phần của cậu, cơ thể, linh thú, cả linh hồn nữa. Cậu quỳ xuống bên cạnh cô, rồi cậu cùng Asta thu hút sự chú ý của Lyra trong lúc Alice tắm rửa rồi lau khô người cho cô bé. “Có thể thấy cô bé đang suy nghĩ mặc dù nó chưa nói được từ nào cả, ” cậu nói. “Đâu ra, ” Alice nói cộc lốc. Một hay hai người đang ngủ bắt đầu trở mình khi ánh sáng mạnh dần lên. Malcolm cầm lấy cái bọc cần phải ném đi rồi cố gắng di chuyển thật khẽ khàng khi mang nó ra ngoài tới cái hố mà thằng bé kia đã chỉ cho mình. “Tớ không thấy cậu ta ở trong động,” Asta thì thầm. “Có lẽ cậu ấy nghỉ ở chỗ nào đó khác.”
Chúng tìm thấy cái hố rác rồi vội vã chạy về vì mưa đang rơi như trút nước. Khi vào tới nơi, người phụ nữ tên Audrey đang ôm Lyra, cô bé có vẻ khá thoải mái dù cho có chút hồ nghi, trong khi Alice chuẩn bị sữa. “Mẹ của em bé đâu rồi?” Audrey hỏi, ngồi xuống bên cạnh đống lửa. “Chúng cháu không biết, ” Malcolm nói. “Cô bé được các sơ ở Godstow chăm sóc, nên nó hẳn phải là một nhân vật quan trọng.” “Ồ, ta biết những người mà cháu nhắc tới,” Audrey thốt lên. “Sơ Benedicta.” “Vâng, sơ ấy là người phụ trách. Nhưng chủ yếu là sơ Fenella chăm sóc cô bé.” “Chuyện gì đã xảy ra vậy?” “Tu viện bị cơn lũ đánh sập. Chúng cháu đã kịp thời đưa cô bé ra. Sau đó chúng cháu bị cuốn đi.” “Vậy là cháu không biết gia đình của cô bé là ai à?” “Không ạ, ” Malcolm đáp. Cậu đang nói dối ngày một thành thạo. Audrey chuyển em bé qua cho Alice vì cô đã chuẩn bị xong bình sữa. Cách đó một đoạn, ông Boatwright đứng dậy vươn vai rồi bước ra khỏi động, những người khác đang trở mình. “Mọi người ở đây là ai vậy ạ?” Malcolm hỏi. “Tất cả đều là gia đình của bà sao?” “Có Simon con trai ta cùng vợ nó và hai đứa nhỏ. Những người khác thì... chỉ là những người khác...” “Có một cậu bé tên Andrew. Tối hôm qua cháu đã nói chuyện với cậu ấy.” “Ừ, nó là cháu trai của Doris Whicher. Doris đang ở đằng kia, bên cạnh tảng đá lớn đó. Họ tới từ Wallingford. Ái chà, con bé đói rồi đúng không?” Bà thốt lên vẻ đầy ngưỡng mộ khi thấy Lyra hăm hở mút chùn chụt.
Doris Whicher vẫn đang ngủ. Không thấy bóng dáng Andrew đâu cả. “Cháu nghĩ là bọn cháu sẽ không ở lại lâu đâu, ” Malcolm nói. “Chỉ đến khi mưa ngớt thôi.” “Các cháu cứ ở chừng nào cần thiết. Ở đây các cháu sẽ được an toàn. Không ai biết về nơi này cả. Một vài người trong bọn ta có lí do phải cẩn thận về việc ai biết được họ ở đâu, và chúng ta chưa bị mất ai cả.” Ông Boatwright bước ra khỏi cơn mưa, mang theo một con gà đã chết. “Biết vặt lông gà chứ Malcolm?” Ông hỏi. Thực tế là Malcolm biết, nhờ quan sát sơ Fenella làm việc đó trong nhà bếp tu viện. Cậu cũng đã làm việc này một hay hai lần trong bếp của mẹ mình. Cậu cầm lấy con gà, một sinh vật khẳng khiu, rồi bắt tay vào làm trong lúc ông Boatwright ngồi xuống cời lửa lên trước khi châm một tẩu thuốc. “Người ta đã nói gì sau khi ta biến mất thế, hử?” Ông hỏi. “Có ai đoán ta đã đi đâu không?” “Không ạ, ” Malcolm đáp. “Mọi người đều nói rằng ông là người duy nhất từng trốn thoát khỏi tay đám TCK. Mấy tên sĩ quan đã quay lại vào ngày hôm sau và hỏi han rất nhiều, nhưng không ai nói gì cả, ngoại trừ một hay hai người nói rằng ông có những năng lực đen tối ma quỷ, ví dụ như làm cho bản thân trở nên vô hình, và TCK chẳng bao giờ có cơ hội tìm được ông.” Ông Boatwright cười dữ tới mức phải đặt tẩu thuốc xuống. “Nghe thấy không, Audrey?” Ông thở khò khè. “Vô hình cơ đấy!” “Tôi thì ước gì thỉnh thoảng ông vô thanh luôn thì tốt, ” bà đáp lại. “Không,” ông nói tiếp, “tôi vẫn đang chuẩn bị cho một thứ như thế. Dù ở đâu ta cũng phải có một lối thoát. Luôn luôn phải có một lối thoát. Rồi khi thời điểm đến, không được do dự một giây nào. Nhỉ, Audrey? Chúng ta có lối thoát của mình và đi theo nó vào cái đêm mà mấy tên khốn kia đến quán Cá Hồi.” “Hai người đã tới thẳng đây à?”
