Năng Lượng

Phần lớn ô

Phần lớn ô

Phần lớn ô nhiễm bồ hóng ở Thành phố New York, các nhà nghiên cứu nhận thấy, không phải đến từ ô tô mà do đốt rác không được lọc, chuyện đó cuối cùng đã được kiểm soát.[34] (Giai đoạn 1959-1960, khi tôi sống ở Manhattan, bồ hóng nhanh chóng khiến bất kỳ loại giấy máy đánh chữ nào tôi để lộ thiên trên căn hộ của mình thành quá bẩn không sử dụng được.)

Khói bụi che khuất cầu George Washington, Thành phố New York, năm 1973. Năm 1991, trong khi nghiên cứu các tác động môi trường với Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sau đó được đàm phán giữa Mỹ, Canada và Mexico, hai nhà kinh tế của Đại học Princeton đã phát hiện ra một xu hướng gây tò mò. Khi phân tích mối quan hệ giữa mức độ ô nhiễm không khí và tăng thu nhập của khu vực đô thị ở 42 quốc gia, họ phát hiện ra rằng nồng độ hai chất gây ô nhiễm - lưu huỳnh dioxid và “khói” - tăng theo GDP đầu người ở mức thu nhập quốc dân thấp nhưng lại giảm khi GDP tăng trưởng ở mức thu nhập cao.[35] Biểu đồ kết quả của SO2 trong bài báo gây tiếng vang năm 1991 của họ trông như thế này:

SO2 và GDP đầu người Đường cong trên biểu đồ của các nhà kinh tế học Princeton tình cờ giống với đường cong Kuznets, một hình ảnh minh họa của một lý thuyết kinh tế gây tranh cãi mang tên nhà kinh tế học người Mỹ gốc Belarus thế kỷ 20 là Simon Kuznets. Kuznets đã chỉ ra mối tương quan giữa gia tăng thu nhập và gia tăng bất bình đẳng, hai mối quan hệ tưởng như không chút liên quan. Do đó, phiên bản của các nhà kinh tế học Princeton này được gọi là đường cong môi trường Kuznets (EKC). Ở dạng chuẩn, nó trông như thế này:

Đường cong môi trường Kuznets Đường cong môi trường Kuznets mô hình hóa mối quan hệ như các nhà kinh tế học Princeton đã tìm thấy: gia tăng ô nhiễm trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa và sau đó, ở một ngưỡng thu nhập cá nhân tăng, nỗ lực giảm ô nhiễm cũng tăng theo. Đó là ít nhiều kinh nghiệm về ô nhiễm khói ở Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 20 ở Pittsburgh, New York, Chicago và các thành phố khác. Đó là bài học ở Los Angeles với sương mù quang hóa trong những năm 1950 và 1960, và trên toàn quốc bắt đầu từ những năm 1970. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu hơn nhận thấy mô hình EKC không nhất quán một cách lạ lùng, đúng nhất khi áp dụng vào ô nhiễm không khí nhưng sai với chất lượng nước hay tăng mức độ carbon dioxid, khí nhà kính.[36] Mặc dù không nhất quán, mô hình EKC vẫn là con cưng của giới tư bản bảo thủ, những người thích tuyên bố điều đó chứng tỏ rằng tăng trưởng kinh tế không bị chính phủ điều tiết sẽ quét sạch ô nhiễm với một cây chổi vô hình.

Mô hình chồng chéo một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 97

Đang tải bình luận...