phần còn lại của nơi đó.” “Được rồi. Vậy khi trèo lên cầu thang của những người giúp việc, bà sẽ thấy thứ gì trên tầng hai?” Con linh thú của người phụ nữ thì thầm với bà. Bà lắng nghe rồi nói: “Cậu ấy vừa mới nhắc tôi nhớ. Trên tầng hai có một
chiếu nghỉ nhỏ và cánh cửa mở ra hành lang nơi có phòng chăm trẻ.” “Còn thứ gì khác trong hành lang đó không?” “Có hai buồng ở phía đối diện của phòng chăm trẻ. Nữ tu nào đến phiên chăm những đứa nhỏ thì sẽ ngủ ở đó.” “Phòng chăm trẻ trông như thế nào?” “Đó là một căn phòng lớn, với khoảng... Tôi không biết nữa. Có lẽ là hai mươi giường nằm và giường cũi hay gì đó.” “Có nhiều trẻ nhỏ đến vậy sao ạ?” “Không phải lúc nào cũng vậy. Thường sẽ có một hoặc hai giường trống để phòng có trẻ mới đến.” “Lũ trẻ ở đó bao nhiêu tuổi?” “Lớn nhất là bốn tuổi, tôi nghĩ vậy. Sau đó chúng sẽ chuyển đến khối nhà chính. Phòng chăm trẻ nằm trong khối nhà bếp, ngay trên nhà bếp ở tầng một.” “Còn gì khác bên cạnh phòng chăm trẻ trên khu hành lang đó không?” “Có hai phòng tắm, ở phía bên phải, trước khi tới phòng chăm trẻ. À, và còn một tủ hong đồ cho chăn đệm các thứ nữa.” “Còn hai buồng ngủ thì ở bên trái?” “Đúng vậy.” “Vậy là chỉ có hai nữ tu chăm sóc bọn trẻ thôi ạ?” “Còn một người nữa ngủ luôn trong phòng chăm trẻ.” Con linh thú chuột lại thì thầm. “Đừng quên, ” người phụ nữ nói, “họ dậy rất sớm để làm lễ.” “Ồ phải. Cháu nhớ rồi. Họ cũng làm vậy ở Godstow.” Cậu nghĩ rằng sẽ không có nhiều thời gian để tìm Lyra rồi quay trở ra, kể cả nếu cậu có vào trong được đi nữa. Nhưng chỉ cần tiếng một đứa trẻ hoảng hốt khóc lên khi thấy có sự hiện diện của người lạ trong phòng chăm trẻ là đã đủ để khiến chúng bị bại lộ...
Cậu hỏi người phụ nữ về cách sắp xếp các cửa ra vào và cửa sổ trong nhà bếp, cùng bất cứ điều gì khác mà cậu có thể nghĩ tới. Càng nghe cậu càng thấy sự việc trở nên khó khăn, và bản thân càng trở nên nhụt chí. “À, cảm ơn bà, ” cậu nói. “Tất cả những thông tin này đếu rất hữu ích.” Người phụ nữ gật đầu rồi quay trở về bên đống lửa. “Chúng ta sẽ làm gì đây?” Alice khẽ hỏi. “Đột nhập vào giải cứu cô bé. Nhưng giả sử có hai mươi đứa trẻ cùng lứa tuổi cùng đang nằm ngủ - làm sao chúng ta biết được đứa nào là Lyra đây?” “Ầy dà, chị sẽ nhận ra nó thôi. Không thể lẫn vào đâu được.” “Khi con bé thức thì quả là vậy. Pan sẽ nhận ra Asta, và cả Ben nữa. Nhưng nếu nó đang ngủ... Chúng ta không thể đánh thức tất cả bọn nhóc dậy được.” “Chị sẽ không nhìn nhầm nó được đâu. Thật ra, cả em cũng thế?” “Được rồi. Bây giờ là mấy giờ? Vẫn còn sớm hay đã tối muộn rồi?” “Trời tối om, đó là tất cả những gì chị biết.” “Vậy thì phải đi luôn thôi.” “Em đi được chứ?” “Ừ. Em thấy khá hơn nhiều rồi.” Thật ra, Malcolm vẫn thấy nhức nhối và hơi choáng váng, nhưng ý nghĩ về việc nằm ườn trong động trong lúc Lyra đang bị bắt giữ thật khủng khiếp quá sức chịu đựng. Cậu chậm rãi đứng dậy rồi tiến một hay hai bước về phía lối vào, đi thật cẩn thận, không cuống, và giữ im lặng. Alice đang tập hợp tư trang của hai đứa rồi bọc tất cả trong một tấm chăn giống như Boatwright đã làm. Khi chúng đã ra ngoài, cậu khẽ nói với Alice: “Mấy cái bánh quy mà cô bé thích vẫn ở trong xuồng chứ?” “À, chúng ta không đem lên đây nên chắc vẫn ở đó thôi.”
“Chúng ta có thể cho Lyra một cái để giữ nó yên lặng.” “Ừ, nếu...” “Canh chừng Andrew đó.” “Em có nhớ đường tới chỗ cái xuồng không?” “Chỉ cần cứ đi xuống thì cuối cùng chúng ta cũng tới đó thôi.” Dù sao thì đó cũng là điều cậu hi vọng. Kể cả nếu George Boatwright có hoàn toàn bình phục, điều mà có lẽ vẫn chưa xảy ra, thì việc nhờ ông dẫn chúng xuống cũng chẳng phải là một ý hay. Ông sẽ muốn biết chúng định đi đâu, chúng tính làm gì, rồi ông sẽ khuyên chúng đừng nên làm. Malcolm ngừng suy nghĩ về điều đó. Cậu đang khám phá ra một năng lực mới trong mình: Cậu có khả năng ngừng suy nghĩ về những điều mà cậu không muốn nghĩ tới. Cậu nhận ra khi đang dẫn đường xuống lối đi ngập tràn ánh trăng, cậu khá thường xuyên gạt sang một bên suy nghĩ về cha mẹ mình và việc họ hẳn đang khổ sở như thế nào, đang thắc mắc không hiểu cậu ở đâu, liệu cậu có còn sống hay không, cậu rồi sẽ lội ngược dòng lũ trở về ra sao. Giờ đây cậu đang lặp lại điều đó. Khoảng không dưới cây sồi xanh rất tối nên cậu có làm mặt đau khổ cũng chẳng sao. Cậu cũng có thể ngừng lại chỉ sau vài giây. “Mặt nước kia rồi,” Alice nói. “Đi cẩn thận nhé. Có thể lại có một con thuyền khác đang rình rập xung quanh...” Chúng đứng yên ngay trong bóng tối của những tán cây quan sát và lắng nghe. Vùng nước rộng lớn hiện ra rõ mồn một trước mắt chúng, và âm thanh duy nhất là tiếng sóng xô lên cỏ và những bụi cây. Malcolm đang cố gắng nhớ xem chúng đã để con thuyền lại ở bên trái hay bên phải của lối đi. “Chị có nhớ nó ở đâu...” “Nó kìa, nhìn đi,” cô nói.
Cô bé đang chỉ sang bên trái, và ngay khi dõi theo hướng nhìn của cô, cậu cũng thấy nó. Chiếc xuồng gần như không hề được che đậy nhưng chỉ ngay lúc trước nó vẫn còn hoàn toàn vô hình. Ánh trăng chói lọi tới mức mọi thứ nằm dưới những thân cây đều bị mắc trong một mạng lưới những bóng đen rối loạn. “Chị tinh mắt hơn em đó, ” cậu nói rồi kéo chiếc thuyền lên mặt cỏ, kiểm tra khắp xung quanh rồi xoay đầu xuôi lên trên. Cậu âu yếm vuốt ve suốt dọc vỏ thuyền, kiểm tra xem tất cả các móc vành có chắc chắn hay không, đếm số lượng các vành khi chúng nằm trong xuồng, đảm bảo rằng lớp vải dầu được gập và cất đi cẩn thận. Tất cả đều gọn gàng ngăn nắp, vỏ thuyền không bị hư hại dù cho lớp sơn chỉn chu của người du mục đã bị xước xát. Cậu đẩy nó xuống nước, một lần nữa lại cảm thấy như thể cái vật vô tri vô giác này đang vui sướng sống lại khi gặp môi trường của mình. Cậu giữ mép thuyền trong lúc Alice bước vào, sau đó đưa cho cô chiếc balô mà cậu lấy từ gã Bonneville đã chết. “Trời ạ, thứ này nặng quá, ” cô kêu lên. “Có gì trong đó vậy?” “Chẳng có thời gian để kiểm tra nữa. Ngay khi cứu được Lyra và tìm được chỗ nào đó an toàn để nghỉ chân, chúng ta sẽ mở nó ra xem. Sẵn sàng chưa?” “Rồi, đi đi.” Cô quấn một lớp chăn quanh đôi vai gầy của mình rồi cảnh giới phía sau khi cậu bắt đầu chèo. Trăng rọi sáng vằng vặc, mặt nước trở thành một tấm kính chảy xiết. Malcolm khoan khoái vì lại được chèo thuyền, bất chấp những vết bầm dập, cậu đều đặn lái về phía trung tâm cơn lũ. Cảm giác duy nhất về tốc độ mà cậu có là luồng không khí lạnh toát phả lên mặt mình và sự thỉnh thoảng rung động của vỏ thuyền khi một trở lực nào đó ở sâu phía dưới đẩy một đợt sóng nhẹ lên bề mặt. Cậu có cả ngàn mối lo sợ. Nếu bỏ lỡ tu viện này, chúng sẽ không bao giờ có thể tìm đường trở lại trước áp lực nước như thế này. Còn nếu chúng tới được đó và thấy nơi đấy được canh gác
thì sao? Hoặc là không thể vào trong? Và giả sử... Rồi đủ thứ chuyện. Nhưng cậu đã đẩy tất cả những suy nghĩ đó sang một bên. Chúng tiếp tục lao đi, còn mặt trăng vẫn tiếp tục toả sáng. Alice liên tục rà soát dòng chảy phía sau, cả hai bên, và xa tới tận chân trời, nhưng cô không thấy con thuyền nào cả, hoàn toàn không có chút dấu hiệu nào của sự sống. Chúng trao đổi rất ít. Kể từ trận chiến với Bonneville, một điều gì đó to lớn đã thay đổi trong mối quan hệ giữa chúng, và nó không chỉ là việc cô bắt đầu gọi cậu là Mal. Một bức tường thù địch đã sụp đổ và tan biến. Giờ chúng là bạn bè và việc ngồi bên cạnh nhau đã trở nên dễ dàng hơn. Có thứ gì đó phía trước đang lập loè toả sáng trên đường chân trời, vẫn còn quá xa phía trước. “Chị có nghĩ đó là ánh đèn không?” Cậu hỏi, chỉ về phía trước. Cô quay lại nhìn. “Có thể. Nhưng trông nó giống một thứ gì đó màu trắng hơn, với ánh trăng chiếu lên đó.” Rồi nó lại xuất hiện: cái vòng dát vàng, cực quang của riêng cậu. Giờ nó đã trở nên thân thuộc đến nỗi cậu gần như chào đón nó, dẫu cho nó khiến việc nhìn những thứ phía sau trở nên khó khăn. Và ngay phía trong đường cong lộng lẫy từ thiên đường đang lớn dần lên này là thứ mà Alice đã nhắc tới, một toà nhà đồ sộ lấp loá trắng dưới ánh trăng. Chúng đang đi nhanh tới mức chẳng bao lâu sau đã thấy rõ rằng cô bé đoán đúng: Một toà nhà lớn, trông như lâu đài, nhô lên khỏi mặt nước; nhưng đó không phải là lâu đài, bởi thay vì một toà tháp vĩ đại ngay chính giữa, ở đó lại mọc lên chóp nhọn của một nhà nguyện. “Đúng nó rồi!” Malcolm kêu lên. “Rộng mênh mông luôn, ” Alice thốt lên. Toà nhà nằm ở phía bên trái khi chúng trôi vùn vụt về phía nó. Tu viện được dựng lên từ một loại đá nhẹ đang toả sáng không khác nào tuyết phản chiếu dưới ánh trăng chói loà, một
tổ hợp vĩ đại trải rộng của những bức tường, mái nhà và trụ tường, tất cả bao lấy toà tháp nhọn mảnh mai. Những ô cửa sổ đen ngòm chọc thủng những vách đá trơn phẳng màu trắng, cứ thỉnh thoảng lại loé lên ánh phản chiếu của mặt trăng khi chiếc xuồng bồng bềnh trôi lại gần. Nó vừa sáng lại vừa đen hệt như những mảng lấp lánh trên cái vòng dát vàng, lúc này đã tiến tới đủ sát để gần như vuột ra khỏi tầm mắt ra phía sau cậu. Toà nhà không có ô cửa sổ nào đủ thấp để trèo vào, hoàn toàn không có cửa ra vào, không cầu thang: chỉ là những phiến đá trắng đồ sộ dựng thẳng đứng, không có lấy một sự gián đoạn trên cái dáng vẻ phẳng phiu cao quá bất cứ thứ gì chúng có thể với tới từ mặt nước. Như một pháo đài, nơi này dường như được thiết kế để khước từ mọi nỗ lực nhằm thâm nhập vào bên trong. Lúc này Malcolm đang kìm chiếc xuồng lại, cố gắng kháng cự lại sức mạnh khủng khiếp của cơn lũ, và La Belle Sauvage đáp lại một cách tuyệt hảo. Nó gần như có thể múa trên mặt nước, Malcolm nghĩ rồi âu yếm vuốt ve mép thuyền. “Em có thấy đường vào không?” Alice khẽ hỏi. “Chưa thấy. Nhưng đằng nào thì chúng ta cũng sẽ không đi vào bằng lối cửa chính đâu.” “Chắc là không rồi... Nó hoành tráng phát khiếp nhỉ. Cứ nối dài mãi.” Malcolm đang rẽ xuồng vào cổng, để đi vòng quanh xem toà nhà kéo dài đến tận đâu. Khi chúng để lại mặt trăng phía sau và tiến vào bóng tối mênh mông của những bức tường, cậu cảm thấy một cơn ớn lạnh, dù cho cậu vẫn đang bị lạnh sẵn, với lại mặt trăng cũng đâu có toả ra chút hơi ấm nào. Ở đây chúng đã thoát khỏi dòng chảy chính, và cậu có thể đưa xuồng lại gần để nhìn lên những bức tường sừng sững, xem xem liệu có bất cứ cách thức nào để đột nhập hay không; nhưng có vẻ như điều đó là vô vọng. “Cái gì vậy?” Alice hỏi. “Gì cơ?” “Nghe đi.”
