phần lớn Thiên nhiên có thể mãi mãi nằm ngoài tầm với của con người.”[4] Thật khó cho người thời nay để đánh giá cao sự quan tâm trực tiếp mà những người nhạy cảm cảm thấy về tương lai của con người sau hậu quả của hai cuộc thế chiến, khi chúng gây ra cái chết đau đớn của ít nhất 80 triệu nhân mạng. Nhiều năm sau, phỏng vấn nhà vật lý Richard Feynman, tôi đã hỏi ông về khoảng thời gian đó. (Lúc đó tôi không biết chuyện người vợ yêu dấu của Feynman, Arline, đã qua đời vì bệnh lao vào tháng 6 năm 1945, hai tháng trước khi chiến tranh kết thúc, hay về sự đau buồn khốn cùng sẽ nuốt chửng ông. Giai đoạn này trong cuộc đời ông lúc đó vẫn chưa được tiết lộ.) Feynman nói với tác giả rằng ông đã ngồi trong quán bar Times Square vào một ngày mùa hè năm 1946, nhìn qua các cửa sổ tối tăm vào đám đông đi qua. “Tôi thầm nhủ,” ông nói, “‘Lũ ngốc này. Họ đang ở đây, bận rộn với cuộc sống, không biết rằng trong vài năm nữa, tất cả đều sẽ chết.’” Hiển nhiên là cái chết của người vợ thân yêu đã tác động tiêu cực đến thế giới quan của Feynman. Nhưng giống như nhiều người khác trong thời kỳ chuyển đổi sau chiến tranh, ông tin rằng Liên Xô sẽ phát triển kho vũ
khí hạt nhân giống như Mỹ đang làm, tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang sẽ xảy ra sau đó sẽ lên đến đỉnh điểm trong một cuộc chiến tranh tàn phá hoàn toàn thế giới. Sau khi khóc thương vợ, Feynman đã có thể tạm gác lại thuyết định mệnh của mình, bắt đầu một lần nữa để chơi mà làm, và trong vui chơi đã làm sống lại sự nhiệt tình của ông với cuộc sống và cho công việc sáng tạo. Tuy nhiên, thuyết định mệnh dường như là nền tảng cho sự chuyển đổi hối hả sau chiến tranh khi các cựu chiến binh trở về nhà, định cư và bắt đầu xây dựng cuộc sống của họ. Đáng chú ý là ít người trong số họ thừa nhận đã trải qua sang chấn tâm lý trong trải nghiệm chiến tranh, mặc dù hầu hết đã bị tổn thương như vậy trong nhiều năm. Thay vì thừa nhận, họ chôn vùi nó và làm giảm các triệu chứng với thuốc lá, uống rượu, và ép mình làm việc quá sức. Nhiều người trong số họ chỉ tìm kiếm sự giúp đỡ khi đã nghỉ hưu nhiều thập niên sau này, khi họ không còn có thể duy trì vẻ ngoài kiên cường, cứng rắn của người lính nữa.[5] Trong một tâm trí mù quáng như vậy, chẳng khó để tin rằng bản thân thế giới quanh họ đã bị nhiễm bệnh. Đối với Rachel Carson, phóng xạ và chất độc vật lý gây ra sự nhiễm trùng. Đối với Harrison Brown và những người theo lý tưởng của Thomas Malthus thì con người chính là kẻ đe dọa tương lai thế giới. John Holdren, cố vấn khoa học của Tổng thống Barack Obama, đã mô tả Brown trong điếu văn là “một người đàn ông ấm áp, dí dỏm, vui vẻ, trong mắt ông luôn hấp háy ánh sáng tình yêu cuộc sống, và đáng ngạc nhiên nhất là sự khiêm tốn của ông.”[6] Dù sống tích cực là vậy nhưng tầm nhìn về tương lai của ông đã bị bôi đen với thuyết phản nhân văn(42) . Trong cuốn Thử thách cho tương lai nhân loại, Brown đã viết rằng