phần lớn là các bản sao của những bức tranh nổi tiếng, hay những bức tranh vẽ quang cảnh lịch sử - đã bị dỡ xuống và thay thế bởi những tấm áp phích chứa các đoạn trích dẫn trong Kinh Thánh với màu sắc khá loè loẹt. Không còn có nhiều học sinh dám nghịch ngợm một cách công khai nữa - có ít ẩu đả trong sân chơi hơn, ví dụ vậy - nhưng tất cả đều có vẻ tội lỗi hơn. Đến thứ Bảy, Malcolm đưa La Belle Sauvage đi một chuyến dài đầu tiên kể từ khi ông van Texel đem trả nó lại. Đúng như người du mục đã nói: con thuyền nhỏ đã cứng cáp hơn, dễ điều khiển hơn, và cảm giác trôi đi trong làn nước trơn mượt chưa từng thấy. Malcolm sướng rơn; cậu nghĩ rằng mình sẽ có thể chèo đi hàng dặm mà không thấy mệt, có thể cắm trại tại bất cứ chỗ nào khuất dù ít dù nhiều, và hoàn toàn làm chủ dòng nước theo một cách rất mới mẻ. “Khi nào cần một con thuyền lớn, ” cậu nói với Asta dưới dạng chim bói cá trong lúc nó đậu trên mép thuyền bên cạnh cậu, “chúng ta sẽ đến chỗ ông đóng thuyền người du mục đó rồi ông ấy sẽ làm cho chúng ta.”
“Làm sao bọn mình tìm được ông ấy? Mà nó sẽ tốn phí thế nào?” “Chịu. Chúng ta có thể hỏi ông van Texel.” “Làm sao ta tìm được nơi ông ấy ở chứ?” “Cái đó cũng chịu. Không biết ông ấy có phải mật thám không nhỉ?” Một lúc sau Malcolm nói. “Ý tớ là, Phố Oakley...” Asta không trả lời. Nó đang chăm chú nhìn một con cá nhỏ. Giờ chúng đang ở trên kênh, nước ở đây cũng đang dâng cao, nhưng đương nhiên là lặng hơn ở sông. Malcolm có thể cảm nhận được từ linh thú của mình sự háo hức muốn lao bổ vào dòng nước để bắt con cá đó, và lặng lẽ hối nó làm vậy; nhưng nó đã kiềm chế. Chúng cột chiếc xuồng vào chỗ quen thuộc, người bán hàng tạp hoá hứa sẽ để mắt đến nó, và chẳng bao lâu sau chúng đã vào tới phố Cranham. “Cái gì kia?” Asta kêu lên ngay khi chúng vừa rẽ qua một góc phố. Một cỗ xe chạy gas sang trọng đang đỗ ngay bên ngoài căn nhà của Tiến sĩ Relf. Malcolm dừng lại ngắm nghía nó. “Cô ấy đang có khách, ” Asta nhận xét, giờ đã biến thành quạ gáy xám. “Có lẽ chúng ta nên chờ.” “Cậu không muốn xem đó là ai à?” “Hơi hơi muốn. Nhưng tớ không muốn cắt ngang.” “Họ mới là người cắt ngang chứ, ” Asta nói. “Cô ấy đang mong bọn mình đến. Lúc nào mà bọn mình chẳng tới vào giờ này.” “Không, tớ có cảm giác...” Chính sự cao quý của chiếc xe đã khiến cậu lo lắng. Nó không phù hợp với hiểu biết của cậu về Tiến sĩ Relf. Nhưng xét cho cùng thì Asta nói đúng: Chúng đang được chờ đón. “Chậc, chúng ta chỉ phải tỏ ra lịch sự và tỉnh táo, ” cậu nói. “Như những mật thám thực thụ.” “Chúng ta là những mật thám thực thụ mà, ” Asta bảo.
Có một người tài xế đang đi thơ thẩn bên ngoài chiếc xe với ống tẩu ngắn ngậm trong miệng. Ông liếc nhìn chúng vẻ không mấy hứng thú trong lúc Malcolm nhấn chuông. Tiến sĩ Relf mở cửa, trông cô có vẻ hơi bối rối. “Chúng cháu có thể quay lại sau nếu...” Malcolm định nói, nhưng cô đã quả quyết lắc đầu. “Không, Malcolm ạ, vào trong đi,” cô bảo, rồi Jesper thì thào: “Nhưng cẩn thận đấy, ” chỉ vừa đủ to để chúng nghe được. Rồi, lớn tiếng hơn, Tiến sĩ Relf nói: “Khách của cô sắp về rồi.” Malcolm bước qua các bao cát, Asta biến thành một con chim cổ đỏ, rồi lại trở về dạng quạ gáy xám. Malcolm hoàn toàn hoà làm một với sự bất ổn của con linh thú, nhưng cậu thầm nghĩ Ở yên như thế đi khi nó đang ở trong bộ lông đen bụi bặm của mình. Sau đó cậu đeo lên mình một biểu cảm hài lòng đầy ôn hoà và u mờ, thứ tốt nhất chỉ sau vỏ bọc vô hình. May mà cậu đã làm vậy. Trong phòng khách, Tiến sĩ Relf giới thiệu: “Phu nhân Coulter, đây là Malcolm, học sinh của tôi. Malcolm, chào Phu nhân Coulter đi.” Cái tên của người phụ nữ dộng vào Malcolm như một viên đạn bắn. Đây là mẹ của Lyra. Bà ta là người phụ nữ đẹp nhất mà cậu từng được thấy: trẻ trung, tóc vàng óng ả và gương mặt xinh đẹp, bà ta mặc đồ bằng lụa xám, và xịt nước hoa, chỉ là một mùi hương thoang thoảng cực nhẹ, gợi liên tưởng đến sự ấm áp, ánh mặt trời và miền Nam. Bà ta mỉm cười với cậu bằng vẻ thân thiện đến mức gợi cậu nhớ đến khoảnh khắc lạ lùng với Gerard Bonneville. Vậy mà đây lại là người phụ nữ không còn muốn dính dáng gì đến con của chính mình! Nhưng cậu đáng ra không được biết điều đó, và chẳng gì có thể khiến cậu thừa nhận rằng mình biết bất cứ chuyện gì về đứa bé. “Chào cháu, Malcolm,” bà ta nói rồi chìa tay ra để bắt. “Tiến sĩ Relf đang dạy gì cháu vậy?” “Lịch sử tư tưởng ạ, ” Malcolm thản nhiên đáp. “Cháu không thể kiếm được giáo viên nào tốt hơn đâu.”