Cậu ngồi yên và nghe thấy tiếng nước ì oạp khe khẽ không ngừng dưới chân một bức tường cách đó không xa. Ở đó có một thứ giống như một trụ tường đá rộng, vươn hết chiều cao của bức tường, phía trên đỉnh, nó nối vào một cụm ống khói với ánh trăng rọi chiếu rực rỡ. Cậu nghĩ: Họ phải có một nhà bếp ở đâu đó, nên có lẽ nó ở đây... Và rồi cậu phát hiện ra thứ đang kêu ì oạp. Một hình vuông mở ra gần chân tường, không xa cụm ống khói, trong đó có một tấm lưới sắt treo lủng lẳng, đang để cho dòng nước bắn ra và chảy vào theo một cung đều đặn. “Nhà vệ sinh, ” Alice nói. “Không. Em không nghĩ vậy. Nước khá sạch, thấy không, cũng không bốc mùi... Có lẽ chỉ là nước tràn hay gì đó.” Cậu tiếp tục chèo tới góc tường tiếp theo, thật chậm rãi và lặng lẽ. Chúng vẫn đang ở trong vùng bóng đổ của ánh trăng, nhưng cậu biết rằng bất cứ thứ gì di chuyển cũng đều thu hút ánh nhìn, ở đó lại không có bụi cây hay lau sậy để mà ẩn trốn: chỉ có vùng nước trơ trọi và phiến đá trống không. Sẽ rất dễ để phát hiện ra chúng. Cực kì cẩn trọng, cậu đưa xuồng tiến tới, lách qua góc nhà đồ sộ rồi nhìn dọc theo thứ hẳn là mặt tiền của toà nhà. Alice đang tóm chặt lấy hai mép thuyền rồi căng mắt ra nhìn trong thứ ánh sáng đánh lừa người quan sát. Malcolm xoay ngang thuyền để cho bất cứ ai đang nhìn từ hướng đó sẽ chỉ thấy một cái bóng nhỏ hơn rất nhiều. Đến gần nửa đường ở phía mặt tiền có một dãy bậc thang rộng, được phủ lên bởi một cánh cổng nơi những cột chống kiểu cổ điển đỡ lấy một trán tường... Có phải kia là một dáng người giữa các cây cột không? Alice đang vặn người lại để nhìn về phía sau. Rồi cô thì thầm: “Có một người đàn ông - hai người - nhìn kìa, họ có một con thuyền...” Có một con thuyền gắn động cơ được buộc ở dưới chân cầu thang. Alice nói đúng: Có hai người đàn ông. Khi Malcolm nhìn, họ bước ra khỏi hàng cột một cách lười biếng và nói chuyện với nhau. Họ đang hút thuốc, súng trường treo trên vai.
Còn thận trọng hơn cả lúc trước, Malcolm lái xuồng ngược trở lại, qua góc nhà và ra khỏi tầm mắt. “Người đàn ông trong hang động đã gọi họ là gì nhỉ?” Cậu thì thầm. “Hội Bảo an Chúa Thánh Linh - họ canh gác các tu viện và những nơi khác... Chậc, chúng ta không vào bằng lối đó được rồi.” Cậu lại nhìn lên phía những ống khói, một ý tưởng chợt loé ra. “Nếu đây là nhà bếp, phải, ngay bên trong bức tường này này, vì nó có ống khói - thì, chị biết trong tu viện ở Godstow không?” Đột nhiên cậu phấn chấn hẳn lên. “Trong căn phòng cũ kĩ mà họ gọi là buồng rửa bát ấy?” “Chị chưa từng vào trong đó.” “À, nó cũ lắm rồi, có một cái ống dẫn nước từ xưa - nó chảy ra từ dòng suối rồi xả vào một dạng máng xối bằng đá bắt ngang qua sàn và ra ở đầu bên kia - vào dòng sông - thỉnh thoảng sơ Fenella có đổ nước dùng để rửa bát vào trong đó...” “Em nghĩ đây là một kiểu như thế à?” “Ừ, có thể lắm chứ. Thứ nước này sạch mà.” “Nó có một tấm lưới sắt to tổ chảng chắn ngang thế kia.” “Đây, cầm lấy mái chèo và giữ cho thuyền lên đến gần nó đi...” Khi cô bé đã giữ được vững thuyền, cậu đứng dậy tóm chặt lấy cái lưới sắt, ngay lập tức nó rời ra trong một cơn mưa bụi đá cùng trát vữa rồi rơi xuống bằng một tiếng tủm thật to giữa chiếc xuồng và bức tường. “Mẹ ơi!” Cậu kêu lên, lấy lại thăng bằng. “Chúng ta không thể vào trong đó được!” “Tại sao không?” “Thì, thứ nhất là, chúng ta sẽ không thể trở ra được nữa. Chẳng có gì để buộc con thuyền lại cả. Và giả sử có một tấm lưới khác ở trên đỉnh, chỗ thông ra nhà bếp hay buồng rửa bát hay gì đó thì sao? Dù sao thì chúng ta cũng sẽ bị ướt mất. Nước lạnh cóng luôn.”
“Em sẽ thử. Chị sẽ phải ở lại đây cùng với chiếc xuồng. Chỉ cần để nó thăng bằng, giữ ấm người và đợi.” “Em không thể...” Cô định nói nhưng lại bặm môi lại. “Em sẽ chết đuối mất, Mal.” “Nếu quá khó khăn, em sẽ quay trở lại và chúng ta sẽ nghĩ cách khác. Nhớ đứng gần tường đó. Đẩy thuyền gần lại với cụm ống khói. Em sẽ đi nhanh nhất có thể.” Cậu tóm lấy mép xuồng rồi nghĩ: Chăm sóc chị ấy nhé, Belle Sauvage. Rồi cậu lại đứng lên, với tới khoảng mở và giữ chặt lấy gờ đá. Dòng nước không lớn về thể tích nhưng lại rất lạnh và chảy liên tục, cho đến khi kéo được người lên, cậu đã bị ướt tới tận da thịt. Asta đã vào trong ống nước dưới dạng rái cá, hàm răng ngập trong tay áo cậu, nó kéo rồi lại kéo, và cuối cùng hai đứa nằm thở hổn hển trên sàn ống dẫn, cố gắng giữ cho một phía cơ thể trồi lên khỏi dòng chảy của nước. “Dậy nào, ” Asta kêu lên. “Cậu có thể bò, chỗ này đủ cao để làm vậy...” Hai cẳng chân bị trầy xước, móng tay bị gãy. Cậu thận trọng quỳ dậy và thấy rằng, như con linh thú nói, có đủ khoảng không để bò. Asta biến thành một dạng thú ăn đêm rồi bám lấy lưng cậu với đôi mắt to tròn, hút lấy mọi luồng sát lập loè dù là nhỏ nhất. Thế nhưng, không lâu sau đã chẳng còn chút ánh sáng nào, nên chúng bò lên trên trong bóng tối hoàn toàn; Malcolm bắt đầu hoảng sợ khủng khiếp. Cậu nghĩ tới khối lượng đá khổng lồ trên đầu chúng; cậu muốn đứng dậy; cậu muốn vươn hai tay lên quá đầu, cậu muốn có nhiều không gian hơn nữa... Cậu gần như hoảng loạn, nhưng Asta khẽ lên tiếng: “Không còn xa nữa đâu - thật đấy - tớ có thể thấy ánh sáng từ nhà bếp rồi - chỉ thêm một chút nữa thôi...” “Nhưng giả như...” “Đừng có giả như gì hết. Chỉ cần hít thở sâu thôi.” “Không thể không run rẩy được...”
“Ừ, nhưng cứ đi tiếp đi. Chắc chắn trong bếp phải có một cái lò đốt nóng suốt đêm. Nơi này đồ sộ như thế mà. Chỉ một phút là cậu sẽ ấm lên thôi. Cứ gạt những suy nghĩ đó sang một bên như chúng ta đã học được đi. Đi tiếp nào - đúng rồi...” Hai tay hai chân cậu tê cóng vì lạnh, nhưng không đến mức khiến cậu không cảm nhận được cơn đau nhức nhối trong trạng thái tê liệt. “Làm sao chúng ta đem được Lyra xuống đây...” “Chúng ta sẽ tìm được cách thôi. Có cách - chỉ là chúng ta chưa biết đến nó thôi. Đừng dừng lại...” Sau một phút tuyệt vọng nữa, đôi mắt cậu bắt đầu nhìn thấy những gì mà mình đã không tin nhưng mắt của con linh thú thì lại thấy được: Một tia sáng lấp loáng trên những bề mặt ẩm ướt của đường hầm. “Đến rồi,” con linh thú thông báo. “Ừ - chỉ hi vọng sẽ không có...” Một tấm lưới ở trên đỉnh giống như cái ở dưới đáy, cậu định nói vậy. Nhưng đương nhiên là có: Nếu có thứ gì đó rơi vào trong ống nước, các nhân công nhà bếp sẽ không muốn nó biến mất. Đến lúc này cậu gần như đã tuyệt vọng. Những thanh sắt đen ngòm đứng đó nặng nề, im lìm giữa cậu và buồng rửa bát lờ mờ sáng phía bên kia. Chẳng có cách nào để đi qua cả. Cậu cố nén lại một tiếng nức nở. “Không, đợi đã, ” Asta kêu lên. Lúc này đang ở dạng chuột, nó lao vụt lên chỗ tấm lưới để kiểm tra kĩ lưỡng. “Thỉnh thoảng họ sẽ phải rửa dọn ống nước - họ sẽ phải đưa chổi các kiểu xuống dưới này...” Malcolm cố gắng trấn tĩnh lại. Thêm một tiếng nấc, vì lạnh cũng nhiều như vì tuyệt vọng, làm lồng ngực cậu rung lên, nhưng sau đó cậu nói: “Phải, đúng vậy. Có lẽ...” Cậu tóm lấy những thanh sắt, giật chúng, cảm thấy chúng dịch chuyển, chúng dịch tới dịch lui trong một khoảng rất nhỏ. “Có cái - ở trên đỉnh...” “Bản lề - có!”
