Bụi Kí 1

phần

phần

phần của mình về chiếc Chân Kế và tác dụng của nó. Mẹ cậu dừng lại để lắng nghe. “Đấy là cái mà con làm ở Jericho đấy à?” Bà hỏi. “Không. Đấy là việc mà cô ấy làm trong Thư viện Bodley.” “Thế cơ đấy. Nghe này, Alice, cháu có muốn làm thêm vài tiếng trong bếp không? Ý cô không phải rửa dọn mà là chuẩn bị

đồ ăn.” “Cháu không biết nữa, ” Alice đáp. “Có thể.” “Ừ, khi nào tham khảo xong nhật kí xã hội của mình thì cho cô biết nhé.” “Bây giờ cháu đang làm việc trong bếp của tu viện. Họ có thể sẽ cần cháu nhiều hơn nếu sơ Fenella đổ bệnh.” “Cứ xem xem việc gì sẽ phù hợp với cháu. Ở đây có việc nếu cháu thích.” “Được ạ, ” Alice nói, không nhìn vào đâu trừ cái bát đựng nước rửa chén nóng hổi. Mẹ của Malcolm phì hơi ra khỏi hai má, đảo mắt rồi đi sang phòng kho. “Chị đã nhắc đến sơ Katarina, ” Malcolm gợi lại chuyện. “Phải. Cô ta là người đã để cửa chớp mở. Cô ta làm vậy vì ông ấy.” “Thật sao?” “Ừ, đương nhiên là thật rồi. Em không tin chị à?” “Ừ, em tin chị. Nhưng làm sao cô ấy biết ông ta được?” “Chị sẽ cho em thấy, ” Alice bảo, rồi không nói gì nữa. Nhưng trước khi Malcolm đi ra, con linh thú của cô bé bắt chuyện với Asta, lúc đó cả hai đều ở dạng mèo. Chuyện đó chưa từng có tiền lệ nên Malcolm rất sửng sốt, nhưng cậu chỉ đợi cho tới khi hai con linh thú kết thúc cuộc hội thoại ngắn của chúng, rồi bước ra. “Nó nói gì vậy?” Cậu thì thầm với Asta khi chúng đi qua quán nhậu. “Nó nói chúng ta nên đến nhà bếp của tu viện vào khoảng tám giờ. Chỉ vậy thôi. Nó không nói tại sao.” Tám giờ là giờ của Lễ cuối ngày, theo như Malcolm được biết. Tất cả các sơ sẽ ở trong nhà nguyện cho buổi lễ cuối cùng của ngày,

trừ sơ Penella, cậu đoán vậy, và sơ Katarina, nếu cô đang chăm sóc Lyra. Mưa bắt đầu đổ xuống dữ dội. Nước không rơi thành giọt mà rơi thành dải, mặt đất cũng sụt lở cùng với mưa, đến mức người ta chẳng thể thấy bất cứ thứ gì rắn chắc cả: Chỉ còn những cánh đồng nước lạnh cóng tuôn chảy. Lấy lí do làm bài tập về nhà, Malcolm leo lên gác vào lúc bảy giờ rưỡi, rồi lại rón rén đi xuống, sẽ chẳng có ai nghe thấy cậu đi trong tiếng đập dữ dội trên mái nhà, lên cửa ra vào và cửa sổ này. Trong phòng kho, cậu đi đôi ủng cao rồi khoác chiếc áo mưa bằng vải dầu và mũ đi mưa lên, sau đó cậu đến nhà chái rồi phủ lớp vải dầu bằng lụa than lên La Belle Sauvage. Cho chắc ăn, cậu nghĩ. Rồi, vừa đổ người về phía gió, với Asta rúc sâu trong ngực áo, cậu vừa vật lộn đi đến cầu và nhìn xuống dòng nước chảy xiết. Cậu nhớ lại lời Coram van Texel đã nói: vạn vật trong dòng nước đang bị quấy nhiễu, cả vạn vật trên trời nữa... Cậu lấy tay che mắt rồi nhìn lên trên. Gần như ngay lập tức, một tia chớp chói loà khiến cậu loá mắt, như một lời khắc trên khoảng trời miền cực quang của riêng cậu, và một tiếng sấm ì oàng khủng khiếp dội vào tai khiến cậu choáng váng đến mức suýt nữa ngã xuống, cậu hoảng hốt vội chộp lấy góc tường đá. Asta cất tiếng: “Cỗ xe cuồng nộ ấy là nơi mây giông thành hình...” Rồi Malcolm kết thúc khổ thơ: “Con đường cánh bão tố Người đi là bóng tối.” Nơi bản thân đang đứng lộ liễu đến mức cậu cảm thấy thật sự sợ hãi, cậu vội vàng chạy sang bờ bên kia rồi nương vào sự che chở dưới những bức tường tu viện. Tiếng ca vọng tới rất khẽ từ nhà nguyện. Để cho dễ nghe hơn, cậu dùng một viên đá gõ lên cửa sổ nhà bếp, một lúc sau, Alice ra mở cửa rồi bước ra ngoài, giũ một tấm áo khoác mỏng quanh hai vai. Mưa lập tức xối xả đập vào cô và ép bẹp mái tóc xuống hai má.

