốc gia đã chào đón họ với sự quan tâm: những khoản tiết kiệm lớn đã được khuyến khích trong cuộc chiến nhằm hạn chế lạm phát; dồn nén nhu cầu hàng hóa phân phối hoặc không có sẵn trong thời chiến và trong thời kỳ Đại Suy thoái trước đó; Luật Tái thích nghi cho quân nhân (GI Bill) chi trả cho đào tạo đại học hoặc dạy nghề; hỗ trợ cho quyền sở hữu nhà. Nhà kinh tế học Robert J. Gordon viết, “Cuộc Đại Nhảy vọt về năng suất lao động của Mỹ diễn ra hồi giữa thế kỷ 20 là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử kinh tế. Nếu nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình hằng năm của giai đoạn 1870-1928, thì đến năm 1950, sản lượng mỗi giờ sẽ cao hơn 52% so với năm 1928. Thay vào đó, mức tăng trưởng thực tế từ năm 1928 đến năm 1950 là 99%.”[38] Tăng trưởng kinh tế đặt nhiều tiền hơn vào túi của người Mỹ. Nó cũng kích thích một sự chuyển đổi tâm lý. Đối với hầu hết mọi người, cuộc Đại Suy thoái mang màu sắc u ám, cam chịu và thậm chí là hãi hùng. Tỉ lệ tự sát nhảy từ 12 trên 100.000 người vào những năm 1920 đến gần 19 trên 100.000 vào năm 1929. Nó vẫn ở mức cao vào trước Thế Chiến II. Đến năm 1933, một phần tư dân số thất nghiệp. GDP giảm gần một nửa. “Tôi chứng kiến một phần ba dân số trong hoàn cảnh xấu số, không đủ ăn đủ mặc,” Franklin Roosevelt tuyên bố vào năm 1936 trong lễ nhậm chức thứ hai của mình. Thế Chiến II đã cứu nguy cho sự hứa hẹn kinh tế của Mỹ và giảm khoảng cách giàu nghèo. Nhìn lại từ ngày nay, khi bất bình đẳng giàu nghèo một lần nữa xuất hiện làm suy yếu tầng lớp lao động Mỹ, người ta

nhìn nhận Mỹ trong những thập niên giữa của thế kỷ 20 tỏa sáng như một miền đất hứa bình đẳng và sung túc. Nhà kinh tế học Robert Higgs mô tả sự thay đổi trong tâm trạng người dân Mỹ: Nền kinh tế thời chiến… đã đập tan những kỳ vọng bi quan của hầu hết mọi người trong thời kỳ suy thoái dường như vô tận. Trong suốt thập niên dài đằng đẵng của thập niên 1930, đặc biệt là nửa sau của nó, nhiều người đã tin rằng bộ máy kinh tế đã bị phá vỡ không thể khắc phục. Các hoạt động điên cuồng của sản xuất thời chiến… bỗng xua tan sự vô vọng. Mọi người bắt đầu nghĩ: nếu chúng ta có thể sản xuất tất cả những chiếc máy bay, tàu và bom này, chúng ta cũng có thể sản xuất ra hằng hà sa số ô tô và tủ lạnh.[39] Trong những thập niên sau Thế Chiến II, người Mỹ bắt tay vào cải thiện cuộc sống vật chất và môi trường mà họ chung sống cùng. Nếu đường cong môi trường Kuznets là một mô hình hiệu quả, Mỹ và các xã hội công nghiệp tiên tiến khác đã vượt qua ngưỡng bảo đảm thu nhập sang khắc phục môi trường vào giữa những năm 1950. Ngay cả khi người Mỹ đã rất thịnh vượng, họ vẫn bắt đầu đặt câu hỏi liệu rằng tăng trưởng có phải là tốt?