Con linh thú của bà ta thật khiến người ta bối rối. Nó là một con khỉ có bộ lông dài màu vàng óng, và nếu có một biểu cảm trong đôi mắt đen của nó thì cái biểu cảm ấy thật khó dò. Con khỉ ngồi hoàn toàn bất động trên lưng ghế bành của bà, còn Asta, thông thường đáng ra sẽ bay qua để nói lời chúc ngày tốt lành vì phép lịch sự, lại cảm thấy khó ưa và ghê sợ nên đã đứng yên trên vai Malcolm. “Bà cũng là học giả à, thưa Phu nhân Coulter?” Malcolm hỏi. “Ta chỉ là dân nghiệp dư thôi. Làm sao cháu tìm được một giáo viên như Tiến sĩ Relf vậy?” “Cháu tìm thấy một cuốn sách mà cô ấy làm mất và đem trả lại. Bây giờ thì cháu mượn sách của cô ấy và trao đổi về chúng,” cậu đáp bằng một loại giọng trung lập và lịch sự mà cậu dùng với khách khứa ở quán Cá Hồi, những người mà cậu không quen biết nhiều. Cậu đang hi vọng bà ta sẽ không hỏi nơi cậu sống, phòng trường hợp bà ta biết được Lyra đang ở đâu và thấy được mối liên hệ, nhưng chẳng phải người ta đã nói rằng bà ta chẳng có hứng thú gì với đứa trẻ hay sao? Có lẽ bà ta không biết mà cũng chẳng quan tâm. “Cháu sống ở đâu thế?” Phu nhân Coulter hỏi. “Dưới quận Thánh Ebbe ạ, ” cậu đáp, gọi tên một quận nằm ở phía Nam thành phố, và tự thấy ngạc nhiên khi nói được bình tĩnh đến vậy. Con khỉ vàng nhúc nhích, nhưng không nói gì cả. “Cháu muốn lớn lên sẽ làm gì?” Tất cả mọi người đều hỏi câu đó, nhưng chẳng hiểu sao cậu lại mong chờ một thứ gì đó thú vị hơn từ bà ta. “Thật ra cháu cũng không biết nữa, ” cậu đáp. “Có lẽ là làm việc trên thuyền hoặc trong ngành đường sắt.” “Vậy thì ta cho rằng lịch sử tư tưởng sẽ rất hữu ích đấy, ” bà ta nói rồi mỉm cười ngọt ngào. Thật là một câu nói mỉa mai. Cậu không thích nó, nên cậu nghĩ mình sẽ khiến bà ta phải lúng túng.