“Em biết mấy cái lán làm vườn chứ?” Cô khẽ nói. “Mấy cái của tu viện ấy à?” “Đương nhiên rồi, đồ ngốc. Có một cái ở phía cuối bên tay trái. Trong đó có ánh sáng. Em có thể vào cái kế bên rồi nhìn qua. Đi xem đi.” Chúng phải ngả sát vào nhau để nói chuyện, hơi thở của cô bé phả lên mặt cậu thật ấm áp. “Nhưng cái gì...” “Cứ đi đi. Chị không ở ngoài này được, chị đang chăm Lyra.” “Nhưng sơ Kat...” Cô bé lắc đầu. Con linh thú Ben của cô và Asta đang thì thầm với nhau đầy cấp bách. Khi Alice quay lại để mở cửa, Ben nhảy vào vòng tay cô trong dạng chồn sương. Malcolm cảm thấy Asta đang leo lên vai mình, rồi cánh cửa đóng lại và chỉ còn lại mình chúng. “Nó nói gì thế?” Cậu hỏi, lần thứ hai trong ngày hôm đó. “Nó nói chúng ta phải cẩn thận và không được làm ồn. Không được tạo ra bất cứ tiếng động nào.” Malcolm gật đầu, Asta liền luồn vào trong lớp áo mưa bằng vải dầu rồi vặn người lại để có thể nhìn ra từ dưới cằm cậu. Chúng bắt đầu đi vòng qua tường tu viện, rời xa khỏi cây cầu, về phía khu vườn nơi Ngài Asriel đã dạo quanh cùng với con gái mình dưới ánh trăng. Malcolm phải nhìn thật kĩ xuống mặt đất, mưa rơi dày khủng khiếp, và cậu cảm thấy đang dội vào đôi ủng của mình là dòng nước chảy mạnh ra khỏi con sông. Nước sông đã tràn bờ rồi sao? Cậu chẳng thấy được gì, nhưng hẳn phải là như thế. Chúng tới vườn nhà bếp, Asta lên tiếng: “Cái lán đó - cái cuối cùng - có ánh sáng trong đó, như chị ấy nói.” Quả vậy, nếu cậu lau mắt rồi dùng tay che trong vài giây, cậu có thể nhận ra một thứ ánh sáng lập loè yếu ớt đằng sau khung cửa sổ. Đó là mặt hướng ra khỏi tu viện.