“Nói thì là vậy thôi. Có những đường mòn và những nơi trú ẩn bí mật ở khắp nơi trong rừng, khắp nơi trong Oxfordshire, Gloucestershire, Berkshire và xa hơn thế nữa. Ta có thể đi từ Bristol đến London bằng những lối mòn bí mật đó mà chẳng hề bị ai biết đến.” “Chuyện gì đã xảy ra khi cơn lũ kéo đến vậy ạ?” “À, cơn lũ đã thay đổi mọi thứ. Ban đầu nó đem đến lợi thế cho chúng vì chúng có nhiều thuyền và người hơn. Nhưng tất cả những gì chúng ta làm là trèo lên cao hơn. Điểm mà chúng ta đang đứng lúc này là khoảnh đất cao nhất của Berkshire.” “Nhưng chẳng phải nếu có ít đất để săn đuổi thì sẽ khiến các ông bị tìm thấy dễ dàng hơn hay sao?” “Không, vì sẽ có nhiều cách chạy trốn hơn, ” George Boatwright đáp, “có nhiều nước ở xung quanh hơn, hiểu không. Nhiều đường cho tàu bè hơn. Chúng ta biết tất cả những lối tắt, những lối nông và sâu. Chúng ta luôn có thể lẩn trốn mà không bao giờ để chúng bắt được. Mà nước lại đứng về phe chúng ta, không phải phe của chúng.” “Cháu không hiểu, ” Malcolm nói trong lúc lật con gà lại. “Những sinh vật trong dòng nước, Malcolm ạ. Ý ta không phải là cá hay lũ chuột nước, ta muốn nói đến những vị thần cổ xưa. Vị Cha Già Thames, ta đã thấy ông ấy vài lần, với vương miện, đám sậy và cây đinh ba. Ông ấy ở phe chúng ta. Lũ TCK khốn kiếp, chúng sẽ không bao giờ thắng được Cha Già Thames đâu. Và cả những sinh vật khác nữa. Có một người ở đây cùng với chúng ta, anh ta đã nhìn thấy một người cá gần Henley. Biển dâng đầy đến mức nàng bơi thẳng lên sông, dù cho nơi ấy cách bờ biển rất xa, và cái anh chàng này thề với ta rằng nếu gặp lại người cá đó, anh ta sẽ bỏ đi với cô nàng. Rồi, hai ngày sau anh ta biến mất, khả năng cao là anh ta đã làm đúng điều đó. Dù sao thì ta cũng tin vào nó.” “Nếu đó là Tom Simms, ” Audrey xen vào, “tôi sẽ nói rằng có lẽ anh ta đã say xỉn còn nàng tiên cá lại là một con cá heo.”
“Cô ta không phải là cá heo. Chẳng phải anh chàng đã nói chuyện với cô ta đó sao? Và cô ta đáp lại. Cô ta có một chất giọng ngọt ngào hơn cả tiếng chuông ngân, anh ta nói vậy đấy. Cá mười ăn một rằng bây giờ anh chàng đang sống cùng với nàng tiên cá đó ở ngoài Đức Đại Dương kia.” “Nếu vậy thì anh ta sẽ bị lạnh thấy mả luôn, ” Audrey đốp lại. “Đây, đưa cho ta con gà đó đi. Ta sẽ làm nốt.” Malcolm đang làm khá tốt, cậu nghĩ vậy, nhưng cậu cũng sẵn sàng để bà lo liệu nốt. Hai tay cậu đã tê cứng lại vì lạnh và cậu không thể tóm được đám lông nhỏ hơn. “Tự đi lấy ít bánh mì trong cái thùng đằng kia đi,” Audrey nói với cậu. “Có pho mát ở cái thùng cạnh đó nữa.” Những cái thùng đó là thùng rác sắt mạ. Trong thùng đầu tiên có ba ổ rưỡi thứ bánh mì chắc nịch, cứng đờ và cũ mèm, cùng với một con dao để cắt. Malcolm cắt một lát dày cho bản thân và một lát nữa cho Alice, rồi xắt một chút pho mát để ăn kèm trong lúc người phụ nữ tên Doris Whicher tỉnh dậy gần đó và nhìn quanh với ánh mắt lờ đờ. “Andrew?” Bà kêu lên. “Andrew đâu rồi?” “Sáng nay cháu chưa thấy cậu ấy, ” Malcolm nói. Bà xoay người rồi ngồi dậy trong một thứ mùi nồng nặc rượu. “Nó đi đâu mất rồi?” “Đêm hôm qua cháu đã gặp cậu ấy.” “Vậy cháu là ai?” “Malcolm Polstead, ” cậu nói với bà. Tự đặt cho mình một cái tên giả cũng chẳng ích gì, vì ông Boatwright biết chính xác cậu là ai. Doris Whicher rên rỉ rồi lại nằm xuống, Malcolm liền đem bánh mì và pho mát đến cho Alice. Audrey Boatwright đang ôm Lyra lên và vỗ vỗ vào lưng cô bé, còn Lyra thì tỏ ra biết ơn vì cơn đầy hơi đã đỡ nhiều. Malcolm ngồi xuống gặm lát bánh mì và pho mát, cậu thấy việc đó thật khó khăn, nhưng dạ dày cậu lại mừng rỡ vì nỗ lực mà hàm răng đang bỏ ra.