“Phu nhân Coulter, ” cậu bắt đầu, “hôm trước cháu có gặp một người là bạn của bà.” Asta có thể thấy đôi mắt Jesper nở rộng. Phu nhân Coulter lại mỉm cười, nhưng bằng một vẻ khác biệt. “Ai vậy nhỉ?” Bà ta hỏi. “Cháu không biết tên ông ấy. Ông ấy ghé qua quán nhậu của chúng cháu. Ông ấy đã nói chuyện về bà. Linh thú của ông ấy là một con linh cẩu có ba chân.” Đó là một cú sốc khủng khiếp với vị phu nhân. Malcolm có thể thấy được điều đó, Asta cũng vậy, cả Tiến sĩ Relf và Jesper cũng đều nhìn thấy - nhưng tất cả những gì xảy ra chỉ là con khỉ vàng ngả người tới trước rồi đặt cả hai tay lên vai Phu nhân Coulter, và màu hồng phớt biến mất khỏi đôi má bà ta. “Thật là một chuyện kì lạ, ” bà ta đáp bằng một giọng điềm tĩnh nhất trên thế giới. “Chắc chắn là ta không biết ai như vậy cả. Mà quán nhậu nào vậy?” “Qụán Đôi Tay Người Lái Thuyền ạ, ” Malcolm nói, biết chắc rằng chẳng ở đâu trong thành phố có quán trọ nào mang tên như vậy cả. “Ông ấy đã nói gì?” “Chỉ là ông ấy là bạn của bà và ông ấy sẽ sớm gặp bà. Cháu nghĩ thật ra không có nhiều người tin lời ông ấy, vì ông ấy chưa từng đến quán bao giờ và chẳng ai thật sự quen biết ông ấy cả.” “Cháu có dành nhiều thời gian nói chuyện với người lạ trong quán nhậu không?” Màu sắc đã trở lại trên đôi má bà ta, nhưng nơi trước đó là một sắc hồng hào thanh thoát thì bây giờ lại là một đốm nhỏ dữ dội trên mỗi xương gò má. “Không ạ, cháu chỉ phụ giúp vào các buổi tối thôi,” Malcolm nói bằng giọng điềm đạm nhất có thể. “Cháu đã nghe rất nhiều người nói đủ thứ chuyện. Nếu ông ấy quay lại, cháu có nên nói với ông ấy rằng cháu đã gặp bà và bà không biết ông ấy không?” “Tốt hơn hết là cháu đừng nói gì cả. Cháu cũng đừng nên nghe mấy chuyện vớ vẩn nữa. Ta dám chắc là Tiến sĩ Relf cũng
g y yệg đồng tình.” Malcolm nhìn sang Tiến sĩ Relf, người đang lắng nghe với đôi mắt mở tròn. Nhưng cô liền chớp chớp mắt để tỉnh lại rồi nói: “Tôi có thể giúp gì được cho bà nữa không, Phu nhân Coulter?” “Tạm thời thì không,” Phu nhân Coulter đáp. Con khỉ vàng đã tới ngồi lên lòng và áp mặt vào mái tóc bà ta, như thể đang thì thầm gì đó. Bà ta vuốt ve bộ lông con khỉ một cách tự động, rồi nó quay đầu lại để lườm thẳng về phía Malcolm bằng ánh mắt khó dò. Malcolm điềm tĩnh nhìn lại, dù cậu chẳng thấy bình tĩnh chút nào: Con khỉ đó mà có tên thì có lẽ nó sẽ là Hiểm Ác, cậu thầm nghĩ vậy. Phu nhân Coulter ẵm con linh thú lên hai tay rồi đứng dậy, thì thầm gì đó với nó. Rồi bà ta chìa tay về phía Tiến sĩ Relf. “Cô thật tử tế vì đã chịu đựng việc tôi đến mà không báo trước, ” bà ta nói rồi quay sang Malcolm. “Tạm biệt, Malcolm, ” là tất cả những gì bà ta bảo với cậu. Bà ta không đưa tay ra cho cậu bắt. Tiến sĩ Relf dẫn Phu nhân Coulter ra cửa chính, giúp bà ta mặc vào chiếc áo choàng lông ấm áp, rồi tiễn bà ta ra về. Malcolm quan sát qua khung cửa sổ trong lúc người tài xế đứng thẳng dậy rồi lăng xăng chạy quanh tỏ vẻ hữu dụng. “Chậc, cháu nói như thế để làm gì vậy?” Tiến sĩ Relf hỏi khi chiếc xe đồ sộ đi khỏi. “Cháu không muốn cho bà ấy biết nơi mình sống.” “Nhưng còn người đàn ông với con linh thú linh cẩu! Sao cháu lại...?” “Cháu muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra.” “Malcolm, như thế là rất liều lĩnh.” “Vâng. Nhưng cháu không tin tưởng bà ấy. Cháu muốn tác động đến bà ấy một chút, và cháu nghĩ rằng chuyện đó sẽ có tác dụng.” “Chắc chắn là có rồi. Nhưng... nhắc lại cho cô nhớ nào. Hắn có nói điều gì về Phu nhân Coulter không? Hắn có nói mình là một người bạn không?”