Cậu biết các lán được bố trí như thế nào, vì cậu đã nhiều lần giúp sơ Martha trong vườn. Hai cái lán cuối thật ra là một, với bức vách ngăn mỏng ở giữa. Mỗi cánh cửa đều được cài một then sắt đơn giản. Sơ Martha không khoá chúng lại là có mục đích: Bà bảo mình chẳng có thứ dụng cụ nào đáng để bị đánh cắp, và sẽ đỡ phiền phức hơn nếu không phải loay hoay với cái chìa khoá mỗi lần muốn dùng. Sau khi hết sức cẩn thận kéo then cài, Malcolm mở cánh cửa vào căn lán bên cạnh căn đang được thắp sáng. Asta đã hoá thành cú để quan sát tốt hơn, vì sơ Martha sử dụng phần bên này để cất các chậu hoa, Malcolm mà đạp đổ một chồng xuống thì kể cả tiếng mưa cũng không thể át nổi âm thanh mà nó gây ra. Cậu nhón chân đi trong bóng tối, nhưng thực ra thì cũng không tối lắm: lớp ván đơn giữa căn lán này và căn còn lại bị oằn đôi chỗ, để lọt qua ánh sáng vàng vọt yếu ớt của một cây nến đang bập bùng trong cơn gió lùa dữ dội. Mái nhà mỏng dính vang dội dưới cơn mưa, cảm giác đó giống như đang ở trong một cái trống vĩ đại có thể sụp xuống bất cứ lúc nào dưới sự công kích điên loạn của nhạc công. Malcolm khéo léo bước qua các lọ hoa rồi đặt hai tay lên những tấm ván của bức vách. Dỏng tai lên lắng nghe, cậu nghĩ mình có thể nghe thấy một giọng nói - hai giọng - và rồi, đột ngột bị bóp nghẹt, cái tiếng cười khúc khích chói tai ghê tởm đó. Bonneville đang ở đấy, chỉ cách vài bước chân. Asta biến thành bướm đêm, lúc này khi nó đậu lên gần một khe hở khác trên bức vách, Malcolm cảm nhận được cơn sốc khi Asta nhìn thấy điều gì đó. Cậu ghé vào gần hơn, rồi nhòm qua khe hở để thấy Gerard Bonneville và sơ Katarina đang ôm ghì lấy nhau một cách vụng về. Vị nữ tu đang ngả người tựa vào một chồng bao tải rỗng - đôi chân trần của cô lấp láy dưới ánh nến - còn con linh cẩu thì đang liếm láp con linh thú chó Pug của cô, nó đang nằm ngửa, người oằn lại vì khoái lạc... Malcolm cẩn thận lùi lại một bước. Đầu óc cậu đủ bình tĩnh để làm việc đó, nhưng chỉ là vừa đủ. Cậu rời xa khỏi bức vách rồi

ngồi xuống một cái sọt úp ngược ở đầu bên kia của nhà lán. “Cậu thấy rồi chứ?” Asta thì thầm hỏi. “Cô ấy đáng ra phải đang chăm sóc...” “Đó là lí do hắn ở với cô ta! Hắn muốn cô ta giao Lyra cho mình!” Malcolm cảm thấy đầu mình quay cuồng như lá cuốn trong gió. Cậu chẳng thể nghĩ ngợi được gì chắc chắn và rõ ràng cả. “Chúng ta sẽ làm gì đây?” Asta hỏi. “Kể cả có nói với sơ Benedicta thì sơ cũng sẽ không tin chúng ta đâu. Sơ sẽ hỏi sơ Katarina rồi sơ Katarina sẽ nói rằng chuyện đó không hề xảy ra, chúng ta chỉ bịa chuyện...” “Sơ Benedicta biết là sơ Katarina đã để mở cửa chớp mà.” “Sơ Benedicta cũng biết rằng Bonneville đang lảng vảng quanh đó. Nhưng sơ Benedicta sẽ không bao giờ tin chuyện này đâu. Vả lại cũng chẳng có bằng chứng gì.” “Chưa có thôi,” Asta nói. “Ý cậu là gì?” “Chúng ta biết người ta tạo ra trẻ con kiểu gì đúng không?” “À. Ồ! Vậy thì...” “Vậy thì đó là việc mà họ đã làm, nếu sơ Katarina mang thai thì thế là đủ chứng cứ kể cả đối với sơ Benedicta.” “Nhưng không phải chứng cứ chắc chắn đó là hắn ta, ” Malcolm nói. “À, ừ.” “Mà lúc đó khéo hắn cao chạy xa bay rồi.” “Cùng với Lyra.” “Cậu nghĩ cô bé là thứ mà hắn muốn sao?” “Đương nhiên rồi. Cậu thì không à?” Ý tưởng đó thật kinh khủng. “Tớ cũng nghĩ vậy, ” Malcolm đáp. “Cậu nói đúng. Hắn muốn có Lyra. Tớ chỉ không hiểu lí do thôi.”