Rồi khi đã có thể ngồi xuống thư giãn, nhận thức lại dội trở về, kí ức đó vẫn khiến cậu kinh hãi: cậu đã giết Bonneville, cậu và Alice là những kẻ giết người. Cái từ ngữ khủng khiếp đó đã hằn vào tâm trí cậu như bởi một cái máy in chạy trên tờ giấy với màu mực đỏ. Asta hoá thành bướm đêm rồi bay từ vai cậu tới chỗ linh thú của Alice, Ben nghiêng đầu khi Asta thì thầm với nó. Bà Boatwright đang đi loanh quanh, chỉ cho Lyra những người vừa mới tỉnh dậy, một người khác đang lo liệu con gà, lọc rụột, bẻ khớp rồi rắc bột lên nó. Nếu thứ đó được phân phát cho mọi người trong hang động, Malcolm nghĩ, cố gắng làm bản thân phân tâm, thì sẽ chẳng có nhiều nhặn gì trên đĩa của bất cứ ai. Nhưng Alice đã tiến lại gần, cô đang ngả người tới để thì thầm điều gì đó. “Người đàn ông đó, ông...” “Ông Boatwright.” “Em có tin tưởng ông ta không?” “Em... nghĩ là có.” “Bởi vì chúng ta không cần phải ở lại đây lâu hơn nhiều nữa đâu.” “Em cũng nghĩ vậy. Có một cậu bé...” Cậu kể với cô về Andrew. Cô bé chau mày. “Và bây giờ thì nó không ở đây?” “Không. Em hơi lo.” Vào lúc đó, dì của Andrew lập bập bước tới bên đống lửa rồi ngồi phịch xuống. Alice lườm bà. Doris Whicher không để ý thấy điều đó, bà vẫn đang phải chịu cơn đau vì uống quá chén, mùi rượu nồng nặc tới mức Malcolm nghĩ bà phải cẩn thận hơn khi thở bên cạnh đống lửa; con linh thú quạ của bà cứ ngã xuống rồi lại quờ quạng bay lên. Rồi bà nhìn sang Malcolm và nói: “Ai đã hỏi ta về Andrew vậy? Là cháu à?” “Vâng. Cháu không biết cậu ấy đang ở đâu.”
“Sao cháu lại muốn biết?” “Vì đêm hôm qua chúng cháu đã nói chuyện, cậu ấy có nói tới một chuyện thú vị và cháu đang định hỏi cậu ấy về điều đó.” “Là cái Liên hiệp chết tiệt đó hả?” Mọi tế bào thần kinh trong người Malcolm bừng tỉnh dậy. “Liên hiệp Thánh Alexander sao? Cậu ấy là thành viên ạ?” “Phải, thằng lỏi khốn kiếp. Ta nói với nó một khi...” Malcolm lập tức đứng bật dậy và Alice, thấy vẻ khẩn cấp của cậu, liền đi theo. “Chúng ta phải đi thôi,” cậu nói. “Ngay bây giờ.” Alice chạy tới chỗ Audrey Boatwright, bà đang nói chuyện với một phụ nữ khác ở gần cửa động trong lúc nhẹ nhàng xóc xóc Lyra trên ngực mình. Malcolm nhìn quanh và thấy George Boatwright đang uốn vài que củi lại với nhau để làm một cái bẫy. “Ông Boatwright - xin lỗi đã làm phiền ông - nhưng chúng cháu phải đi ngay đây - ông có thể chỉ cho chúng cháu lối xuống...” “Đừng lo lắng về cái thuyền của bọn TCK đó, ” Boatwright tự tin nói. “Có khả năng là chúng...” “Không, không phải bọn họ. Chúng cháu phải đưa Lyra đi trước khi...” Nhưng từ phía sau cậu vọng tới những tiếng nói ồn ã. Cậu quay ngoắt lại và thấy Alice đang cố gắng len vào giữa bà Boatwright và một người đàn ông mặc đồng phục tối màu, ba gã đàn ông khác phía sau hắn dàn rộng ra để ngăn bất cứ ai rời khỏi hang động. Lẩn quất phía sau họ, nửa ngượng ngùng, nửa tự hào, là Andrew. Malcolm chạy tới giúp Alice, cô đang cố gắng giằng lấy Lyra ra khỏi tay Audrey Boatwright. Nhưng đúng lúc đó, một trong những gã đàn ông tóm lấy cổ Alice, hắn đang hét lên, Malcolm cũng đang hét, nhưng cậu chẳng biết được mình đang kêu cái gì. Audrey đang cố gắng che cho Lyra trong lúc quay đi, cố gắng quay trở lại vào trong động, còn ông Boatwright đang cố giúp