“Vậy thì ở dưới đáy...” Malcolm luồn tay qua tấm lưới rồi lần tìm xung quanh, chỉ nhờ vậy mà cậu đã tìm thấy một then cài nặng trịch bằng sắt bắc ngang qua các thanh chắn ngay phía trên mặt nước, đầu cắm sâu vào trong một cái lỗ trên vách đá. Nó được tra dầu cẩn thận nên chẳng cần cố sức cũng kéo được ra. Lớp lưới xoay lên về phía nhà bếp, đôi tay tê cóng và run rẩy của Malcolm tìm thấy một cái móc phía trên để giữ nó chắc chắn. Trong thoáng chốc, cậu đã bò bên dưới để luồn vào trong căn phòng. Như cậu dự đoán, nó là một buồng rửa bát với những cái bồn để rửa và giá để hong khô bát đĩa sứ. Sau bóng tối trong ống nước, đôi mắt cậu chào đón ánh sáng lờ nhờ cho phép cậu nhìn được mọi thứ ở đó. Dòng nước chảy ngang qua sàn, giống như cái ở Godstow, trong một máng xối xếp gạch. Và, thật không còn gì tuyệt vời hơn, ở đó có một lò bếp, đang không hoạt động nhưng vẫn còn cháy sáng, bên trên đó là cả giá khăn bông âm ấm, được treo ở đó cho khô sau khi giặt. Cậu lột áo len và áo sơ mi ra rồi quấn một tấm chăn lớn quanh hai vai, xúm lại gần lò bếp, đung đưa người qua lại trong lúc cái lạnh dần dần rời khỏi cơ thể. “Tớ sẽ không bao giờ ấm trở lại nữa, ” Malcolm nói. “Và nếu cứ run bần bật lên thế này, tớ sẽ không bao giờ giữ yên lặng nổi trong phòng chăm trẻ đó để tìm Lyra được. Cậu có chắc chúng ta sẽ nhận ra cô bé không? Trẻ sơ sinh chẳng phải đứa nào cũng na ná như nhau sao?” “Tớ sẽ nhận ra Pan, và nó sẽ nhận ra tớ.” “Nếu cậu nói vậy... Chúng ta không thể ở lại đây lâu được.” Cậu đang nghĩ tới Alice. Với cô chắc hẳn việc phải ở ngoài trên mặt nước mà không có chỗ trốn sẽ chẳng khác gì tra tấn. Cậu kéo áo sơ mi và áo len lên, có ướt cũng mặc, rồi lại run lên như cầy sấy. “Đi thôi nào, ” Asta nói. “Ô nhìn kìa! Cái hộp đó...” Giờ nó đã hoá thành mèo. Cái hộp mà nó ám chỉ là một vật bằng gỗ thuộc loại có thể dùng để đựng táo. Ồ
“Nếu mà... Ồ phải rồi! Đúng thế!” Nó đủ lớn cho Lyra. Nếu cậu lót nhiều lớp khăn, cô bé có thể vẫn khô ráo khi cậu kéo nó xuống ống nước. Cậu lôi vài tấm khăn xuống khỏi giá rồi đặt chúng vào bên trong, sẵn sàng đón Lyra. “Giờ thì đi nào, ” cậu nói. Cậu mở cửa buồng rửa bát và lắng nghe. Im phăng phắc. Rồi, từ đâu đó phía trên cao cách đó khá xa, một tiếng chuông trầm trầm ngân vang ba lần. Cậu rón rén bước men theo dãy hành lang bằng đá, hướng tới, cậu hi vọng, cây cầu thang phía sau. Dọc trên tường có gắn những ngọn đèn mạch toả sáng mờ ảo, nếu không có chúng thì bức tường trống trơn và được quét sơn trắng bóc, với những cánh cửa mở ra cả hai bên trái phải. Rồi tiếng chuông lại vang lên, to hơn trước rất nhiều, cậu nghe thấy tiếng hát đồng ca, như thể cánh cửa dẫn vào một nhà thờ nhỏ hay nhà nguyện đã được mở ra. Cậu nhìn quanh: Chẳng có chỗ nào để trốn cả. Tiếng hát vẫn ngày một to lên, và rồi trước nỗi kinh hoàng của cậu, một hàng nữ tu, hai tay chắp lại với nhau, mắt cụp xuống, bước vòng qua một góc nhà rồi tiến thẳng về phía cậu. Rõ ràng là, giống như các nữ tu ở Godstow, họ liên tục tỉnh dậy suốt buổi đêm để hát và cầu nguyện. Nhưng cậu đã bị bắt gặp mất rồi. Cậu chẳng thể làm gì ngoài việc đứng run rẩy và cúi gằm đầu xuống. Có ai đó dừng lại trước mặt cậu. Cậu giữ cho đầu cúi thật thấp, nên chỉ có thể thấy được hai bàn chân đi xăng-đan và viền áo tu hành của bà. “Nhóc, cháu là ai vậy? Cháu đang làm gì thế?” “Cháu tè ra giường rồi, thưa cô. Thưa sơ. Sau đó cháu lạc đường.” Cậu cố gắng tỏ ra buồn khổ, và thực tế thì việc đó chẳng có gì khó khăn cả. Cậu sụt sịt rồi chùi mũi lên tay áo. Ngay sau đó, một cú bạt đau điếng lên mạn đầu khiến cậu loạng choạng đổ về phía bức tường.
“Thằng lỏi bẩn thỉu. Đi lên gác vào phòng tắm mà rửa ráy đi. Sau đó lấy một tấm vải dầu và chăn mới trong tủ hong đồ rồi trở về giường ngay. Sáng mai chúng ta sẽ thảo luận hình phạt cho mày.” “Cháu xin lỗi, thưa sơ...” “Đừng có rên rỉ nữa. Làm như ta bảo đi, và đừng có làm ồn đấy” “Cháu không biết phòng tắm ở đâu...” “Đương nhiên là mày có biết. Leo lên cầu thang hậu rồi đi dọc theo hành lang. Nhớ giữ yên lặng đấy.” “Vâng, thưa sơ.” Cậu lê bước về hướng mà bà chỉ rồi cố tỏ ra ăn năn. “Tốt! Tốt!” Asta thì thầm trên vai cậu. Nó đã cố kìm nén mong muốn tự nhiên được hoá thành một thứ gì đó có thể cắn và doạ nạt, để giữ nguyên hình dạng con chim cổ đỏ. “Với cậu thì ổn cả rồi. Bà ta có đánh vào đầu cậu đâu. Nhưng vải dầu sẽ có ích đó. Cho cái hộp.” “Cả mấy cái chăn nữa...” Cậu tìm thấy cây cầu thang khá dễ dàng. Nó được thắp sáng, như mọi thứ khác mà cậu thấy cho tới lúc này, bằng một bóng đèn mạch lờ mờ, khiến cậu thắc mắc làm sao mà nơi này vẫn có mạch. “Chắc chắn trong một trận lũ thì mạch sẽ là thứ đầu tiên bị mất, ” cậu nói. “Họ hẳn là có máy phát.” Chúng chỉ đang thì thầm vừa đủ nghe. Trên đỉnh cầu thang, một hành lang màu nâu xám chạy thẳng về phía trước mặt, với một lớp chiếu dừa thô nhám trải trên sàn. Ánh sáng ở đây thậm chí còn mờ mịt hơn. Nhớ lại những gì người phụ nữ trong động đã nói với chúng, Malcolm đếm các cánh cửa: Những cái bên trái là các buồng của nữ tu còn những cái bên phải thì đầu tiên là hai phòng tắm rồi kế đến là phòng chăm trẻ. “Cái tủ hong đồ đâu ấy nhỉ?” Cậu thì thầm.
“Kia kìa, giữa hai phòng tắm đó.” Cậu mở cánh cửa nhỏ ra và phải hứng lấy một luồng khí nóng có mùi ẩm mốc. Các ngăn tủ đựng những tấm chăn mỏng được gập lại dựng lên phía trên một bồn chứa nước nóng.” “Đống vải dầu kia rồi,” Asta nói. Chúng nằm thành từng cuộn trong ngăn trên cùng. Cậu lấy một cái xuống cùng với vài tấm chăn. “Không mang thêm nổi nữa, nhất là khi phải đem theo cô bé. Như thế này đã đủ khó khăn rồi.” Cậu lặng lẽ đóng cửa tủ lại và rồi, cùng với Asta trong dạng chuột, cậu lắng nghe chăm chú hết sức bên ngoài phòng chăm trẻ. Tiếng ngáy khe khẽ, có lẽ là của nữ tu túc trực, một tiếng khụt khịt và tỉ tê nho nhỏ: không hơn. “Chờ đợi cũng chẳng được gì đâu, ” Malcolm thì thầm. Cậu vặn nắm đấm cửa, cố gắng làm thật khẽ, nhưng tiếng động nhỏ mà bản thân tạo ra với cậu nghe chẳng khác nào tiếng một cái que đập vào xô vậy. Chẳng thể cứu vãn được gì, cậu liền lẻn vào trong rồi đóng cửa lại, sau đó đứng im như phỗng, đánh giá địa điểm này. Một căn phòng dài, với một bóng đèn mạch lờ mờ ở mỗi đầu. Một hàng giường cũi chạy dọc một bức tường, hàng giường nhỏ ở tường bên kia, cùng một chiếc giường người lớn ở đầu gần hơn nơi một nữ tu đang say ngủ, và - giống như cậu đã nghe thấy từ bên ngoài - đang ngáy nhè nhẹ. Sàn nhà được lót vải sơn màu nâu xám, còn những bức tường thì trống trơn. Cậu nghĩ tới căn phòng chăm trẻ nhỏ nhắn xinh đẹp mà các sơ đã làm cho Lyra ở Godstow, và siết chặt nắm đấm. “Tập trung vào, ” Asta thì thầm. “Lyra đang nằm ở một trong những cái giường cũi này đấy.” Có quá nhiều thứ có thể trở nên xấu đi đến mức Malcolm suýt nữa thì không thể gạt chúng sang một bên trong đầu mình. Cậu nhón chân tới chiếc giường cũi đầu tiên rồi nhòm vào, Asta
biến thành loài chim ăn đêm nào đó, đậu lên thành giường và nhìn xuống. Một đứa bé to lớn nặng nề có mái tóc đen: không phải, chúng lắc đầu. Kế bên: quá nhỏ. Tiếp theo: đầu quá tròn. Tiếp nữa: quá vàng hoe. Tiếp nữa: quá lớn. Tiếp nữa - nữ tu trong chiếc giường phía sau chúng rên rỉ và lầm bầm trong giấc ngủ. Malcolm đứng im như tượng và nín thở. Sau một lúc, người phụ nữ thở dài nặng nề rồi lại im bặt. “Tiếp nào, ” Asta kêu lên. Đứa trẻ tiếp theo có cỡ người và màu sắc khá giống, nhưng nó không phải là Lyra. Cậu thấy ngạc nhiên: Rốt cuộc thì lại dễ đoán ghê. Chúng đi tới giường tiếp theo, đúng lúc đó nắm đấm cửa vặn mở. Không nghĩ ngợi gì, Malcolm lao thẳng tới chiếc giường gần nhất tựa vào bức tường phía đối diện rồi ép người xuống phía dưới trong lúc ôm chặt lấy đống chăn và vải dầu. Hai giọng nói đang phát ra từ đầu bên kia của căn phòng, lặng lẽ và bí mật, một trong hai là giọng của một người đàn ông. Cả người Malcolm đã lạnh cóng, nhưng cậu lại bị một cơn ớn lạnh chi phối. “Giúp tớ ngừng run rẩy đi!” Cậu tuyệt vọng thầm nghĩ, Asta liền lập tức biến thành một con chồn sương rồi nằm sát quanh cổ cậu. Những tiếng bước chân chậm rãi tiến về phía chúng. Những tiếng nói tiếp tục lầm rầm phát ra. “Cha có chắc về điều này không?” Người phụ nữ nói. “Chắc chắn. Đứa trẻ đó là con gái Ngài Asriel.” “Nhưng làm sao nó lại rơi vào một hang động trong rừng cùng với lũ săn trộm và trộm cắp được? Thật vô lí.”