“Lí do quan trọng gì. Trả đũa. Có thể hắn muốn giết cô bé, hoặc là bắt làm con tin. Để đòi tiền chuộc.” Giọng cô nữ tu thốt lên thành một tiếng rên rỉ vừa dài vừa cao mang một cảm xúc mà Malcolm không hiểu được. Nó vang vọng qua bức vách, lên trên màn mưa, vượt quá cả ngọn gió. Cậu nghĩ tới tiếng hét của cô bay qua bầu trời đêm và khiến cho mặt trăng phải quay đi, khiến cho lũ cú run rẩy trên đường bay. Cậu nhận ra rằng mình đang siết chặt hai nắm tay. “Chậc, chúng ta sẽ phải...” Cậu nói. “Phải, chúng ta sẽ phải,” con linh thú đáp. “Phải làm cái gì đó.” “Giả sử chúng ta không làm gì và hắn bắt được Lyra thì sao?” Một tiếng cười của nam giới, trầm và dày dặn, cất lên nối tiếp, hoàn toàn không giống con linh cẩu, cũng chẳng giống tiếng cười trước điều gì đó hài hước, mà là giống một âm thanh bộc phát của sự thoả mãn. “Là hắn!” Asta kêu lên. Malcolm nói: “Nếu chúng ta kể với sơ Benedicta, có thể sơ sẽ nghĩ rằng cả hai bọn họ đều làm việc sai trái, nhưng sơ lại chỉ có thể trừng phạt sơ Katarina thôi. Sơ không thể trừng trị hắn ta được.” “Đó là nếu sơ tin chúng ta. Có thể là không lắm chứ.” “Việc họ làm có phải là phạm tội không?” “Nếu cô ấy không muốn thì đó sẽ là phạm tội, tớ nghĩ vậy.” “Nhưng tớ nghĩ là sơ Katarina có muốn.” “Ừ, tớ cũng vậy. Vậy nên cảnh sát sẽ chẳng làm gì được hắn ta, kể cả họ có tin chúng ta đi nữa, kể cả họ có bắt được hắn, kể cả cái này cái kia.” “Nhưng thậm chí việc trừng trị hắn cũng không quan trọng bằng việc đảm bảo an toàn cho Lyra. Đó là điều quan trọng nhất.” “Có lẽ thế...”

Từ hướng toà nhà tu viện vọng tới một tiếng đổ vỡ ầm ầm rung chuyển, trầm hơn cả tiếng sấm, nó cứ thế kéo dài trong một lúc. Thoạt đầu nghe nó không giống như một tiếng ồn mà là sự vận động của mặt đất, kể cả khi các chậu hoa đập vào nhau leng keng loảng xoảng, rồi một vài chậu đổ nhào xuống, tiếng ầm ầm vẫn tiếp diễn còn mặt đất vẫn tiếp tục rung chuyển. Sơ Katarina hét lên: “Không! Không! Thả tôi ra - làm ơn - tôi phải đi...” Giọng trầm của Bonneville thì thầm điều gì đó. “Vâng,” cô thở dốc, “tôi hứa - nhưng tôi phải...” Đột nhiên Malcolm nhảy bật dậy, nghĩ Lyra! Cậu phóng ào ra khỏi cửa, khiến nó đập rầm vào vách tường gỗ, rồi chạy thục mạng về phía tu viện, mặc kệ những dải nước đang đổ xuống, dòng nước xối xả trên lối đi, tiếng gã đàn ông hét lên phía sau và tiếng “Haaa! Haa! Haaa!” điên loạn từ con linh thú linh cẩu. Asta lao theo bên cạnh cậu trong dạng chó săn Greyhound. Khi chúng tới được toà nhà tu viện rồi vòng qua góc, Malcolm nhận ra rằng dòng nước mà chúng đang chạy qua đã trở nên sâu và xiết hơn, và rằng ánh đèn nhà gác đã tắt... ... vì căn nhà gác không còn ở đó nữa. Thay vào đó là một đống đá, ván lát, gạch vụn, ván tấm, gạch ngói ngổn ngang, được lập loè chiếu sáng từ bên trong toà nhà. Trong lúc Malcolm đứng lặng trong kinh hoàng, một đợt sóng vỡ oà trùm lên đỉnh của đống đổ nát: Con sông đã vỡ bờ. Khi con sóng cồn tới được chỗ cậu, nó cao đến đầu gối và suýt nữa thì quật ngã cậu. “Alice!” Malcolm hét lên. Từ phía sau vọng tới một tiếng rền rĩ vì kinh hãi trong giọng nói của sơ Katarina. “Nhà bếp!” Asta kêu lên, Malcolm liền chật vật tiến về phía cửa nhà bếp. Nước đang dâng lên đến chân cửa, rồi khi đẩy mở cửa ra, Malcolm thấy rằng nhà bếp đã bị ngập - ngọn lửa trong lò bếp kêu lên xì xì và bốc khói, sàn nhà lõng bõng nước. Cái nôi của Lyra ở đó đang thực sự nổi lềnh bềnh - thực sự đung đưa trên mặt nước - còn Alice đang nằm choáng váng trên