q y ạg ộg g g g g p bà, Lyra thì đang gào lên vì sợ hãi. Đến một lúc, Malcolm tới được chỗ bà Boatwright và chạm được tay lên Lyra, cậu bắt đầu nâng cô bé lên thì ngay giây sau một cú đánh chấn động dộng xuống đầu cậu, khiến cậu nằm sóng soài trên nền đất, nửa mê nửa tỉnh; Alice đang cắn cánh tay đã tóm mình lại, bất ngờ đạp bằng cả hai chân, rồi hét toáng lên. Malcolm lồm cồm vực người dậy trên hai đầu gối, choáng váng, yếu ớt, và gần như hoàn toàn lẫn lộn. Xuyên qua những tiếng kêu náo loạn, một giọng nói vang tới chỗ cậu bằng sự sắc nét đến hoàn hảo, đó là giọng của Lyra, cậu liền đáp lại: “Lyra! Lyra! Anh đến đây!” Nhưng một sức nặng khủng khiếp lại đâm bổ vào cậu và hạ cậu nằm bẹp xuống đất. Đó là Audrey Boatwright, người đã để mất Lyra và bị quật ngã bởi một trong những gã đàn ông kia. Malcolm vùng vẫy để thoát khỏi người bà, nhưng việc đó chẳng dễ dàng gì vì bà cũng đang quẫy đạp, sau đó cậu thấy mình lại đang quỳ trên hai đầu gối, còn Alice đang nằm bất động trên mặt đất, cả George Boatwright cũng vậy. Có ai đó đang rền rĩ khóc lóc, nhưng không phải là Lyra; một người khác ở cách đó khá xa đang gào thét, một giọng phụ nữ, nghe thật lộn xộn trong cơn phẫn nộ và bất lực của bà. Audrey Boatwright bắt đầu khóc thút thít khi thấy chồng mình bất tỉnh nằm bên cạnh. Nhưng những tên đàn ông mặc đồng phục tối màu đã biến mất, cả Lyra cũng mất tích cùng với chúng.
M 20 Các nữ tu Dòng Phục Mệnh Thánh alcolm cố gắng bước về phía trước, nhưng hang động lại đang quay tròn trong mắt cậu. Cậu trượt chân, đứng vững trở lại, rồi ngã vật xuống và suýt nữa thì nôn mửa. Asta đang thì thào, giọng khản đặc: “Đó là một cú đánh vào đầu - cậu không thể đứng dậy ngay được đâu - nằm xuống và giữ yên đi đã.” Nhưng cậu đang bị một nỗi sợ và cơn giận điên cuồng thâu tóm, cậu vật lộn để đứng dậy. Kia là Andrew, đang mỉm cười vẻ lo lắng, nhưng cũng có vẻ tự mãn một cách thiển cận trên nét mặt của nó. Nó giơ hai tay lên để phòng vệ. Malcolm gạt chúng sang bên rồi đấm thật mạnh vào mặt nó, khiến nó ngã lăn chỏng ra và gào lên: “Dì! Dì ơi!” “Mày đã làm gì?” Dì của nó kêu lên, nhưng Malcolm không biết bà đang nói với mình hay với Andrew nữa. Có lẽ chính bà cũng chẳng biết. Malcolm đá thằng bé, nó lăn người đi rồi cuộn tròn lại như một con mối. “Những gã đó là ai?” Malcolm hét lên. “Chúng đi đâu mất rồi?” “Không phải việc của - aaaa!” Andrew gào lên khi lại bị Malcolm đá. Cuối cùng Doris Whicher cũng hiểu được chuyện gì đang xảy ra, bà liền lôi Malcolm ra. “Chúng là ai?” Malcolm gầm lên, vùng vẫy trên đôi tay béo mẫm và mùi cồn nồng nặc. “Chúng đang đưa Lyra đi đâu?”