“Ta không biết chuyện xảy ra thế nào, sơ ạ. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được. Đến lúc chúng ta cử người quay lại dò hỏi thì hẳn là chúng đã cao chạy xa bay rồi. Ta phải nói rằng chuyện này thật...” “Xin nói khẽ thôi, thưa Cha.” Cả hai đều có vẻ đang cáu kỉnh. “Nó là đứa nào?” Vị linh mục hỏi. Malcolm ngẩng đầu lên nhìn theo trong lúc bà nữ tu dẫn ông tới cái giường cũi thứ sáu từ phía đầu phòng của họ. Linh mục đứng nhìn xuống cô bé. “Sáng mai ta sẽ đem nó theo, ” ông nói. “Xin Cha thứ lỗi, thưa cha Joseph, nhưng Cha sẽ không làm thế được. Bây giờ nó đang được chúng tôi chăm sóc, và nó sẽ ở lại đây. Đó là luật của Dòng chúng tôi.” “Quyền hạn của ta vượt qua cả luật lệ của Dòng các vị. Dù sao thì ta cũng cho rằng điều mà một nữ tu của Dòng Phục Mệnh Thánh phải làm đó là tuân lệnh. Ta sẽ đem đứa bé này đi vào buổi sáng, chuyện chấm dứt ở đây.” Ông ta quay đi rồi bước tới cuối căn phòng, và ra khỏi cửa. Một hay hai đứa trẻ đang ngủ lẩm nhẩm nói hoặc rên rỉ khóc trong giấc ngủ khi ông đi qua, còn nữ tu nằm trong chiếc giường phía cuối phát ra một tiếng ngáy run rẩy khe khẽ rồi trở mình. Vị nữ tu vừa bước vào đứng lại bên giường cũi của Lyra trong một lúc rồi chậm chạp lê bước về phía cửa. Malcolm có thể nhìn suốt chiều dài của căn phòng từ phía dưới những chiếc giường, và trong ánh sáng lờ mờ từ ngoài hành lang, cậu thấy đôi chân đi xăng-đan của bà dưới lớp áo tu sĩ dài khi bà dừng chân và quay lại nhìn. Bà cứ đứng đó trong một lúc, khiến cậu nghĩ: Bà ta thấy mình rồi sao? Bà ta sẽ làm gì? Nhưng cuối cùng bà cũng quay đầu bỏ đi và đóng cửa lại. Malcolm nghĩ tới Alice, một mực chờ đợi bên ngoài trong giá rét, bị cắt đứt mọi thông tin về chuyện đang xảy ra. Cậu và Lyra thật may mắn làm sao khi có cô để trông cậy vào! Nhưng cậu có
thể cứ nằm ở đó bao lâu nữa đây? Không lâu đâu. Cả người cậu đang nhức nhối vì lạnh. Chầm chậm và thận trọng, cậu rướn người ra từ phía dưới gậm giường. Asta đang quan sát xung quanh trong dạng mèo, tai dựng thẳng. Khi cậu đứng dậy, nó liền bay lên vai cậu trong dạng chim hồng tước. “Bà ta đi xuống hành lang rồi,” nó thì thầm. “Đi thôi!” Malcolm vừa run lên như cầy sấy vừa rón rén đi tới chiếc giường cũi. Cậu đang định đưa tay xuống thì Asta kêu lên: “Khoan...” Cậu lùi lại rồi nhìn quanh, nhưng nó nói: “Không - nhìn kìa!” Đứa trẻ đang ngủ có mái tóc xoăn dày và đen nhánh. “Đây không phải Lyra, ” cậu nói một cách ngớ ngẩn. “Nhưng bà ta nói...” “Kiểm tra những cái giường khác đi!” Cậu kiểm tra hai chiếc giường ở hai bên. Chiếc bên phải trống không, nhưng ở bên trái... “Có phải cô bé không?” Lúc này cậu đã hoang mang tới mức thậm chí không còn đoán nổi nữa. Trông thì giống Lyra, nhưng nữ tu đó đã rất chắc chắn... Asta với đôi cánh lặng lẽ bay xuống chiếc gối. Asta cúi đầu xuống con linh thú nhỏ đang ngủ say quanh cổ đứa bé, rồi khẽ huých nó. Đứa trẻ cựa quậy rồi thở dài. “Có phải không?” Malcolm hỏi, giọng càng khẩn khoản hơn. “Phải. Đây là Pan. Nhưng có điều gì đó - tớ không biết nữa - có điều gì đó không đúng...” Asta nâng đầu con linh thú chồn sương lên, nhưng nó lại rơi bịch xuống ngay khi bị thả ra. “Đáng lẽ chúng phải tỉnh dậy rồi,” Malcolm nói. “Chúng đã bị đánh thuốc. Tớ có thể ngửi thấy mùi ngòn ngọt trên môi cô bé.”
Ít nhất thì điều đó cũng sẽ khiến mọi việc dễ dàng hơn, Malcolm nghĩ. “Cậu có hoàn toàn chắc chắn đây là cô bé không?” “Chậc, nhìn đi. Cậu thì không dám chắc sao?” Ánh sáng rất yếu ớt, nhưng khi cúi xuống thật sát và nhìn vào gương mặt đứa bé, cậu đã biết vượt trên mọi nghi ngờ rằng đây chính là Lyra mà cậu yêu mến. “Phải, là cô bé. Đương nhiên rồi. Đi nào.” Cậu trải số chăn đang mang theo lên sàn, rồi trong lúc Asta dịu dàng nhấc Pan đang say ngủ ra, cậu cúi xuống bế lấy đứa bé, cảm thấy đôi chút ngạc nhiên vì sự chắc chắn của cô bé. Nó không cựa quậy cũng chẳng lẩm nhẩm nói mà chỉ nằm trong vòng tay cậu, chìm sâu trong giấc ngủ. Cậu đặt Lyra lên lớp chăn rồi cuộn chúng lại quanh cô bé. Asta, lúc này đang ở dạng lửng, cắp lấy Pan trong miệng, rồi chúng lặng lẽ tiến bước giữa dãy giường cũi và dãy giường thường, đi qua bà sơ đang ngủ ở cuối phòng, vẫn đang ngáy khe khẽ, rồi mở cửa ra. Im lặng. Không chờ đợi đến một giây, Malcolm liền bước qua rồi tới Asta, sau đó chúng đóng cửa lại rồi rón rén tiến lại phía cầu thang. Khi chúng vừa định đặt bước đầu tiên xuống thì tiếng chuông lớn vang lên, khiến cậu bị giật mình đến độ suýt nữa thì vụng về làm rơi cái bọc; nhưng đó chỉ là tiếng chuông báo giờ. Chẳng có gì xảy ra. Chúng tiếp tục đi xuống nhà bếp rồi vào buồng rửa bát, và thấy cái hộp gỗ tại nơi mà chúng đã để lại. Malcolm đặt Lyra lên bàn, lót hộp bằng lớp vải dầu, rồi đặt đứa bé và đống chăn vào bên trong. Sau đó Asta đặt con linh thú với cơ thể mềm oặt vào chỗ của nó quanh cổ Lyra. Malcolm hỏi: “Sẵn sàng chưa?” “Tớ sẽ đi trước, ” Asta nói. Malcolm đang run lên dữ dội tới mức cậu nghĩ mình sẽ không bao giờ có thể ôm nổi cái hộp, nhưng cậu vẫn cố bước được vào ống thoát nước, lưng quay về phía lối ra, và kéo cái hộp theo sau mình. Khi chúng đã chui xuống dưới tấm lưới, cậu liền
với tay lên để gỡ nó ra khỏi cái móc. Cậu không thể ngăn nó rơi xuống với một tiếng ầm thật lớn, và ước gì mình cứ để nó như vậy, nhưng chẳng thay đổi được gì nữa rồi. Cậu trèo ngược xuống ống nước, rên rỉ vì lạnh, đầu bị đập, hai đầu gối bị trầy xước, trượt chân, ngã đập mặt, lại dựng người dậy, vào trong bóng đêm; cho tới khi Asta kêu lên: “Kia rồi! Chúng ta gần đến nơi rồi!” Cậu có thể nhìn thấy một thứ ánh sáng yếu ớt lấp loáng trên những bức tường ướt, có thể ngửi được mùi không khí trong lành, có thể nghe rõ tiếng nước ì oạp. “Cẩn thận - đừng đi nhanh quá...” “Chị ấy có ở đó chứ?” “Đương nhiên là vẫn ở đó rồi. Alice - Alice - lại gần đây...” “Thong thả quá đấy nhỉ?” Giọng cô bé vọng lên từ phía dưới. “Đây - đưa chân của em đây - đúng rồi - giờ đến cái còn lại...” Lần thấy gờ đá và cảm giác tròng trành của chiếc xuồng bên dưới chân, cậu liền thả toàn bộ trọng tâm vào đó. Sau đó cậu không biết phải xử lí cái hộp như thế nào. Cậu đã gần như trở nên mụ mị vì kiệt sức, vì sợ hãi và lạnh. “Chị giữ chắc rồi - đừng có vội,” cô nói. “Cứ kéo ra thật chậm rãi và cẩn thận. Đừng hấp tấp. Đón được sức nặng của nó chưa? Cứ từ từ. Quay sang hướng này đi. Chị đón được rồi - đón được rồi - mà con bé cứ ngủ suốt thế sao? Bê con lười biếng. Đến đây, bé yêu, đến với Alice nào. Đây, Mal, ngồi xuống rồi đắp chăn lên người đi. Vì chúa, làm ấm người đi nào. Rồi ăn cái này nữa - đây - chị đã giữ nó từ lúc ở trong hang động đó. Em sẽ ấm lên nhanh hơn nếu có thứ gì đó trong bụng.” Cô đẩy một tảng bánh mì và mỡ thịt quay vào tay cậu, cậu lập tức ngốn ngấu nó. “Đưa em mái chèo nào, ” cậu lẩm nhẩm, rồi cùng với một miếng đầy mồm bánh mì và mỡ thịt quay, chăn quấn quanh hai vai, và mái chèo trong tay, Malcolm lái xuồng ra khỏi những bức tường của tu viện trắng vĩ đại, rồi một lần nữa đưa chiếc xuồng trung thành vào dòng lũ.