ộg ạg Malcolm nhắc lại điều mà Alice đã kể với mình về Bonneville. “Cháu chỉ nghĩ,” cậu nói thêm, “nếu bà ấy định làm gì tổn hại đến Lyra thì chuyện đó sẽ khiến bà ấy hoảng sợ chút ít.” “Nó khiến cô hoảng sợ này, ” Tiến sĩ Relf kêu lên. “Cô cần một tách trà. Vào bếp đi nào.” “Bà ấy đến đây làm gì vậy ạ?” Malcolm hỏi trong lúc ngồi lên chiếc ghế đẩu trong bếp. “À, ” cô nói, “để hỏi han về Lyra.” “Thật sao? Cô đã nói gì với bà ấy?” “Kì lạ lắm. Dường như bà ấy cho rằng cô có mối liên hệ nào đó với đứa trẻ. Cô cũng nghĩ là mình có, một cách gián tiếp, thông qua cháu. Chuyện đó...” Cô ngừng lại, giữ cái ấm lơ lửng trong không khí, như thể vừa bị dội bởi một suy nghĩ bất chợt. “Phải. Cứ như bà ấy đã biết được điều đó từ một Chân Kế gia vậy. Không biết có phải không! Nó chính xác là kiểu kiến thức cục bộ mà người ta có được khi đang vội, hoặc không phải là một người giải mã thành thạo. Rõ ràng là bà ấy cực kì quan tâm đến nơi ở của đứa bé, và có điều gì đó nói với bà ấy rằng cô có thể sẽ biết.” “Nhưng cô không...” “Đương nhiên là không. Đương nhiên là không rồi! Bà ấy bắt đầu hỏi về nhóm Chân Kế của Oxford, về... đủ thứ chuyện. Nhưng hỏi một cách lịch sự, như thể bà ấy chẳng thực sự hứng thú vậy. Rồi bà ấy bắt đầu hỏi về đứa bé đang được giữ ở đâu đó trong Oxford, hoặc gần Oxford, như thể đó là một điều thú vị nhưng không quan trọng, chỉ có điều là rõ ràng nó rất quan trọng. Jesper đã quan sát con linh thú và thấy nó cứ tóm chặt lấy lưng ghế của bà ấy...” Vừa đặt ấm nước lên bếp và loay hoay với hộp đựng trà, cô vừa đăm chiêu suy nghĩ. Malcolm nhìn thấy mà không nói gì cả. Cô không nói gì cho đến khi cả hai ngồi xuống bên lò sưởi. Rồi cô hít một hơi thật sâu. “Malcolm,” cô nói, “giờ cô sẽ mạo hiểm kể cho cháu vài điều mà đáng ra cô không nên để lộ. Cháu sẽ giữ bí mật về chúng chứ? Cháu hiểu được chuyện này quan trọng như thế nào chứ?”
“Vâng, đương nhiên rồi.” “Phải, đương nhiên là cháu hiểu rồi. Cô sợ đến phát khiếp khi khiến cháu gặp nguy hiểm, mà cô cũng không biết liệu việc biết đến những điều này có làm cháu bị nguy hiểm hơn nữa hay không.” “Có khi không biết còn nguy hiểm hơn đó ạ.” “Phải, đó là điều cô nghĩ, ừm, sự thật là, cô đã rời khỏi nhóm Chân Kế.” “Tại sao ạ?” “Cô được cho cơ hội làm một việc khác. Được tự mình làm việc với một cái Chân Kế khác.” “Cháu cứ nghĩ là không có nhiều cái như vậy cơ.” “Cái này đã được giải phóng. Một cách bất ngờ.” “Thế thì may quá.” “Cô không biết nữa. Có lẽ vậy. Cô nghĩ đó là một trong những điều mà Phu nhân Coulter đã cố gắng tìm hiểu - Liệu cô có nó hay không.” “Vậy bà ấy là mật thám ạ?” “Cô nghĩ vậy. Cho phe bên kia.” “Cô có giấu bà ấy không? Ý cháu là giấu việc cô đang sử dụng nó ấy?” “Cô hi vọng là vậy. Con linh thú ấy... thật chẳng thể đoán được gì từ cái gương mặt đó.” “Nó đã hơi giật mình khi cháu nói về Gerard Bonneville.” “Phải, đúng vậy. Bà ấy cũng rất sốc. Cô vẫn chưa dám chắc là cháu nên làm điều đó.” “Nếu không thì chúng ta đâu biết được.” “Biết được gì cơ?” “Rằng bà ấy biết về ông ta. À, cô có nhớ cháu đã kể về cánh cửa chớp bị hỏng trên cửa sổ tu viện, khi chúng cháu thấy ông ta đánh đập con linh thú của mình không?” “Có.”
“Nó không bị hỏng. Sơ Benedicta nói với cháu rằng có người đã quên không đóng nó lại.” “Thú vị đấy. Không biết có phải ai đó đã cố tình để mở cửa sổ không.” “Đó chính là điều chúng cháu đang nghĩ tới,” Malcolm nói. “Nhưng cháu không biết ai lại làm như vậy.” Tiến sĩ Relf đặt tách trà lên nóc lò sưởi. “Malcolm, cháu sẽ không kể với bất cứ ai về chuyện liên quan đến Chân Kế phải không?” “Tuyệt đối không ạ, ” cậu đáp, ngạc nhiên vì cô lại hỏi như vậy. “Cô cũng không nghĩ là cháu sẽ làm vậy. Nhưng đây là việc tuyệt mật.” “Đương nhiên là cháu không nói đâu, ” cậu khẳng định. Cậu ăn một chiếc bánh quy. Cô bước tới bên cửa sổ. “Nhưng Tiến sĩ Relf ạ, ” cậu nói, “cháu có thể hỏi cô đang làm gì với chiếc Chân Kế mới không? Có giống với việc cô đã làm trong nhóm không?” “Không. Những người đã đưa nó cho cô muốn cô hỏi về Lyra, cùng với những chuyện khác.” “Họ muốn biết gì về cô bé vậy ạ?” “Cô bé quan trọng theo một cách nào đó mà họ không lí giải được. Và họ muốn cô tìm hiểu một vài câu hỏi về Bụi.” Cô đang quay lưng lại với cậu, và cậu cảm nhận được rằng cô không thoải mái khi phải trả lời quá nhiều câu hỏi, nhưng cậu buộc phải hỏi thêm một câu. “Và họ có phải Phố Oakley không ạ?” Cô quay lại. Trời đã sẫm tối phía sau lưng cô, còn nguồn sáng độc nhất trong phòng lại phát ra từ ngọn lửa than trong lò sưởi, nên cậu không thể nhìn thấy biểu cảm của cô. “Phải, đúng vậy, ” cô nặng nề đáp. “Nhưng việc đó không phải để nhắc tới đâu, nhớ đấy.” “Vâng. Được rồi. Cháu sẽ không hỏi thêm câu nào nữa.”