Andrew lăn người ra khỏi tầm với và đang cố gắng đứng dậy, tận dụng triệt để những cú đánh của Malcolm, nó co rúm người lại, đi tập tễnh, chạm vào mặt bằng những ngón tay mảnh khảnh. “Tao nghĩ mày đã đánh vỡ hàm tao rồi...” Malcolm giẫm vào chân Doris, sau đó Alice cũng đến, tát rồi cào cấu thằng bé, rồi quay ra kéo đôi tay run rẩy của dì nó trong lúc chúng cố bám giữ lấy Malcolm, cậu liền giằng thoát ra và lao đến dồn Andrew vào bức tường đá của hang động. Con linh thú chuột của thằng bé ré lên và gào thét trong lúc rúm ró đứng đằng sau hai chân nó. “Không! Đừng đánh tao!” “Nói tao nghe chúng là ai ngay.” “TCK!” “Láo toét. Không phải đồng phục đấy. Chúng là ai?” “Tao không biết! Tao cứ nghĩ họ là TCK...” “Mày đã đi kiếm chúng nó ở đâu?” Vào lúc này, những người lớn khác đã vây xung quanh để xem và cổ vũ cho phe này hoặc phe kia. Một vài người trong số họ chưa ngủ dậy khi đám người kia kéo tới nên cần phải được giải thích cho, George Boatwright vẫn đang bất tỉnh, còn Audrey thì lo sợ gọi tên ông trong lúc quỳ bên cạnh, khiến hang động trở nên náo loạn. Andrew đang khóc thút thít. Malcolm ghê tởm quay đi rồi quỳ sụp xuống, nhưng Asta trong dạng mèo đã nhảy vào con linh thú chuột của Andrew và đè nó xuống sàn. Còn Ben, lông dựng đứng lên, gầm ghè thằng bé với sự dữ tợn của một con chó Bull. Nhưng Alice đang kéo tay Malcolm, buộc cậu phải đứng dậy, vì vậy cậu tạm thời quay đi khỏi hai con linh thú. “Nghe đi,” cô nói, “nghe người đàn ông này nói đi” Đó là một người đàn ông nhỏ thó, dẻo dai và có mái tóc sậm màu, linh thú của ông ta là một con cáo cái. “Tôi đã từng thấy kiểu đồng phục đó, ” ông nói. “Họ không phải là TCK. Tên họ là cái gì đó kiểu như Hội Bảo an Chúa Thánh Linh, dạng như vậy.
g ộ ạg ậy Họ bảo vệ những địa điểm tôn giáo, trường dòng, nữ tu viện, trường học, những nơi kiểu như thế. Có lẽ họ tới từ Wallingford, từ tu viện ở đó.” “Tu viện à?” Malcolm hỏi. “Tu sĩ ở đó là nam hay nữ vậy?” “Nữ, ” một người khác lên tiếng, một phụ nữ mà Malcolm không nhìn thấy được. “Các nữ tu Dòng Phục Mệnh Thánh.” “Sao bà biết?” Người đàn ông hỏi. “Tôi từng làm việc cho họ, ” bà nói, bước ra khỏi bóng tối và vào luồng sáng nhợt nhạt gần cửa động. “Cho các nữ tu. Tôi đã lau dọn, chăm sóc lũ gà và dê.” “Họ ở đâu? Cái nơi đấy ở đâu vậy?” Malcolm kêu lên. “Dưới Wallingford, ” bà đáp. “Cháu sẽ không bỏ qua nó được đâu. Những toà nhà bằng đá trắng to lớn.” “Còn các nữ tu này là ai? Họ làm gì?” Alice gặng hỏi, mặt cô tái nhợt, đôi mắt hừng hực cháy. “Họ cầu nguyện. Họ dạy học. Họ chăm sóc trẻ con. Tôi không biết nữa... Họ dữ dằn lắm.” “Dữ dằn? Như thế nào ạ?” Malcolm hỏi. “Nghiêm khắc. Rất nghiêm khắc và tàn nhẫn. Tôi không thể chịu được nên đã bỏ đi,” người phụ nữ đáp. “Tôi từng thấy mấy người bảo vệ đó tóm một đứa nhóc bỏ trốn, ” người đàn ông nói. “Chúng đánh đập nó ngay giữa phố cho đến khi nó ngất lịm đi. Có cố gắng can thiệp cũng chẳng ích gì - họ có đủ mọi quyền lực mà mình cần.” “Vậy đó là việc mày đã làm à?” Malcolm hỏi, quay sang Andrew. “Mày đã đi nói với người ta về bọn tao và em bé?” Andrew thút thít khóc rồi chùi mũi lên tay áo. “Nói cho họ nghe đi, nhóc, ” dì cùa nó nói. “Đừng có rên rỉ nữa.” “Cháu không muốn lại bị nó đánh đâu, ” Andrew nói. “Tao sẽ không đánh mày. Cứ nói cho mọi người nghe mày đã làm gì đi.” “Tao ở trong Liên hiệp. Tao phải làm điều đúng đắn.”