G 21 Hòn đảo bị yểm bùa iữa những miếng bánh mì và mỡ thịt quay, cùng những nhát chèo, Malcolm kể cho Alice mọi việc đã xảy ra. “Vậy là lão linh mục đó muốn đem con bé đi,” cô nói, “và bà sơ đã chỉ cho hắn đứa khác? Em có nghĩ đấy thuần túy là vì bản thân bà ta cũng không biết đứa nào mới là nó không?” “Không, em nghĩ là bà ấy biết rất rõ. Bà ấy đang cố gắng lừa hắn, và đáng ra việc đó sẽ thành công. À, có lẽ nó vẫn có hiệu quả, ít nhất trong một thời gian. Cho tới khi hắn phát hiện ra đó không phải là Lyra. Và những bà sơ phát hiện ra rằng Lyra thật đã biến mất.” “Nhưng làm sao mà ngay từ đầu hắn lại biết được rằng con của Ngài Asriel đang ở đó?” “Chắc chắn do Andrew rồi. Em phải dùng đến tên thật của chúng ta, vì ông Boatwright biết chúng ta là ai, nhưng đáng ra em nên gọi Lyra bằng một cái tên khác. Không thể có nhiều Lyra trên thế giới này được.” “Chuyện đó đâu có thay đổi được. Chị cũng đã tin tưởng họ. Thằng lỏi hèn hạ.” “Nhưng em không hiểu nổi các sơ ở đó định làm gì với Lyra khi lão linh mục đưa nhầm đứa đi. Ý em là, họ sẽ không thể giấu nó đi mãi mãi được. Có khi điều mà bà ấy định làm thậm chí còn tồi tệ hơn cả việc hắn định làm.” “Nhưng chị cũng muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra vào buổi sáng. Tiếc là chúng ta không thể đưa tất cả chúng ra được. Lũ oắt đáng thương.”
Cậu ăn nốt chỗ bánh mì và mỡ thịt quay. Giờ cậu chỉ muốn nằm xuống mà ngủ thiếp đi. Cậu thèm muốn điều đó đến cùng cực, và ngay lập tức, do bản thân không còn có thể cưỡng lại được nữa, mắt cậu nhắm lại. “Có muốn chị chèo cho một lúc không?” Alice hỏi, khiến cậu giật mình bừng tỉnh. Malcolm suýt nữa đã thả rơi mái chèo. “Em ngái ngủ được một lúc lâu rồi đó.” “Không,” cậu đáp. “Em vẫn ổn. Nhưng ngay khi chúng ta tìm được một nơi nào...” “Ừ. Ngọn đồi phía đằng kia thì sao?” Cô quay người đi và chỉ tay. Một đỉnh đồi phủ cây nhô lên khỏi mặt nước, một hòn đảo nhỏ hoàn toàn bị biệt lập, được chiếu sáng bởi vầng trăng mới nhú. Không khí thật ấm áp, nó còn mang trong đó một vẻ dịu dàng, gần như là một hương thơm ngan ngát. Malcolm lái xuồng về phía đó, vẫn thấy mơ màng nhiều hơn là tỉnh táo, rồi nhẹ nhàng đưa La Belle Sauvage đến tựa lên sườn đồi, thoát khỏi dòng chảy chính, nơi nước cuộn và những hố xoáy khiến cho chiếc xuồng nhảy nhót, tròng trành và dập dềnh cho tới khi Alice tìm được một cành cây để bám vào. “Chỉ cách một đoạn ngắn nữa thôi - xem kìa - có chỗ nhìn như một bãi biển nhỏ...” Cô kêu lên, cậu liền đẩy mái chèo vào làn nước rồi đưa mũi xuồng lên một khoảnh đất cỏ. Mặt trăng đang rọi thẳng xuống đó, nhờ vậy cậu có thể thấy được một cành cây chắc chắc để buộc dây neo, sau đó cậu sụp xuống thuyền ngay tại chỗ rồi nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi. Cậu hẳn đã ngủ được vài giờ đồng hồ rồi. Khi tỉnh dậy, cậu có cảm giác như cả một mùa đã trôi qua, vì cậu thấy cơ thể ấm áp, còn ánh sáng chiếu qua tán lá phía trên thật tươi sáng và lấp lánh. Lá! Không thể nào đã có lá trổ rồi, còn sớm quá! Cậu chớp chớp rồi dụi mắt, nhưng chúng vẫn ở đó: lá, và cả hoa nữa. Cậu phải giơ tay lên che bớt ánh sáng chói loà. Nhưng sự rực rỡ ấy đã
đánh bại cậu: Nó đang ở trong chính đôi mắt cậu, vặn vẹo và lấp lánh như một... Giờ nó chẳng khác gì một người bạn cũ. Rõ ràng đó là dấu hiệu của một điều gì đó. Cậu nằm cứng đờ và nhức nhối nơi cậu ngã gục xuống, để cho đầu óc minh mẫn trở lại trong lúc cái vòng dát vàng dần dần nở rộng rồi trôi lại ngày một gần hơn cho tới khi nó biến mất qua khoé mắt cậu. Có người đang nói chuyện gần đó. Là Alice, và một người phụ nữ đang đáp lại. Giọng người này trầm ấm và ngọt ngào. Họ đang thảo luận về trẻ sơ sinh. Có phải cậu cũng nghe thấy giọng của Lyra đang lẩm bẩm những điều vô nghĩa của cô bé không? Có thể là vậy, hoặc có thể đó là tiếng nước ì oạp mà lúc này nghe như tiếng một dòng suối nhỏ chứ không còn là một cơn lũ lớn nữa. Rồi cả tiếng chim hót! Cậu có thể nghe thấy tiếng chim hoét, đám chim sẻ, và sơn ca, tất thảy như thể mùa xuân đã đến rồi vậy. Một mùi hương ngọt ngào dâng lên: của loài hoa nào đó. Cùng một mùi nồng ấm - là cà phê à? Hay là bánh mì nướng? Hay cả hai? Chẳng cái nào có khả năng là hiện thực hết. Cả hai đều không thể tưởng tượng ra được. Nhưng nó vẫn ở đó, cái mùi hương nọ, cứ mỗi phút lại một nồng nàn hơn. “Ta nghĩ cậu bé đã tỉnh dậy rồi đó, ” giọng người phụ nữ vang lên. “Richard?” Alice vội gọi. Và cậu lập tức trở nên cảnh giác. Cậu nghe thấy tiếng những bước chân nhẹ nhàng của Alice, rồi cảm thấy bàn tay của cô đặt lên tay cậu, và cậu phải cố mà mở căng mắt ra. “Richard, đến đây dùng chút cà phê đi,” cô nói. “Cà phê đó! Nghĩ mà xem!” “Chúng ta đang ở đâu đây?” Cậu lẩm bẩm. “Chị không biết, nhưng người phụ nữ này, cô ấy... Nào. Dậy thôi!”
Cậu ngáp rồi vươn vai và ép mình ngồi dậy. “Em đã ngủ được bao lâu rồi?” “Hàng giờ rồi.” “Thế còn...” “Ellie ấy hả?” Cô vội vàng chen ngang. “Con bé vẫn khoẻ. Mọi thứ đều ổn cả.” “Vậy ai...” Cậu thì thầm. “Người phụ nữ này, đây là nhà của cô ấy, chỉ vậy thôi,” cô thì thầm đáp lại. “Cô ấy thật sự rất tốt. Nhưng...” Malcolm dụi mắt rồi miễn cưỡng chống người dậy để ra khỏi xuồng. Cậu đã ngủ sâu tới mức chẳng thể nhớ nổi một giấc mơ nào, trừ khi quãng thời gian ở tu viện trắng kia lại chính là một giấc mơ, nhưng lúc này khi những mẩu kí ức về nó quay trở lại, cậu thấy rằng điều đó có vẻ thật vô lí. Vẫn còn nặng nề và nghiêng ngả vì ngủ, cậu đi theo Alice (không! tên chị ấy là gì ấy nhỉ? Là gì? Sandra! Sandra) lên con dốc ngập cỏ tới nơi Lyra/Ellie nằm trên cỏ, với Pan đang cười lớn trước một đàn tầm một hay hai chục con bướm xanh cỡ lớn đang rập rờn đập cánh bay quanh nó. Một trong số chúng có thể là linh thú của người phụ nữ. Người phụ nữ... Cô còn trẻ, theo như Malcolm có thể đánh giá được, có lẽ chỉ mới đôi mươi, và cực kì xinh đẹp, với ánh mặt trời sáng bừng trên mái tóc vàng óng và bộ váy xanh nhạt của cô. Cô đang quỳ trên cỏ trước mặt Lyra, thọc lét cô bé, hay để cho cánh một loài hoa nào đó rơi lên mặt nó, hoặc cúi xuống để cho đứa trẻ nghịch chiếc vòng cổ dài mà cô đang đeo; nhưng Lyra chẳng bao giờ tóm nổi vào nó. Đôi tay cô bé xuyên qua cái vòng như thể nó không hề tồn tại ở đó vậy. “Cô ơi,” Alice gọi, “đây là Richard.” Người phụ nữ đứng dậy bằng một cử động thanh thoát và nhanh nhẹn. “Xin chào Richard, ” cô nói. “Cháu ngủ có ngon không?” “Ngon lắm ạ, cảm ơn cô. Bây giờ là sáng hay chiều vậy ạ?”
g ạ yg g y ậy ạ “Cuối giờ sáng rồi. Nếu Sandra đã dùng xong cốc, cháu có thể uống chút cà phê. cháu có muốn uống không?” “Có ạ.” Alice đổ cà phê vào cốc cho cậu từ một chiếc ấm đồng treo trên ngọn lửa đang tí tách kêu trong một vòng tròn đá. “Cảm ơn. Cô sống ở đây à?” Cậu hỏi. “Không phải lúc nào cũng vậy. Ta ở đây khi nào thấy tiện. Cháu sống ở đâu?” “Ở Oxford ạ. Ngược dòng lên phía trên...” Trông cô có vẻ đang chăm chú nghe, nhưng không nhất thiết là nghe những gì cậu nói. Mọi thứ về cô đều xinh đẹp, dịu dàng và tốt bụng, vậy mà cậu lại cảm thấy không thoải mái. “Vậy các cháu định làm gì với Ellie bé nhỏ?” Cô hỏi. “Chúng cháu sẽ đưa cô bé tới chỗ cha nó. Ở London.” “Xa quá nhỉ,” cô nói rồi ngồi xuống trở lại, vuốt ve mái tóc của đứa bé. Lúc này Pan cũng đã biến thành bướm và đang chật vật để bay cùng với đám mây những con bướm lớn màu xanh da trời đang rập rờn quanh nó, khích lệ, trợ giúp, nâng đỡ, nhưng nó không thể bay quá xa khỏi Lyra và chẳng bao lâu sau đã rơi xuống nền cỏ bên cạnh cô bé, nhẹ nhàng như một chiếc lá. Rồi Pan hoá thành chuột và hối hả chạy đến bên cổ đứa trẻ. “À, vâng, đúng vậy, ” Malcolm nói. “Các cháu có thể nghỉ lại đây bao lâu tuỳ thích.” “Cảm ơn cô...” Alice đang làm gì đó bên đống lửa. “Của em này, ” cô nói rồi đưa ra một chiếc đĩa cùng một cái dĩa với hai quả trứng rán trên đó. “Ồ, cảm ơn!” Cậu nói rồi đột nhiên nhận ra mình đang đói đến mức nào, cậu liền lao vào ăn hết sạch chỉ trong vài phút. Lyra đang cười ngặt nghẽo. Người phụ nữ đã bồng cô bé lên, giơ nó lên cao và ngẩng đầu cười với nó. Pan lại đang ở dạng bướm, một con màu trắng tinh khôi, và nhảy múa trong không khí cùng với đám màu xanh da trời, lần này thì đã thành công.