Cô lại quay về phía cửa sổ. “Trông có vẻ như người du mục của cháu đã nói đúng, trời lại sắp mưa rồi,” cô nói. “Chúng ta phải kết thúc sớm thôi, không thì cháu sẽ ướt hết mất. Đến đây chọn vài cuốn sách đi.” Cậu có thể thấy rằng cô đang lo lắng, và không muốn ở cùng với cậu phòng trường hợp cậu khiến cô bực mình, cậu liền nhanh chóng nhặt ra một cuốn truyện trinh thám và một cuốn sách về Trung Hoa rồi chào tạm biệt. Vì lúc này két sắt đã được lắp và sự cắt đứt với nhóm Chân Kế đã hoàn tất, tối hôm đó Hannah hỏi Giáo sư Papadimitriou về khoảnh khắc kì quặc vào cuối bữa tối, khi không ai dám nhìn cô, khi bầu không khí đột nhiên thay đổi. Papadimitriou giải thích sự việc. Có vẻ như đôi khi Phố Oakley và các cơ quan tình báo khác phải sử dụng đến cách tống tiền nhằm khiến một mật thám phản lại phe bên kia. Ví dụ như hiện tại có một mật thám mà họ đang nhắm đến, một kẻ tình cờ lại có hứng thú tình dục với các cậu bé. Ngay khi ông nói ra điều đó, cô liền nhận ra cái bẫy mà mình đã mắc phải, cô hoảng hốt hét lên: “Không! Ông không thể ám chỉ... Không phải Malcolm!” “Hannah...” “Tôi sẽ không để cho chuyện đó xảy ra đâu! Ông nghĩ các ông có thể hiến cậu bé - tôi không biết nữa - làm mồi nhử - và rồi thì sao? Các ông sẽ xông vào phòng rồi bắt quả tang hắn ta? Hay tồi tệ hơn? Các ông sẽ lắp một máy ảnh bí mật rồi chụp ảnh? Các ông muốn đẩy Malcolm vào một tình huống như thế sao? Thật hèn hạ. Vậy mà Nugent nói rằng sẽ không đẩy cậu bé vào nguy hiểm - và tôi đã tin tưởng ông ta. Chúa ơi, tôi đúng là xuẩn ngốc!” “Hannah, cậu bé sẽ không gặp một chút nguy hiểm nào hết. Nó sẽ xảy ra nhanh đến mức cậu bé thậm chí sẽ chẳng nhận thấy được chuyện gì đang diễn ra. Chúng tôi sẽ đảm bảo điều đó. Cậu bé quá quý giá để có thể liều lĩnh.”
“Tôi sẽ không để chuyện đó xảy ra, tôi nói rồi đấy. Không bao giờ. Đáng ra tôi nên trả cái Chân Kế này lại sớm hơn rồi quên đi việc mình từng có liên quan gì đến...” “Chà, như thế thì sẽ...” “Còn ông đã đợi cho tới khi tôi hứa rồi mới nói với tôi. Giờ thì tôi hiểu mình đã cam kết làm kiểu việc như thế nào rồi.” “Hãy quay lại khi nào cô bình tĩnh lại nhé, ” là tất cả những gì ông nói. Không, đương nhiên là cô sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ an toàn cho Malcolm khỏi một thứ như thế. Và cô cũng đã nhìn nhận Ngài Nugent theo một cách khác: Dưới cái vẻ cuốn hút quý phái và sự thân thiện đó, ông ta là một kẻ tàn nhẫn. Tất cả những gì cô có thể làm là hỏi Chân Kế về việc đó, và cố gắng hết sức để hiểu được ý nghĩa của những vòng xoay và khoảng dừng của cái kim dài bằng bạc. Như mọi khi, càng tiến vào sâu, cô càng thấy nhiều nghi vấn. Tối hôm đó, mưa bắt đầu trút xuống xối xả.