“Vứt quách cái Liên hiệp ấy đi. Mày đã làm gì?” “Tao biết mày không bao giờ lại đi chăm sóc một đứa bé không phải của mình. Mày có thể đã đánh cắp nó hay gì đó. Vậy nên tao đi nói với Văn phòng Bảo trợ Trẻ em. Họ đã tới trường chúng tao và giải thích vì sao báo cho họ những chuyện như thế lại là điều đúng đắn. Tao không biết gì về cái Hội Bảo an Chúa Thánh Linh này cả, chưa từng nghe thấy luôn. Đấy là Văn phòng Bảo trợ Trẻ em cơ.” “Họ ở đâu?” “Trong tu viện.” “Tu viện không bị ngập như tất cả những nơi khác sao?” “Không, vì nó ở trên một quả đồi.” “Ai phụ trách ở đó?” “Mẹ Bề Trên.” “Vậy là mày đã đi nói với bà ta, đúng không?” “Những người ở Văn phòng Bảo trợ Trẻ em đã dẫn tao đến gặp bà ấy. Đó là việc đúng đắn cần làm,” nó nói với giọng run run, sắp sửa rền rĩ lên. Dì nó thụi cho nó một cú, khiến thằng bé kìm cơn rên rỉ lại bằng một tiếng ho yếu ớt. “Cái bà Mẹ Bề Trên, bà ta đã nói gì?” Malcolm hỏi. “Bà ấy muốn biết đứa bé là ai và chúng ta ở đâu, vân vân. Tao đã kể với bà ấy mọi thứ mình biết. Tao buộc phải làm thế.” “Sau đó thì sao?” “Chúng tao cầu nguyện rồi bà ấy cho tao một cái giường để nghỉ ngơi một lúc, sau đó tao dẫn họ trở lại đây.” Trước thái độ thù địch và khinh ghét của hầu hết tất cả mọi người trong hang động, Andrew ngã sụp xuống sàn, co người lại và thút thít khóc. Hầu hết tất cả mọi người, vì George Boatwright vẫn đang bất tỉnh còn Audrey lúc này đang ngày càng trở nên hoảng sợ. Bà vẫn đang quỳ gối bên cạnh ông, xoa tay ông, vuốt ve đầu ông, gọi tên ông, và nhìn quanh tìm sự giúp đỡ từ những người ở đó.
Alice nhìn thấy vậy liền quỳ xuống xem liệu mình có thể làm gì hay không, trong lúc Malcolm tiếp tục tra hỏi Andrew. “Cái tu viện này ở đâu? Cách bao xa?” “Chịu...” “Mày đã đi bộ tới đó rồi quay về hay là đi bằng thuyền?” “Không có thuyền.” “Nó không xa đâu, ” người phụ nữ từng làm tại đó nói. “Nó là nơi cao nhất. Cháu không bỏ qua được đâu.” “Ở đó có nhiều trẻ con không ạ?” Malcolm hỏi bà. “Có, đủ mọi lứa tuổi. Từ bé sơ sinh cho tới mười sáu tuổi, ta nghĩ vậy.” “Họ làm gì? Dạy dỗ chúng, hay bắt chúng làm việc, hay gì ạ?” “Dạy chúng, phải... Họ chuẩn bị cho chúng cuộc sống của những người hầu, kiểu dạng như vậy.” “Cả trai lẫn gái sao?” “Phải, cả trai lẫn gái, nhưng sau mười tuổi người ta sẽ tách riêng chúng ra.” “Còn các em bé, họ có tách riêng chúng khỏi số còn lại không?” “Có một phòng chăm sóc dành riêng cho những đứa nhỏ, phải.” “Họ có bao nhiêu em bé ở đó?” “Ôi lạy Chúa, tôi không biết... vào thời của tôi, có khoảng mười lăm hay mười sáu...” “Tất cả bọn chúng đều là trẻ mồ côi à?” “Không. Đôi khi nếu một đứa trẻ cư xử thật sự hư hỏng, họ sẽ nhận chúng vào. Chúng không bao giờ ra ngoài cho tới khi mười sáu tuổi. Chúng không bao giờ gặp lại cha mẹ mình nữa.” “Vậy tổng cộng là có bao nhiêu đứa? Cả các em bé và những đứa lớn hơn ấy?” “Một trăm, có lẽ vậy...” “Chúng không bao giờ thử bỏ trốn sao?”
“Chúng có thể bỏ trốn một lần, nhưng sẽ luôn bị tóm lại và chúng sẽ không bao giờ dám lặp lại việc đó nữa.” “Vậy các nữ tu này, họ tàn nhẫn lắm ạ?” “Cháu sẽ không tin được họ tàn nhẫn đến mức nào đâu. Cháu sẽ không tin đâu.” “Mày, Andrew, ” Malcolm nói. “Mày đã bao giờ mách lẻo những đứa khác và khiến chúng bị đưa vào đó chưa?” “Tao có nói đâu, ” thằng bé lầm bầm. “Nói sự thật đi, thằng lỏi hư hỏng,” dì nó kêu lên. “Không, lúc đó không phải tao!” “Không bao giờ?” Malcolm hỏi. “Không phải việc củam...” Dì nó bạt cho nó một cái. Giọng nó rít lên thành một tiếng rền rĩ chói tai. “Được rồi, có thể là cháu có làm!” Nó gào lên. “Thằng ôn ném đá giấu tay, ” bà kêu lên. “Mày nói chuyện với ai khi đi báo cáo người khác?” Malcolm hỏi, cố gắng giữ tập trung một cách tuyệt vọng. Đầu cậu đang đập thình thình, từng cơn buồn nôn cứ đến rồi lại đi. “Đêm qua mày đã đi đâu? Mày đã nói chuyện với ai?” “Thầy Peter. Tao đáng ra không được nói với mày điều này.” “Tao không quan tâm mày được nói cái gì. Thầy Peter là ai, mày đã đi đâu để tìm được hắn?” “Ông ấy là Giám đốc Văn phòng Bảo trợ Trẻ em Wallingford. Họ có văn phòng trong tu viện.” “Và hắn biết mày vì mày đã từng đến gặp hắn?” Đến đó thì Andrew chỉ vùi đầu vào hai cánh tay rồi tru lên. Những tiếng nói rì rầm phát ra phía sau lưng Malcolm, phấn khích xen lẫn nhẹ nhõm, cậu quay lại nhìn nhưng khi làm vậy, một cơn đau nhói và nôn nao lại cuộn lên trong đầu, tàn bạo đến mức cậu cảm giác như lại vừa bị đánh. Cậu đứng yên, biết rằng chỉ cần một cử động nhỏ nhất của đầu sẽ khiến cậu buồn nôn đến khủng khiếp.