R 19 KỶ NGUYÊN ĐEN TỐI PHÍA TRƯỚC achel Carson bị bệnh nặng vì di căn ung thư vú khi bà viết tác phẩm Silent spring (Mùa xuân vắng lặng),(41) cuốn sách xuất bản năm 1962 đã tạo tiếng vang với việc thành lập phong trào bảo vệ môi trường. Bà đã phải chịu đựng những tác động độc hại của hóa trị khi bà lên án tác động độc hại của thuốc trừ sâu đồng thời tố cáo rủi ro chết người của việc xạ trị. Có phải cơ thể bà chính là thị trấn nhỏ thiên đường trong chương đầu tiên của nữ văn sĩ, “nơi dường như vạn vật sống hài hòa với môi trường xung quanh của nó”? Vậy từ đâu, “một dịch bệnh lạ lùng len lỏi trong khu vực và… khắp nơi bị phủ bóng đen của cái chết?”[1] Nhà văn viết tốt nhất khi niềm đam mê họ mang đến cho tác phẩm đến từ đời sống cá nhân. Thuốc trừ sâu, Carson đã cảnh báo trong một bài phát biểu vào mùa xuân trước khi cuốn sách của bà ra mắt vào tháng 9, “được đưa vào môi trường của chúng ta một cách nhanh chóng… Đơn giản là không có thời gian để nguyên sinh vật sống thích nghi với chúng.”[2] Chưa đầy hai năm sau đó, bà qua đời, vào tháng 4 năm 1964. Phó tổng thống Mỹ Al Gore nói rằng nếu không có cuốn sách của nữ văn sĩ thì “phong trào môi trường có thể đã bị trì hoãn kéo dài hoặc không bao giờ phát triển lên được.”[3] Tuy nhiên, những cuốn sách khác vào thời điểm khác đã xướng tên ngày tận thế nhưng không gây được tiếng vang từ cộng đồng, không soi sáng các phong trào trong nước và quốc tế. Tại sao Mùa xuân vắng lặng lại thành công vang dội? Ai hoặc cái gì đã lót đường? Làm thế nào mà sự lạc quan thổi bùng lên kỳ vọng ở Mỹ trong thập niên sau khi Thế Chiến II trở thành một sự bi quan bẻ gãy niềm tin về tương lai của con người và sự hủy diệt của thế giới tự nhiên? Một dự đoán của Mùa xuân vắng lặng là nghiên cứu của một nhà địa hóa học hạt nhân tên là Harrison Brown, con trai của một chủ trang trại ở

bang Wyoming và một người chơi dương cầm ở nhà thờ, một thành viên kỳ cựu của Dự án Manhattan và là giảng viên tại Caltech. Carson chưa bao giờ tham khảo nghiên cứu của Brown, một cuốn sách mang tên The Challenge of Mans Future (Thử thách cho tương lai nhân loại) xuất bản năm 1954. Tuy nhiên, những điều kiện mà nó khám phá liên quan đến những điều kiện làm phiền lòng nhà văn Carson. Là nhà khoa học, họ làm việc trong các lĩnh vực liên quan. Cả hai đều có nhận thức sâu sắc về tương lai, về thảm họa quy mô thế giới nếu những cảnh báo của họ bị bỏ qua. Sau khi hai quả bom nguyên tử mà Brown đã tham gia tạo ra dấu ấn kết thúc cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử loài người, nhà khoa học trẻ tuổi đã tham gia tăng cường giáo dục cộng đồng về những mối nguy hiểm mới của vũ khí hạt nhân. Bản thân Carson đã tìm thấy động lực để điều tra hành vi “can thiệp” vào tự nhiên của loài người trong sự vỡ mộng mà bom hạt nhân mang lại. Trong lá thư gửi cho một người bạn, bà đã viết, “tôi nghĩ suy nghĩ của tôi bắt đầu bị ảnh hưởng ngay sau khi khoa học nguyên tử có chỗ đứng vững chắc… Những quan niệm cũ luôn đau đáu, đặc biệt là khi chúng mang đầy xúc cảm và minh tuệ cho bất kỳ ai. Thật dễ chịu khi tin rằng, giả dụ,

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 98

Đang tải bình luận...