T 15 Lán làm vườn ối hôm đó, khi Malcolm đến tu viện để xem liệu ông Taphouse đã khoẻ lại chưa, cậu thấy căn xưởng tối đen và được khoá; nhưng cậu đã bị bất ngờ khi vào bếp, vì Alice đang ở đó nhào bột bánh. “Ồ, ” cậu thốt lên, vì chẳng thể nghĩ ra được gì khác. Cô nàng vẫn mang cái vẻ khinh khỉnh như mọi khi và chẳng nói chẳng rằng. “Chào cháu, Malcolm,” sơ Fenella lên tiếng. Bà lão đang ngồi cạnh bếp lò kế bên cái nôi của Lyra, trông bà không có vẻ khoẻ lắm. “Alice đang giúp đỡ chúng ta một thời gian, ” bà sơ nói tiếp, giọng bà nhẹ và như hết hơi. “À đúng rồi,” cậu nói. “Lyra thế nào rồi ạ?” “Nó đang ngủ say. Cháu đến xem này.” Gương mặt của Lyra đang vùi vào trong bộ lông con linh thú mèo con của mình, nhưng chẳng được lâu, vì ngay khi Asta bay xuống nôi, Pantalaimon liền bừng tỉnh rồi phun phì phì một cách dữ dội. Việc đó đương nhiên đã đánh thức Lyra, và cô bé bắt đầu kêu rống lên bằng toàn bộ lượng khí trong hai buồng phổi nhỏ bé của mình. “Không sao đâu, Lyra, ” Malcolm nói, “em biết bọn anh là ai mà. Ồn ào quá! Anh dám chắc là người ta có thể nghe thấy tiếng của em từ tít bên kia sông và vào tận trong quán Cá Hồi.” Asta hoá thành một con mèo nhỏ rồi nhảy vào trong nôi, cẩn thận không chạm vào Lyra, nó cắp con linh thú mèo con Pan lên rồi khẽ lắc. Pan bị bất ngờ đến mức Lyra lập tức im bặt để xem
chuyện gì đang diễn ra. Việc đó khiến Malcolm phá lên cười, khiến cả Lyra cũng cười, đôi mắt sáng lấp lánh vì nước mắt. Malcolm mừng rỡ vì có được tác động này. Alice liền đến xem. “Đồ nhóc con giỏi ve vãn, ” Alice thốt lên rồi trở lại với việc làm bánh. “Ôi không đâu, ” sơ Fenella nói, “cô bé biết Malcolm mà, phải không nào bé yêu? Chúng ta biết Malcolm và Asta, đúng không?” “Cháu bế cô bé được không ạ?” Malcolm hỏi. “Gần đến giờ cho con bé ăn rồi - được, cháu bế đi. Cháu nhấc được nó lên không đó?” “Dễ ợt, ” Malcolm đáp, và trong lúc Asta đùa bỡn đập lấy đập để con mèo con, cậu với vào trong rồi nâng đứa bé lên. Giờ chúng đã quen với việc đó nên không hét lên hoảng hốt như lần đầu nữa. Malcolm dùng chân kéo lấy một cái ghế đẩu rồi cho Lyra ngồi lên đầu gối mình bên cạnh sơ Fenella. Đứa bé nhìn ngắm mọi vật xung quanh, bàn tay nó lần lên miệng và đút ngón cái vào trong. “Cô bé đói đến mức đang tự ăn mình kìa, ” Malcolm nói. Sơ Fenella đang quấy xoong sữa trên lò bếp và dùng ngón út để kiểm tra nhiệt độ. “Đây rồi, rất vừa vặn, ” bà nói. “Malcolm cháu yêu, cháu có thể đổ đầy bình giùm ta không?” Malcolm trao Lyra cho bà rồi đổ sữa thật cẩn thận vào một cái bình sạch. Cậu muốn kể với Alice về chuyện đã xảy ra vào buổi chiều hôm đó với Phu nhân Coulter, nhưng không phải khi sơ Fenella còn đang ở đó, mà dù sao thì cô cũng tỏ ra quá ngạo mạn và lạnh lùng, khiến cậu chẳng thấy dễ dàng để nói bất cứ điều gì với cô. Khi bình sữa đã sẵn sàng, sơ Fenella đặt Lyra vào phía trong của khuỷu tay rồi ngồi xuống để cho cô bé ăn. Malcolm cảm thấy lo lắng, bà lão vẫn ngọt ngào và tử tế như mọi khi, nhưng gương mặt bà lại xám ngoét còn đôi mắt thì hằn viền đỏ và mệt mỏi.
“Cháu tới xem ông Taphouse đã khoẻ hơn chưa, ” cậu nói trong lúc lại ngồi xuống ghế đẩu. “Vài ngày rồi chúng ta chưa gặp ông ấy. Hi vọng ông ấy ổn cả. Ta đảm bảo là ông Taphouse sẽ cho chúng ta biết nếu cảm thấy không khoẻ.” “Có lẽ ông ấy đang nghỉ phép. Nhưng ông ấy đã hoàn thành hết số cửa chớp đó rồi đúng không ạ?” “Ồ, ông ấy là một người thợ tuyệt vời.” “Nếu các sơ cần làm bất cứ việc gì khác thì cháu sẽ lo.” Alice khẽ cười. Malcolm quyết định lờ nó đi. Trong một lúc, những âm thanh duy nhất trong nhà bếp là tiếng vỗ nhịp nhàng của đôi tay Alice lên tảng bột, tiếng lách tách khe khẽ của lửa trong bếp