Malcolm đột nhiên nghĩ: Giả sử linh thú của cô ấy là toàn bộ đám mây bướm chứ không phải chỉ một con thì sao? Ý nghĩ đó khiến cậu rùng mình. Alice đưa cho cậu một lát bánh mì. Nó còn mới và rất mềm, không giống như thứ bánh mì cứng như đá ở trong động, và cậu nghĩ mình chưa từng được nếm thứ gì ngon lành hơn thế. “Cô ơi,” cậu lên tiếng khi ăn xong bánh, “tên cô là gì vậy ạ?” “Diania, ” cô đáp. “Diana ạ?” “Không, Diania.” “Ồ. À, ừm... Chúng ta đang ở cách London bao xa vậy ạ?” “Ồ, hàng dặm, hàng dặm đường.” “London có gần hơn Oxford không?” “Còn tuỳ vào cách đi nữa. Bằng đường bộ thì có, London có thể gần hơn. Nhưng tất cả các con đường ở Albion lúc này đều đã bị ngập. Bằng đường sông thì mọi thứ đều thay đổi. Bằng đường không thì ta nghĩ chúng ta đang ở chính giữa.” Malcolm nhìn sang Alice, vẻ mặt của cô chẳng thể hiện sắc thái gì. “Bằng đường không?” Cậu hỏi lại Diania. “Cô không có cái zeppelin hay xa thăng nào đấy chứ?” “Zeppelin! Xa thăng!” Cô nói rồi phá lên cười, tung Lyra lên cao khiến cô bé cũng cười theo. “Ai mà cần Zeppelin cơ chứ? Mấy cái thứ kềnh càng ồn ào.” “Nhưng cô không thể nào... ý cháu là...” “Ta hiểu mà, Richard, ta mới biết cháu được nửa tiếng kể từ khi cháu tỉnh dậy, nhưng ta đã có thể đoán rằng cháu là một cậu bé có suy nghĩ trần tục một cách hiếm có.” “Cháu không biết điều đó có nghĩa là gì.” “Suy nghĩ rập khuôn. Như vậy thì sao?” Cậu không muốn phủ nhận lại cô, vì rốt cuộc có khi cô lại nói đúng. Cậu vẫn còn xa mới hiểu nổi chính mình, còn cô thì đã trưởng thành.
g “Như thế là xấu ạ?” Cậu hỏi dè chừng. “Ví dụ như với một thợ máy thì không. Đó sẽ là một điều tốt nếu cháu là một thợ máy.” “À, cháu không ngại làm thợ máy đâu.” “Thế thì không vấn đề gì.” Alice đang chăm chú dõi theo cuộc trao đổi này. Một cái chau mày nhẹ choán lấy vầng trán cô, đôi mắt cô nheo lại. “Cháu đi kiểm tra xuồng đây, ” Malcolm thông báo. La Belle Sauvage đang dập dềnh thoải mái trên mặt nước lúc này đã không còn sự cuồng nộ gấp gáp của những ngày vừa qua mà đang chảy đều đều, nhanh hơn dòng Thames tại Port Meadow, nhưng không nhiều hơn là bao. Trông nó như thể đã chảy ổn định được như thế này từ rất lâu rồi. Cậu kiểm tra đi kiểm tra lại chiếc xuồng, từ đầu này đến đầu kia, thật chậm rãi, để hai bàn tay tựa trên đó lâu hơn cần thiết; để khiến nỗi day dứt trong lòng dịu bớt. Mọi thứ đều ngăn nắp, tất cả đồ đạc bên trong đều khô ráo và an toàn, còn balô của Bonneville vẫn đang được nhét dưới gầm ghế. Cái balô... Cậu nhấc nó ra. “Cậu định mở nó ra à?” Asta hỏi. “Cậu nghĩ sao?” “Tớ nghĩ nó sẽ có thể là chứng cứ, hay gì đó giống thế, nếu người ta tìm thấy xác của hắn, ” nó nói. “Chứng cứ rằng chúng ta đã...” “Phải. Nhưng rồi tớ nghĩ là chúng ta có thể nhặt được nó ở bất cứ đâu. Chỉ đơn giản là tìm thấy nó trên bờ sông, kiểu như thế.” “Ừ. Nó khá nặng đấy.” “Có khi có vàng thỏi bên trong đấy. Mở ra đi.” Đó là một thứ đồ cũ mèm, rách rưới làm bằng vải bạt màu xanh lá, với những miếng da đắp lên các góc và cạnh. Những cái khoá được làm bằng đồng thau đã xỉn màu. Malcolm tháo khóa
ra rồi kéo nắp lại. Thứ đầu tiên cậu tìm thấy là một cái áo nịt bằng len màu xanh navy có mùi dầu nhiên liệu và lá thuốc. “Đáng ra có cái này thì chúng ta đã ổn rồi,” cậu nói. “Chậc, giờ thì chúng ta biết nó ở đó rồi... Tiếp đi nào.” Cậu đặt cái áo len lên nền cỏ rồi lại kiểm tra tiếp. Có năm tập tài liệu bằng bìa các-tông đã phai màu, các góc đều bị gập hoặc rách, cái nào cái nấy đầy chặt giấy tờ. “Thảo nào mà nặng thế, ” cậu nói. Cậu lấy tập tài liệu đều tiên rồi mở ra. Những tờ giấy tràn ngập thứ chữ viết tay tháu đầy ngoằn ngoèo, bằng mực đen, rất khó để đọc nổi; trông nó có vẻ giống một tranh luận dài về toán học, tất cả đều được viết bằng tiếng Pháp Lan Tây. “Có một tấm bản đồ kìa, ” Asta nói. Một tờ giấy quả là có vẽ một thứ trông giống như sơ đồ một toà nhà trên đó. Những căn phòng, hành lang, ngưỡng cửa... Những từ ngữ chú giải cũng là tiếng Pháp Lan Tây, và được viết bằng nét chữ khác. Cậu chẳng hiểu được chút gì cả. Ngoài bức đầu tiên còn có nhiều sơ đồ khác nữa, trông chúng như thể là các tầng sâu hơn của cùng một toà nhà vậy. Cậu đút tất cả trở lại rồi lấy tập tài liệu tiếp theo ra. “Cái đây bằng tiếng Anh này, ” cậu nói. “Hắn ta là người Anh, không phải sao?” “Bonneville ấy à? Tớ nghĩ hắn có thể là người Pháp Lan Tây. Ê, nhìn này!” Trang đầu tiên được đánh máy, một trang tiêu đề, và có ghi: Một phân tích về vài ẩn ý triết lí của trường Rusakov, bởi Gerard Bonneville, Tiến sĩ. “Trường Rusakov này!” Malcolm thốt lên. “Chúng ta đã đoán đúng! Hắn có biết về nó!” “Hắn lại còn có bằng Tiến sĩ nữa, nhìn đi. Giống như Tiến sĩ Relf vậy. Chúng ta phải đem toàn bộ chỗ này đến cho cô ấy.” “Đúng,” cậu nói. “Nếu chúng ta có bao giờ...” “Trong tập tài liệu còn gì nữa thế?”
Cậu giở lướt qua nó. Những trang giấy được đánh máy dày đặc, nội dung bị cắt ngang bởi những phương trình đầy những kí hiệu mà cậu chưa từng nhìn thấy bao giờ; chẳng có cách nào lí giải được nó cả. Cậu nhìn vào đoạn mở đầu. Kể từ việc khám phá ra trường Rusakov và phát hiện đáng kinh ngạc nhưng không thể chối cãi rằng ý thức không còn có thể được nhìn nhận một cách riêng biệt như một chức năng của bộ não loài người, cuộc săn lùng loại hạt liên quan đến trường này đã được đeo đuổi mãnh liệt bởi nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức nhưng cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu nào của thành công. Trong tài liệu này, tôi xin phép được gợi ý một phương pháp học... “Để dành cái đó lại sau đi,” Malcolm nói. “Nhưng nó sẽ thú vị đấy, tớ dám cược là thế.” “Tiếp theo là gì?” Các tập tài liệu thứ ba, bốn và năm chỉ chứa toàn giấy tờ không thể đọc nổi. Một sự pha trộn của chữ cái, chữ số, và biểu tượng chẳng giống bất cứ một loại ngôn ngữ nào mà Malcolm từng được thấy. “Đây chắc chắn là mật mã rồi,” cậu nói. “Tớ dám cá Tiến sĩ Relf và Phố Oakley có thể lí giải được.” Dưới đáy cái balô vẫn còn có thứ gì khác, và nó cũng khá nặng. Một kiện hàng được bọc bằng vải dầu - và trong đó bằng lớp da mềm và dày, rồi cuối cùng đến vải nhung đen - mà khi mở ra sẽ để lộ một cái hộp gỗ hình vuông, bằng cỡ lòng bàn tay của một người đàn ông to lớn, được trang trí chi chít bằng đồ dát theo những hoa văn kì lạ. “Nhìn kìa!” Malcolm thốt lên, khâm phục sự khéo tay này. “Hẳn phải tốn đến vài năm!” “Mở nó ra kiểu gì vậy?” Asta hỏi trong dạng chuột. Cậu nhìn xung quanh nhưng chẳng tìm thấy khớp nối, móc gài, hay lỗ khoá nào, hoàn toàn chẳng có cách nào mở ra cả. “Hừmm,” cậu ậm ừ. “Chà, nếu không có khớp nối...”
“Hay là chỉ cần nhấc nắp lên là được?” Cậu thử và thấy là không phải thế. “Nếu cậu là một thợ máy...” Con linh thú nói, nhưng chưa kịp nói thêm thì đã bị cậu búng rơi xuống khỏi mép thuyền. Nhưng trước khi chạm tới mặt nước, nó đã hoá thành bướm và bay lên để đậu trên mái tóc cậu. Cậu chậm rãi xoay cái hộp. Cậu ấn vào từng phần trên bề mặt của nó, tìm kiếm một cái chốt bí mật. “Cái gờ kia, đó, ” con linh thú của cậu nói bằng giọng bươm bướm. “Chỗ hơi xanh xanh đó.” “Nó làm sao?” “Ấn nó sang ngang xem.” Cậu làm theo, khá nhẹ nhàng, rồi sau đó là mạnh hơn một chút, và cảm thấy có thứ gì đó dịch chuyển. Một tấm ván hẹp chạy dọc chiều dài một đầu của cái hộp trượt sang bên một đoạn khoảng bằng độ dài móng tay cái của cậu. “A, ” cậu thốt lên. “Điểm khởi đầu đây rồi.” Cậu đẩy nó trở lại rồi lại đẩy ra, lần tìm một sự lỏng lẻo nhỏ nhoi nào đó ở bất cứ đâu mà có thể tiết lộ vị trí của chuyển động tiếp theo. Một lúc sau cậu đã tìm thấy nó: Mặt đối diện của cái hộp trượt xuống bên dưới theo cùng một khoảng cách. “Gần được rồi,” cậu kêu lên. Miếng ván đầu tiên trượt xa hơn một chút, và rồi mặt còn lại cũng như vậy, sau đó nó xảy ra lần thứ ba. Nhưng chỉ có vậy. Cậu có thể đẩy chúng trở lại điểm khởi đầu rồi lại kéo ra, nhưng chúng sẽ chỉ dịch chuyển được ba bước đó, và cái hộp vẫn không chịu mở ra. Cậu nhìn khắp tất cả các mặt, lần sờ hết chỗ nọ đến chỗ kia, và rồi: “A, ” cậu thốt lên, “Hiểu rồi...” Khi bên cạnh được đẩy ra xa hết cỡ, mặt đỉnh sẽ trượt ra. Chỉ đơn giản vậy thôi. “Ồ!” Asta kêu lên. “Có phải đó là một...”