Alice đứng bên cạnh, giữ lấy cánh tay cậu. “Dựa vào chị này, ” cô nói. “Rồi đi đằng này.” Cậu làm theo những gì cô bảo. “Lyra, ” cậu lẩm nhẩm nói. “Chúng ta biết con bé ở đâu mà, nó sẽ không đi đâu khác đâu. Giờ em không đi lại được đâu, nếu không sẽ buồn nôn đó. Cứ ngồi xuống đây đi.” Giọng cô thật nhẹ nhàng và dịu dàng, điều đó đáng ngạc nhiên đến mức cậu đành để cho mình được dẫn đi và được chăm sóc. “Ông Boatwright đã tỉnh lại rồi,” cô thông báo. “Ông ấy bị một vết nứt trên đầu, giống như em, chỉ có điều là tồi tệ hơn. Audrey nghĩ ông ấy chết rồi, nhưng không phải thế. Giờ thì ngồi yên nào.” “Đây, ” giọng một phụ nữ cất lên, và rồi, “cho cậu bé uống cái này đi.” “Cảm ơn bà, ” Alice nói. “Đây, Mal, ngồi dậy một chút rồi nhấp thứ này đi. Nhưng cẩn thận đấy, nóng lắm.” Mal! Cô chưa bao giờ gọi cậu là Mal cả. Chưa có ai từng làm vậy. Từ giờ cậu sẽ không để cho bất cứ ai ngoài Alice gọi mình như vậy. Thứ đồ uống này nóng bỏng cả lưỡi nên cậu chỉ có thể nhấp một ngụm nhỏ nhất. Nó có vị như chanh, một kiểu phương thuốc lạnh mà mẹ cậu thỉnh thoảng cho cậu dùng, nhưng trong đó còn có một thứ khác nữa. “Tôi đã cho một chút gừng vào cùng,” người phụ nữ nói. “Giúp cháu không bị nôn nao nữa. Còn không thì nó sẽ là một thứ thuốc giảm đau.” “Cảm ơn bà, ” cậu thì thầm. Cậu không hiểu làm thế nào mà chỉ mới cách đó một phút, mình lại có năng lượng để mà chất vấn Andrew. Cậu nhấp thêm một ít từ thứ đồ uống đó, rồi lập tức ngủ thiếp đi. •§•
Khi cậu tỉnh dậy, trời đã lại về đêm. Cơ thể cậu đã ấm lên, được đắp một thứ gì nằng nặng có mùi động vật như của chó. Cậu khẽ cử động, khi cảm thấy đầu mình không sao, cậu bèn nhích người thêm chút nữa rồi ngồi dậy. “Mal, ” Alice lập tức lên tiếng từ bên cạnh cậu. “Em thấy ổn rồi chứ?” “Ừ, em nghĩ vậy, ” cậu nói. “Ở yên đó nhé. Chị sẽ đi lấy chút bánh mì và pho mát cho em.” Cô lồm cồm bò dậy, chứng tỏ cô đã nằm bên cạnh cậu. Càng ngày cô càng khiến cậu ngạc nhiên. Cậu nằm đó, tỉnh táo dần lên, để cho kí ức về ngày và đêm hôm trước cũng từ từ quay trở lại. Khi nhớ lại chuyện đã xảy ra với Lyra, cậu ngồi bật dậy trong cơn chấn động. Alice đang chìa thứ gì đó ra cho cậu. “Của em đây, ” cô nói, đặt một khoanh bánh mì to vào tay cậu. “Hơi cứng, nhưng không bị mốc đâu. Em muốn ăn trứng không? Nếu muốn chị có thể rán một quả cho em.” “Không, cảm ơn chị. Alice, có thật là chúng ta...” Cậu thì thầm, không thể nói thêm được nữa. “Bonneville?” Cô thì thầm đáp lại. “Phải, đúng vậy. Nhưng vụ đó thì suỵt. Đừng nói gì cả. Nó đã qua rồi.” Malcolm cố gắng cắn một miếng từ khoanh bánh mì và thấy nó cứng đến mức có thể trở thành một thử thách nặng nề cho hàm răng của mình, và do vậy, cho cả cơn đau trong đầu cậu nữa. Thế nhưng cậu vẫn kiên trì. Alice lại xuất hiện cùng với một chiếc cốc chứa một thứ vừa nặng lại vừa mặn. “Cái gì đây?” “Một dạng nước súp đóng viên. Chị chịu. Nó sẽ làm em khá hơn.” “Cảm ơn, ” cậu nói rồi nhấp một ngụm. “Trời đã tối được lâu chưa?” “Chưa. Vẫn có người ở ngoài kia đang đi săn trộm hay gì đấy. Chưa tối được lâu đâu.”