lò, tiếng đôi môi Lyra mút đầy mãn nguyện lên đầu núm vú cao su, và một âm thanh nữa mà Malcolm không thể xác định được cho tới khi cậu nhận ra rằng đó là tiếng thở yếu ớt đầy căng thẳng của sơ Fenella. Đôi mắt của bà lão đang nhắm nghiền, một cái chau mày nhẹ vì cố gắng kéo hai bên lông mày của bà lại với nhau. Rồi trong lúc Malcolm quan sát, cái bình tuột khỏi tay bà, rất chậm rãi, còn cánh tay đang ôm Lyra rời ra, thậm chí còn chậm chạp hơn, nên cậu đã có thời gian để gọi lớn, “Alice!” rồi tóm lấy đứa bé trước khi sơ Fenella đổ sụp xuống lòng lò sưởi. Lyra hét lên phản đối, nhưng Malcolm đã ôm chắc được cô bé, kèm theo cả bình sữa nữa. Trong thoáng chốc, Alice tóm lấy hai vai của sơ Fenella rồi nhẹ nhàng kéo thẳng bà dậy, nhưng bà lão đã bất tỉnh. Con linh thú sóc Geraint của sơ Fenella nằm ngất trên ngực bà. “Chúng ta nên làm gì...” Alice kêu lên. “Chị ôm lấy sơ để sơ ấy không bị ngã nữa, còn em sẽ đi kiếm...” “Rồi, rồi - đi đi...” Malcolm ôm Lyra đứng dậy. Việc này đủ thú vị để khiến đứa trẻ ngừng gào thét, nhưng dù sao thì Malcolm cũng ấn cái bình vào miệng nó, rồi cùng với Asta trong dạng mèo trên sàn, miệng
ệg g g ạg ệg ngậm lấy mèo con Pan, và theo sát phía sau, cậu chạy xuống hành lang về phía văn phòng của sơ Benedicta. Nơi ấy đang trống trơn, hẳn rồi. Cậu nhìn quanh cứ như bà có thể đang trốn, rồi lắc đầu. “Sơ ấy không có ở đây, Lyra ạ, ” cậu nói. “Chẳng bao giờ ở đó khi chúng ta cần sơ ấy, phải không nào?” Cậu bước ra ngoài và thấy một bóng dáng mảnh khảnh xa phía dưới khu hành lang. “Sơ Katarina?” Cậu gọi. Nữ tu trẻ quay lại. Trông cô có vẻ bị giật mình hơn Malcolm nghĩ. “Gì? Gì vậy?” “Sơ Fenella bị ngất và chúng cháu cần giúp đỡ - sơ Fenella đang cho Lyra ăn rồi...” “Ôi! Ôi lạy Chúa! Sao...” “Sơ hãy gọi sơ Benedicta rồi tới giúp trong bếp nhé.” “Được! Được! Đương nhiên rồi!” Cô quay người rồi vội vã chạy đi gọi sơ Benedicta. “Đó là sơ Katarina, Lyra ạ, ” Malcolm nói. “Sơ ấy sẽ đi tìm sơ Benedicta. Em cứ tiếp tục uống đi, cô bé, đừng có lo lắng về chuyện đó. Bây giờ chúng ta sẽ quay lại nhà bếp. Ở ngoài này lạnh dã man nhỉ?” Alice đã kéo được sơ Fenella trở lại ghế bành, nhưng bà sơ già vẫn chưa tỉnh lại, tiếng thở của bà thật ồn ào và khó nhọc. “Viêm phổi,” Alice nhận xét, vẫn đang giữ cho bà ngồi thẳng. “Bà của chị cũng như vậy khi mắc bệnh này.” “Bà ấy đã mất chưa?” “À, sau cùng thì bà cũng mất, nhưng không phải do cái đó. Chúa ơi, nó cần phải thay tã rồi.” Alice nhìn Lyra, cô bé đang quyết tâm bú cạn bình. “Chà, em không làm được việc đó, ” Malcolm nói. “Điển hình quá.” “Chỉ vì em chưa từng được chỉ cho cách làm thôi.”
“Nếu các sơ cần làm bất cứ việc gì khác thì cháu sẽ lo,” cô nhại lại. “Người ta sẽ không đi tìm một người thợ mộc để làm việc đó, ” Malcolm nhấn mạnh. “Trong xoong có còn chút sữa nào không?” “Có, một ít. Bế nó lên - đây, chuyền con bé cho chị - chị sẽ làm. Em đổ sữa vào đi.” “Chị chăm trẻ được à?” “Chị có hai em gái đó. Đương nhiên là làm được rồi.” Quả thật cô có vẻ đang bế Lyra một cách rất vững vàng và thành thạo, rồi khi cô vỗ lưng đứa bé, một tiếng ợ to đùng phát ra, khiến con linh thú nhỏ của nó giật mình mà biến thành một con gà Tây con. Malcolm đặt xoong trở lại trên lò bếp để hâm nóng một lúc. “Đừng nóng quá đó, ” Alice nói. “Không, không đâu. Em đã thấy sơ ấy làm rồi mà.” Ngón út của Malcolm không được sạch cho lắm nên đầu tiên cậu mút nó thật mạnh rồi sau đó nhúng nó vào xoong cho tới khi sữa đủ ấm, rồi đổ tất cả vào trong bình. Sau đó cậu dựng sơ Fenella ngồi thẳng dậy rồi kê một chiếc gối phía sau đầu bà, vừa lúc sơ Benedicta và sơ Katarina bước vào. “Kiểm tra đứa bé đi,” sơ Benedicta nói, và sơ Katarina định ôm lấy Lyra, nhưng Alice không chịu. “Giờ nó đã nằm yên với cháu rồi,” Alice nói. “Cháu sẽ ôm cho đến khi nó bú xong.” “Ồ - nếu cháu chắc chắn như vậy...” Alice nhìn sơ Katarina. Malcolm biết cái nhìn đó, và rất háo hức muốn xem tác động của nó lên người khác. Sơ Katarina bồn chồn nhìn đi chỗ khác rồi thậm chí còn đẩy ghế về phía trước một chút để Alice ngồi xuống. Con linh thú chó Pug của nữ tu này trốn sau hai chân cô. Sơ Benedicta đang chăm sóc sơ Fenella. Bà đưa một chút muối ngửi qua dưới mũi bà lão, khiến bà chun mũi rồi rên rỉ -