Nằm trong lớp vải nhung đen là một thiết bị bằng vàng trông giống như một cái đồng hồ hay la bàn cỡ lớn. Đó là vật thể đẹp đẽ nhất mà Malcolm và linh thú của mình từng nhìn thấy. Trông nó hệt như những gì Tiến sĩ Relf đã miêu tả cho cậu, nhưng còn tinh xảo hơn cả tưởng tượng của cậu. Ba mươi sáu bức hình quanh bề mặt đều rất tỉ mỉ và rõ nét, ba kim ngắn và một kim dài được chế tác đầy thanh thoát từ một thứ kim loại màu bạc xám, và một hình mặt trời sáng vàng lấp lánh bao lấy phần trung tâm của mặt cái máy. “Chính là cái này, ” cậu nói, thấy mình đang thì thầm. “Giấu đi. Cho nó vào lại ngay, ” con linh thú kêu lên. “Để sau, khi nào chúng ta ở chỗ khác hẵng xem.” “Rồi. Rồi. Cậu nói đúng.” Cậu bị mê mẩn bởi vẻ đẹp của cái máy nhưng vẫn làm theo lời con linh thú nói và đặt nó trở lại trong hộp, sau đó bọc nó lại rồi nhét xuống dưới đáy chiếc balô. “Hắn ta có thể lấy được nó ở đâu nhỉ?” Asta thì thầm. “Ăn cắp đấy. Tớ thì nghĩ là vậy.” Cậu lại cài nắp balô lại rồi cất nó vào chỗ lúc trước, bên dưới tấm ván ngang. “Tiến sĩ Relf đã nói rằng ban đầu vốn có sáu cái, nhớ không,” cậu nói, “một cái đang bị mất tích vì họ biết được vị trí của năm cái nhưng không biết cái thứ sáu... Tớ dám cá chính là cái này.” Phía cao hơn trên trảng cỏ nơi ngọn lửa đang rực cháy, không gian thật tĩnh lặng, và khi quay trở lại đó, Malcolm đã hiểu ra lí do: Lyra đang nằm ngủ trên cỏ, còn người phụ nữ đang lúi húi làm gì đó với mái tóc của Alice. Alice đang quỳ phía trước cô, mặt hướng ra ngoài, trong lúc người phụ nữ cúi xuống và dùng những ngón tay khéo léo đan tóc cô bé thành những lọn bện phức tạp, vừa làm vừa quấn hoa vào đó. Lũ bướm vẫn lảng vảng ở đó. Một hai hay con đang đậu trên Pan đang say ngủ, vài con trên đôi vai và cổ người phụ nữ, còn một số lại thử đáp lên Ben đang nằm tựa đầu lên hai bàn chân gần Alice; nhưng cứ mỗi khi
chúng làm vậy nó lại gầm gừ rất khẽ và trầm, khiến chúng lại bay lên. Biểu cảm của Alice khá kì quặc. Cô đang xấu hổ, nhưng cùng lúc đó cũng ngượng ngùng, vui sướng và quyết tâm được xinh đẹp như người phụ nữ mong muốn. Ánh nhìn mà cô ném về phía Malcolm gần như là dữ dội, như thể đang thách cậu dám cười hay đảo mắt, và trong đó còn có cả sự cầu xin nữa. Kể từ khi giết Bonneville, chúng đã trở nên gần gũi với nhau hơn, có lẽ là còn thân thiết hơn Malcolm cảm thấy với bất cứ ai. Giờ cô đang được làm cho khác biệt với hình ảnh đứa con gái mặt nhọn hoắt như chuột với vẻ châm chọc thường trực và cái chau mày vội vàng, người bạn thân thiết nhất của cậu. Giờ cô đang trở nên gần như là xinh đẹp. Cậu thấy điều đó thật kì lạ, và cậu có thể thấy được rằng cô cũng có chung cảm nhận. Cậu nhìn đi chỗ khác. Người phụ nữ đang thì thầm với cô, và Malcolm cố gắng không nghe lỏm. Cậu rời khỏi đó rồi nằm lên thảm cỏ. Ngày hôm đó thật ấm áp, khiến cậu trở nên mơ màng. Cậu bèn nhắm mắt lại. Có ai đó đang lắc vai cậu. Đó là Alice. “Dậy nào! Mal, chúng ta không thể ở lại đây được. Dậy đi!” Cô đang thì thầm, nhưng cậu nghe thấy rõ từng từ một. “Tại sao chúng ta lại không thể ở đây được?” Cậu thì thầm đáp lại. “Đến mà xem cô ta đang làm gì kìa.” Cậu trở mình rồi dụi mắt. Sau đó cậu ngồi dậy. “Gì cơ? Cô ấy đâu?” “Bên cạnh đống lửa. Đi nhẹ nhàng thôi. Đừng có gây ồn đó.” Malcolm đứng dậy và thấy mình vẫn đang còn choáng váng vì giấc ngủ. Cô tóm được cậu trước khi cậu ngã xuống. “Em không sao chứ?” Cô hỏi. “Chỉ hơi hoa mắt chút thôi. Cô ấy đang làm gì thế?” “Chị không thể... Nhưng em phải đến mà xem đi.”
Cô cầm lấy bàn tay cậu khi chúng đi một đoạn ngắn lên đến chỗ đống lửa. Lúc đó đã là chiều muộn, gần chuyển sang tối, và lần đầu tiên trong nhiều tháng, Malcolm cảm thấy như vậy, cậu có thể ngắm mặt trời lặn. Bầu trời phía Tây Nam trong vắt, những tia mặt trời xuyên qua rừng cây, đỏ ối, ấm nóng và chói loà. Khi đã lấy lại được các giác quan, cậu nhìn lại về phía chiếc xuồng, nó vẫn đang ở đó, còn cái balô vẫn đang nằm dưới ghế ngồi. Alice kéo tay cậu, cô không muốn dừng lại. Trảng cỏ nhỏ được soi sáng rõ rệt, và ngay chính giữa là Diania đang ngồi, ngực trần, với Lyra đang mút chùn chụt đầu ngực bên phải của cô. Người phụ nữ nhìn lên rồi nở một nụ cười kì lạ tới mức khiến cô ta trông như không phải người thường vậy. “Cô đang làm gì vậy?” Malcolm hỏi. “Chao ôi, cho em bé ăn, đương nhiên rồi! Cho nó nguồn sữa tốt. Nhìn nó bú này!” Cô nhìn xuống vẻ đầy tự hào. Đầu vú tuột ra khỏi miệng Lyra, người phụ nữ liền nâng cô bé lên vai rồi vỗ vỗ vào lưng nó. Lyra ợ ra một tràng, người phụ nữ lập tức hạ đứa trẻ xuống rồi đổi bên, cái miệng bé xinh xinh của nó lại bắt đầu há ra rồi ngậm lại trước cả khi nó kịp tìm thấy đầu vú. Rồi nó nhắm mắt lại và tiếp tục bú lấy bú để. Malcolm nghĩ rằng cô bé chưa bao giờ bú bình theo cách như vậy cả. Asta thì thầm: “Người phụ nữ này đang định cướp lấy cô bé.” Malcolm kéo tay Alice, rồi chúng cùng nhau rời khỏi trảng cỏ nhỏ để trở về bên chiếc xuồng. “Cô ta không ổn!” Asta hừng hực nhận xét. “Đúng thế, ” linh thú của Alice kêu lên. “Cô ấy có làm hại gì đến con bé đâu, ” Malcolm nói, nhưng vừa nói ra cậu đã biết rằng điều ấy không đúng sự thật. “Cô ta làm thế để khiến con bé thuộc về mình, ” Alice nói. “Cô ta không bình thường đâu, Mal ạ. Cô ta không phải con người
thật sự. Thấy lũ bướm không? Con nào mới là linh thú của cô ta?” “Em nghĩ là tất cả bọn chúng.” “Thế, vừa nãy chúng đã ở đâu?” “Em... chúng không có ở đó.” “Có đấy. Chúng bu đầy lên Pan. Gần như chẳng nhìn thấy được Pan luôn. Cô ta đang thi triển ma thuật hay gì đấy, chị thề. Em biết các tiên nữ trong những câu chuyện kể không? Chúng bắt trẻ con loài người đi đấy.” “Nhưng không phải thực tế đúng không?” Malcolm hỏi. “Chỉ là trong các câu chuyện thôi.” “Nhưng cứ hết chuyện này lại đến chuyện khác, cả các khúc ca nữa, tất cả đều nói rằng điều đó xảy ra. Chúng bắt cóc trẻ con rồi sẽ không ai gặp lại chúng nữa. Là thật đấy, ” cô nói. “À, thông thường thì...” Malcolm nói. “Việc này không phải thông thường!” Asta kêu lên. “Chẳng có gì thông thường hết. Sau cơn lũ mọi thứ đã thay đổi cả rồi.” Asta nói đúng: Chẳng còn gì bình thường nữa rồi. “Chúng ta phải giành lại Lyra thôi,” cậu nói. “Cùng đi hỏi cô ta đi,” Alice nói. “Như vậy chúng ta sẽ biết rõ thôi.” “Chúng ta phải sẵn sàng lên đường ngay lập tức. Nếu chúng ta ở lại đây, cô ta sẽ bắt cóc Lyra khi chúng ta ngủ mất.” “Phải,” Alice nói. “Nhưng chúng ta không thể dọn tất cả đồ đạc của mình mà không để cô ta phát hiện ra được. Vô vọng thôi.” “Em có ý tưởng này, ” Malcolm bảo. Ngay lập tức, Asta bay khỏi vai cậu rồi bắt đầu tìm kiếm một hòn đá có kích cỡ phù hợp, trong khi cậu lấy cái balô ra khỏi xuồng. “Em đang làm gì vậy?” Alice hỏi. “Đó là cái gì thế?” Cậu mở cái hộp ra rồi cho cô xem chiếc Chân Kế. Cô tròn mắt kinh ngạc.
“Cái này là một này, ” Asta nói vọng tới từ cách đó một đoạn, “nhưng tớ không thể...” Alice giúp nó kéo hòn đá ra khỏi mặt đất rồi rửa lại bằng nước. Trong lúc đó Malcolm bọc chiếc Chân Kế vào lớp nhung và vải dầu rồi ấn nó trở lại vào trong balô. Mắt Alice loé lên vẻ tán đồng khi cậu cho hòn đá vào trong hộp rồi đóng nó lại. “Em sẽ kể thêm cho chị sau, ” cậu nói. Sau đó, với Chân Kế và cái hộp đặt riêng rẽ trong balô đeo trên vai cậu, chúng quay trở lại trảng cỏ. Người phụ nữ vẫn đang cho Lyra ăn, nhưng khi chúng tới nơi, cô liền kéo đứa bé rời khỏi ngực mình. Lyra đang lơ mơ sắp ngủ, bụng đã căng đẫy. “Con bé chưa từng được uống sữa như thế này bao giờ, ” người phụ nữ nói. “Vâng, cảm ơn cô vì đã cho em ấy ăn, ” Malcolm nói, “nhưng chúng cháu phải đi bây giờ đây.” “Các cháu không ở lại thêm một đêm nữa sao?” “Không ạ. Chúng cháu phải đi. Cô thật tử tế vì đã cho chúng cháu ở lại đây, nhưng đã đến lúc chúng cháu phải đi tiếp rồi.” “Chà, nếu các cháu buộc phải đi thì đành vậy.” “Chúng cháu sẽ đưa Ellie đi luôn.” “Không đâu. Nó là của ta rồi.” Tim Malcolm đang đập mạnh tới mức cậu gần như không thể đứng dậy nổi. Bàn tay Alice nắm lấy tay cậu. “Chúng tôi sẽ đưa nó đi,” cô nói, “vì con bé là của chúng tôi. Chúng tôi biết mình đang làm gì với nó.” “Nó là của ta. Nó đã uống sữa của ta rồi. Nhìn nó hạnh phúc đến nhường nào khi ở trong vòng tay ta này! Nó sẽ ở lại với ta.” “Sao cô nghĩ mình có thể làm được việc này?” Malcolm hỏi. “Bởi vì ta muốn, và ta có khả năng. Nếu có thể nói, con bé cũng sẽ bảo rằng nó muốn ở đây thôi.” “Cô định sẽ làm gì với con bé?” “Nuôi nấng nó trở thành một người của ta, đương nhiên rồi.” “Nhưng nó đâu phải là người của cô.”