“Andrew đâu rồi?” “Dì nó đang quản nó. Nó sẽ không trốn ra ngoài được nữa đâu.” “Chúng ta phải...” Cậu cố nuốt một tảng bánh mì, nhưng rồi lại ợ nó ra và cố gắng nhai thêm một ít trước khi thử lại rồi tiếp tục nói bằng giọng khản đặc: “Chúng ta phải giải cứu cho Lyra.” “Ừ. Chị đang suy nghĩ về điều đó đây.” “Đầu tiên chúng ta phải kiểm tra tu viện.” “Và, ” cô nói, “chúng ta phải biết chính xác Andrew đã nói gì với họ về chúng ta.” “Chị nghĩ nó sẽ nói cho chúng ta biết sự thật sao?” “Chị có thể ép nó nói ra.” “Nó không đáng tin cậy đâu. Nó sẽ nói bất cứ điều gì để tránh bị đánh.” “Đằng nào mà chị chẳng đánh nó.” Cậu lại nhai một miệng đầy bánh mì. “Em muốn nói chuyện với người phụ nữ đã làm việc ở đó, ” cậu nói, “về vị trí của mọi thứ, phòng chăm sóc trẻ em ở đâu, làm sao đó tới được đó, vân vân.” “Chị sẽ đi gọi bà ấy tới.” Alice bật đứng dậy rồi vội vã chạy tới phía ngọn lửa, nơi vài người đang ngồi vừa hàn huyên vừa uống rượu, thỉnh thoảng lại khuấy một nồi hầm lớn. Malcolm vất vả chống người dậy cao hơn một chút, và nhận thấy rằng mặc dù cơn đau đầu đã giảm bớt, nhiều cơn đau khác, trên khắp cơ thể cậu, lại xuất hiện đòi sự chú ý của cậu. Cậu cắn một miếng pho mát và tập trung vào đó. Chẳng bao lâu sau, Alice trở lại với người phụ nữ đã lên tiếng lúc trước. Linh thú của bà là một con chuột, nó đang ngồi gặm nhấm không ngừng trên vai bà. “Đây là bà Simkin, ” Alice giới thiệu. “Chào bà Simkin, ” Malcolm nói, cố gắng nuốt miếng pho mát, và phải làm mềm nó bằng một nhấp nước súp đóng viên.
“Chúng cháu muốn biết mọi điều về cái tu viện này.” “Các cháu không định thử đột nhập vào đó và giải cứu cô bé đấy chứ?” Bà hỏi trong lúc ngồi xuống gần đó. Tay bà liên tục với lên vuốt ve con linh thú đang tỏ ra rất căng thẳng của mình. “À, có ạ, ” Malcolm nói. “Chúng cháu phải làm vậy. Không có gì phải bàn cãi cả.” “Không được đâu, ” bà nói. “Nó như một pháo đài vậy. Các cháu sẽ không bao giờ vào được đâu.” “À, được rồi. Nhưng khi đã vào được thì bên trong như thế nào ạ? Người ta giữ bọn trẻ ở đâu?” “Có một phòng chăm trẻ, đó là nơi những đứa nhỏ ngủ và được chăm sóc, nó nằm ở tầng hai, gần nơi có buồng của các nữ tu.” “Buồng á?” Alice ngạc nhiên. “Đó là cách mà họ gọi phòng ngủ của mình, ” Malcolm giải thích. “Bà có thể vẽ một sơ đồ không?” Cậu nói với người phụ nữ. Nhưng trông bà lưỡng lự và không thoải mái với việc đó tới mức cậu nhận ra rằng bà không thể đọc hay viết, và không biết chút gì về các nguyên lí của bản đồ hay sơ đồ thuộc bất cứ loại nào. Cậu thấy ngượng vì đã hỏi nên vội nói tiếp: “Ở đó có bao nhiêu cầu thang vậy?” “Có một cái ở phía trước, một cái lớn, và một cái nhỏ ở phía sau cho những người lau dọn và người giúp việc, những người như chúng tôi. Và còn một cái khác, nhưng tôi chưa từng thấy nó bao giờ. Đôi khi họ có khách, có cả đàn ông, và sẽ không đúng đắn nếu họ ở lẫn với các nữ tu, hay là cả những người giúp việc nữa, vì vậy họ có cầu thang của riêng mình. Nhưng nó chỉ dẫn lên các phòng dành cho khách, và chúng nằm biệt lập với