nhưng bà không tỉnh lại. “Có cần cháu đi kiếm bác sĩ không ạ?” Malcolm hỏi. “Cảm ơn cháu, Malcolm, nhưng tối nay thì chúng ta không cần ông ấy đâu, ” sơ Benedicta nói. “Sơ Fenella tội nghiệp cần được nghỉ ngơi hơn. Chúng ta sẽ đưa bà ấy về giường của mình. Làm tốt lắm, cả hai đứa. Alice, đưa Lyra cho sơ Katarina đi. Cháu nên quay lại với tảng bột bánh của mình thì hơn. Malcolm, tối nay thế là đủ rồi, cảm ơn cháu. Cháu về nhà đi.” “Nếu sơ có cần bất cứ gì...” “Ừ, ta sẽ nhờ cháu ngay. Chúc ngủ ngon.” Bà đang lo lắng cho sơ Fenella, và cả cậu cũng vậy. Nhưng không có gì phải lo lắng về Lyra cả, cậu nghĩ. Ngày hôm sau là Chủ Nhật, Malcolm có thời gian vào buổi sáng để chất đồ dự trữ khẩn cấp lên chiếc xuồng, để phòng hờ, như Asta vẫn luôn nói. Quan trọng hơn cả là cái hộp nhỏ đựng dụng cụ của cậu, nhưng cậu cũng có một hộp bánh quy cũ lấy từ bếp với đủ loại mẩu vụn khác trong đó. Cậu nghĩ tới việc đem theo một ít dụng cụ cấp cứu, nhưng lại quyết định thôi dựa trên việc cậu không có cái nào, mặc dù sẽ thật tốt nếu một ngày nào đó cậu kiếm được một ít. Khi cậu xong xuôi, Alice đã đến để làm việc trong bếp vài tiếng giờ ăn trưa. Ngay khi chỉ còn Malcolm và mình, cô liền lên tiếng: “Sáng nay em đã gặp sơ Fenella chưa?” “Chưa. Nhưng nếu họ cần bác sĩ thì em đã được cử đi rồi.” Cả hai không nói gì trong lúc bà Polstead ở đó, như thể chúng đã đồng ý giữ bí mật về điều đó, mặc dù như thế là không cần thiết. Malcolm đã kể cho cha mẹ mình nghe về chuyện xảy ra, họ cũng kinh ngạc y như Malcolm đã từng khi nghe nói rằng Alice đang làm việc trong nhà bếp của tu viện vậy. “Nếu con bé biết làm bánh, mẹ có thể cho nó làm thêm vài tiếng,” mẹ cậu nói. “Nó là một ứng viên sáng giá giấu mặt đó, ” cha cậu nhận xét.
Khi cha mẹ đã ra ngoài, cả Malcolm và Alice đều cùng một lúc lên tiếng. “Chị nhớ mình đã nói gì về...” Malcolm nói, còn Alice thì bảo: “Bà sơ còn lại...” , rồi tiếp tục, “Được rồi, em nói trước đi.” “Chị nhớ mình đã nói gì về chuyện Gerard Bonneville tự nhận là cha của Lyra chứ?” “Em không kể chuyện đó với ai đấy chứ?” “Cứ nghe đã, ” Malcolm nói, rồi cậu kể cho Alice về chuyến viếng thăm của mình đến nhà Tiến sĩ Relf, gặp Phu nhân Coulter ở đó, và điều cậu đã nói với bà ta. “Em không nói việc ông ấy đã nhận mình là...” “Không, đương nhiên là không rồi. Chỉ nói ông ta bảo mình quen biết bà ấy. Như vậy là đủ rồi. Bà ấy bị sốc nặng luôn. Nên em chắc chắn đó là sự thật - bà ấy biết rõ ông ta là ai.” “Mà bà ta ở đó làm gì vậy?” “Bà ấy hỏi Tiến sĩ Relf xem Lyra ở đâu.” “Cô ấy có nói không?” “Tiến sĩ Relf ấy à? Không! Cô ấy sẽ không bao giờ làm thế.” Cậu đang định nói thêm rằng, “Cô ấy là một mật thám,” nhưng lại thôi. Cậu không được để lộ chút gì về chuyện đó, nhưng càng ngày việc nói chuyện với Alice càng trở nên dễ dàng hơn, nên cậu sẽ phải rất cẩn thận. Cậu nói tiếp: “Cô ấy nói rằng mình không biết, ý em là Tiến sĩ Relf ấy. Cô ấy rất ngạc nhiên. Có lẽ Phu nhân Coulter đến gặp cô ấy về chuyện chiếc Chân Kế.” “Đó là cái gì vậy?” Cậu bắt đầu giải thích, và rồi mẹ cậu quay lại. Nếu đột ngột ngừng nói thì trông cả hai sẽ rất lúng túng nên cậu nói hết