bàn bếp, nửa người ngập dưới một đống trát vữa và xà rầm từ trần nhà... “Alice!” Cậu hét lên, rồi cô bé nhúc nhích, rên rỉ, nhưng sau đó cô ngồi bật dậy quá vội vàng khiến cơ thể lại đổ nghiêng sang một bên. Malcolm ôm chầm lấy Lyra từ trong nôi, còn Asta lao vút xuống để chăm lo cho Pan. Malcolm kéo đống chăn ra sau khi bế đứa bé lên rồi quấn chúng quanh người nó. Tất cả những gì cậu có thể thấy được là nhờ ánh sáng màu cam từ lò bếp. Cậu đã lấy tất cả các lớp chăn chưa? Liệu cô bé có đủ ấm không? Alice đang dò dẫm tìm bức tường và cố gắng đứng dậy. Đột nhiên cô bị hất sang một bên khi gã đàn ông Bonneville xông vào - đẩy bung cửa dù phải chống lại dòng nước dưới chân - rồi, khi nhìn thấy Malcolm, hắn liền lao về phía cậu, gầm ghè một cách ghê tởm khiến giọng hắn nghe còn khủng khiếp hơn con linh thú của mình... Malcolm ôm chặt lấy Lyra - cô bé đang khóc vì sợ hãi... Và rồi Bonneville đổ nhào về phía trước, làm nước bắn toé lên khi bị Alice dùng ghế đập vào đầu. Hắn tóm lấy cái bàn nhưng không giữ nổi - tất cả những gì hắn làm là lật nhào nó lại rồi ngã oạch xuống bên cạnh. Alice giơ ghế lên rồi lại một lần nữa dộng xuống người gã đàn ông. “Đi nào, nhanh! Nhanh lên!” Alice hét lên. Malcolm cố gắng chạy qua dòng nước, nhưng chỉ có thể ì ạch bước đi trong lúc bàn tay, cánh tay, rồi cái đầu đầm đìa máu của Bonneville thò lên khỏi mặt bàn, sau đó gã đàn ông trượt chân ngã ngược rồi lại trồi lên, một bên đầu hắn tạo thành một cái mặt nạ phủ đầy máu. “Malcolm!” Alice hét lên. Cậu lao về phía cửa trong lúc ôm chặt lấy Lyra. Đứa bé đang gào lên dữ dội, chân quẫy đạp, hai nắm tay nhỏ xíu khua khoắng. “Đưa con bé cho ta...” Gã đàn ông rống lên rồi lại trượt ngã xuống. Malcolm chạy ra khỏi cửa rồi cùng với Alice lao về phía

cây cầu, nhưng dòng nước đã cản bước chúng tới mức khiến việc này còn tồi tệ hơn cả một cơn ác mộng. Chẳng có dấu hiệu nào của sơ Katarina, chẳng có dấu hiệu nào của các sơ khác - họ không thể nào đều bị chìm hết cả rồi chứ? Hay bị đè bẹp dưới nhà gác? Sinh vật sống duy nhất còn lại là tên Bonneville be bét máu cùng con linh thú tập tễnh, lảo đảo đang bước ra khỏi cửa nhà bếp phía sau chúng... Nhưng lúc đó gần như chẳng có chút ánh sáng nào để nhìn được gì, còn không khí thì tràn ngập nước đổ ồ ạt, xối xả. Nhờ bản năng và trí nhớ, Malcolm lập bập chạy theo lối đi, gọi lớn: “Alice! Alice!” Rồi cậu đâm sầm vào cô bé và cả hai suýt nữa ngã nhào. “Nắm chặt vào! Đừng thả ra!” Cậu hét lên. Gắn kết bởi đôi tay lạnh lẽo, chúng gồng mình lội qua dòng lũ để lên tới cầu. Một ngọn đèn từ quán Cá

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 59

Đang tải bình luận...