g p g “Giờ khi đã uống sữa của ta thì nó đã trở thành như vậy rồi. Các ngươi không thay đổi được điều đó đâu.” “Mà, ý cô nói đến người nào?” “Những con người cổ xưa nhất hiện tồn tại. Những cư dân đầu tiên của Albion. Nó sẽ trở thành công chúa. Nó sẽ là một trong số chúng ta.” “Coi này, ” Malcolm nói rồi thả balô xuống đất. “Tôi sẽ cho cô một báu vật thay cho con bé.” “Báu vật kiểu gì cơ?” “Một báu vật xứng đáng với một nữ hoàng. Cô là nữ hoàng, đúng không?” “Đương nhiên rồi.” “Cô có phải tiên nữ không?” “Cái thứ báu vật đó đâu?” Malcolm lôi cái hộp ra. “Cho ta xem nào, ” cô nói. “Để tôi giữ Ellie cho cô nhìn được kĩ,” Alice nói. Nhưng Diania lại ôm đứa trẻ chặt hơn và ném cho Alice một ánh nhìn khiến cô bé hoảng sợ. “Ngươi nghĩ ta ngu lắm sao? Mọi mánh lới mà các ngươi có thể nghĩ đến, ta đã nhìn và nghe thấy cả ngàn lần trước đây rồi. Làm sao mà hai đứa trẻ như các ngươi lại có thể chịu trách nhiệm giữ một báu vật được? Thật vô lí. Chẳng ai lại đưa báu vật cho các ngươi trông coi cả.” “Thế thì tại sao chúng tôi lại đi chăm sóc một đứa bé sơ sinh?” Alice hỏi. “Cái đó thì dễ giải thích hơn nhiều, ” cô nói. Và đó chính là khoảnh khắc mà Malcolm đang chờ đợi. “Nếu có thể giải thích điều đó, ” cậu bảo, “thì cô có thể giữ em bé, và cả báu vật nữa.” Người phụ nữ nhìn cậu, cô ôm Lyra lại gần hơn rồi đung đưa đứa bé. “Nếu ta có thể giải thích...”
“Nếu cô có thể giải thích việc tôi và Sandra đã trở thành người chăm sóc Ellie như thế nào thì con bé có thể ở lại với cô.” Người phụ nữ suy nghĩ. “Có bao nhiêu cơ hội?” Cô hỏi. “Ta muốn nhiều hơn một.” “Cô có thể thử ba lần.” “Ba lần. Được rồi. Đầu tiên: Con bé là em gái của các ngươi, còn cha mẹ các ngươi đã mất. Họ đã để nó lại cho các ngươi chăm sóc.” “Sai rồi,” Malcolm nói. “Còn hai cơ hội nữa.” “Được thôi... Thứ hai: Các ngươi đã cướp con bé từ trong nôi của nó và đang đưa nó đến London để bán.” “Cũng sai nốt. Chỉ còn một cơ hội thôi.” “Chỉ còn một... Chỉ còn một... Được rồi. Để xem nào. Ta biết rồi! Nó đang được các nữ tu chăm sóc, sau đó lũ kéo đến nên ngươi và Sandra đã bế nó ra khỏi nôi rồi đặt vào thuyền của mình, các ngươi bị lũ cuốn trôi và có một gã đàn ông đuổi theo các ngươi, sau đó các ngươi giết hắn, và nó bị các nữ tu của Dòng Phục Mệnh Thánh đưa đi, các ngươi đã giải cứu cho nó và đem nó tới đây.” “Ai đã làm vậy?” “Các ngươi. Richard và Sandra.” “Đem ai tới đây?” “Ellie, đương nhiên rồi!” “Chà, cô lại đoán sai lần thứ ba rồi,” Malcolm nói, “vì đây là Alice, không phải Sandra, còn tôi là Malcolm, không phải Richard, và em bé không phải Ellie, mà là Lyra. Cô thua rồi.” Sau đó người phụ nữ há mồm và rít lên một tiếng khóc than đinh tai và khủng khiếp đến nỗi Malcolm phải bịt tai lại. Cô ta dang tay ra khiến Lyra rơi xuống, cô bé hẳn sẽ đập xuống đất nếu Alice không kịp lao tới mà bắt lấy. Người phụ nữ giơ hai tay lên đầu, nước mắt giàn giụa chảy ra từ khoé mắt, cô ta lao người xuống nằm sóng soài trên nền cỏ, thổn thức và rền rĩ dữ dội khiến nỗi sợ hãi chạm đến trái tim Malcolm.
Nhưng cậu vẫn thu đám chăn và hộp bánh quy của chúng lại, rồi chìa cái hộp gỗ ra. “Tôi đã hứa sẽ cho cô một báu vật, ” cậu nói, “và nó đây.” Người phụ nữ đang cay đắng khóc lóc, cả người cô ta nâng lên hạ xuống với từng cơn đang hành hạ bản thân. “Đây, ” cậu nhắc lại rồi đặt nó xuống cỏ. Người phụ nữ lăn người nằm ngửa ra rồi vật đầu sang hai bên. “Con của ta!” Cô ta gào lên. “Các ngươi sắp đem con của ta đi!” “Không, cô bé không phải con của cô, ” Malcolm nói. “Ta đã đợi cả ngàn năm để được ôm một em bé và cho nó bú! Nhưng nó đã uống sữa của ta rồi! Nó là của ta!” “Chúng tôi đi đây. Nhìn này, tôi đặt báu vật xuống đây rồi nhé.” Cô ta ngồi dậy, thổn thức dữ dội tới mức gần như không giữ nổi thăng bằng. Một tay gạt đi những giọt nước mắt đang giàn giụa trên mặt, tay còn lại lần trên nền đất cho tới khi tìm thấy cái hộp. “Cái gì đây?” “Tôi nói rồi mà. Báu vật. Chúng tôi đi đây. Cảm ơn đã cho phép chúng tôi lưu lại một lúc.” Người phụ nữ quỳ gối nhổm dậy rồi lao người vào chân Alice, bấu chặt lấy hai chân cô. Alice có vẻ hoảng hốt, cô liền giơ Lyra lên quá tầm với của người phụ nữ. “Thắng bé không hiểu - nó sẽ không bao giờ hiểu được - làm sao mà đàn ông hiểu nổi chứ? Nhưng ngươi...” “Không,” Alice nói. “Ngươi đã nhìn vào gương sau khi ta làm tóc cho ngươi chưa?” “Rồi...” “Vậy ngươi có thích không?” “Có. Nhưng...”
“Ta có thể khiến ngươi trở nên xinh đẹp. Ta có thể khiến gương mặt ngươi đáng yêu tới mức tất cả đàn ông sẽ trở thành nô lệ của ngươi. Ta có thể làm điều đó! Ta có năng lực đó!” Môi Alice bặm chặt lại. Malcolm chỉ bất lực nhìn cô bé. Có điều gì đó từng cho cậu biết rằng Alice không hài lòng với vẻ ngoài của mình. Giờ thì cậu đã có thể đọc được nét mặt của cô, và cậu thấy một chuỗi cảm xúc vụt qua đó, một vài cảm xúc quá khó để cậu có thể gọi tên hay biết tới. Cuối cùng nó dừng lại ở vẻ khinh miệt nửa giễu cợt thường ngày. “Cô là đồ dối trá, ” cô nói. “Thả chân tôi ra.” Người phụ nữ làm theo, lại nức nở khóc, nhưng lần này thì không còn chút hi vọng gì nữa. Malcolm thật sự cảm thấy thương cảm cho cô ta. Nhưng liệu chúng có thể làm gì đây? Cậu đặt cái hộp nơi cô ta có thể với tới rồi lặng lẽ bước đi. Alice đi cùng với cậu, Lyra yên lặng ngủ trong vòng tay cô. Cậu quay lại một lần nữa và thấy người phụ nữ đã ngồi dậy, đang lật đi lật lại cái hộp trong hai tay. “Chuyện gì sẽ xảy ra khi cô ta mở nó ra?” Alice thì thầm. “Cô ta sẽ không bao giờ mở nó ra đâu.” “Làm sao em biết được?” “Vì cô ta không phải là một thợ máy.” Chiếc xuồng vẫn an toàn; cậu cứ lo lắng mãi về điều đó. Cậu giữ nó đứng vững cho Alice, rồi khi cô và em bé đã ngồi lên mũi thuyền còn balô được nhét dưới tấm ván ngang, cậu bước vào, cầm lấy mái chèo rồi đẩy La Belle Sauvage rời khỏi hòn đảo bị yểm bùa.
T 22 Nhựa cây rong cơn lũ thông tin nối tiếp cơn lũ nước, thứ tin tức chứa đầy các toà nhà sụp đổ, những cuộc giải thoát táo bạo, các vụ chết đuối và mất tích, thông tin về một cộng đồng tôn giáo gần Oxford đã bị tàn phá bởi cái chết của vài nữ tu và sự phá huỷ của một nhà gác từ thời trung cổ chỉ là những chuyện cỏn con. Nhiều nơi và cộng đồng khác còn lâm vào tình cảnh tồi tệ hơn. Cố gắng định vị những sự thật xác đáng giữa khối lượng thông tin khổng lồ chẳng hề là một nhiệm vụ dễ dàng cho Toà án Công giáo Kỉ luật hay cho Phố Oakley; nhưng Phố Oakley có một chút lợi thế hơn, nhờ vào Hannah Relf, và có thể bắt đầu tìm kiếm một cậu nhóc và cô bé trên một chiếc xuồng, cùng với một em bé sơ sinh, trước khi phe đối lập bắt tay vào thực hiện. Tuy nhiên, TCK lại có tiềm lực lớn hơn. Phố Oakley có ba con tàu - một tàu mà Bud Schlesinger đã thuê từ Tilbury và hai con thuyền dài của người du mục, với Nugent trên một chiếc và Papadimitriou trong chiếc còn lại - trong khi đó TCK lại có bảy, bao gồm bốn chiếc thuyền máy cao tốc. Mặt khác, những chiếc thuyền du mục của Phố Oakley đều có những người dẫn đường hiểu biết rộng và dày dạn kinh nghiệm về tất cả các đường sông nước. TCK thì gần như chẳng dựa được vào gì trừ nỗi sợ mà họ gây ra khi đặt câu hỏi với thứ áp lực thông thường của mình. Cứ như vậy hai phe lên đường tìm kiếm La Belle Sauvage cùng thuỷ thủ đoàn và hành khách của nó, những con thuyền của Phố Oakley từ Oxford và TCK từ nhiều điểm dưới hạ lưu. Nhưng thời tiết lại chẳng hề thuận lợi, cơn lũ khiến người ta ám ảnh, và sự hỗn loạn ở khắp mọi nơi. Bên cạnh đó, Ngài
Nugent đã sớm thấy mình đang tự hỏi liệu trận đại hồng thuỷ này có phải hoàn toàn là tự nhiên không. Ông và những người du mục đồng hành có cảm giác rằng sự tràn ngập của nước này có một ngọn nguồn lạ thường hơn là thời tiết, vì nó đã bắt đầu gây nên những ảo giác kì dị và diễn ra theo những cách không ngờ tới. Có lúc họ hoàn toàn mất dấu đất liền, cứ như đang lênh đênh trên đại dương vậy. Lúc khác, Nugent lại đoan chắc rằng ông có thể thấy một con vật giống như cá sấu dài ít nhất là bằng chiếc thuyền, bám đuôi họ mà không hề lộ mặt; và rồi vào một đêm, có những luồng sáng bí ẩn chuyển động bên dưới mặt nước, kèm theo âm thanh của một dàn giao hưởng đang chơi thứ nhạc mà chưa ai trong số họ từng nghe thấy. Chẳng bao lâu sau, Nugent đã nghe thấy những người du mục đồng hành của mình sử dụng một cụm từ để miêu tả hiện tượng này, một cụm từ lạ lẫm đối với ông. Họ gọi cơn lũ và toàn bộ những ảnh hưởng của nó là một