phần lõi ra để dự trữ, rồi với tới một cái khác. “Sơ biết là nước sông đang rất cao đúng không?” Cậu bắt đầu. “À, mọi người đều nghĩ là bây giờ trời đã ngừng mưa nên nó sẽ hạ xuống thôi, nhưng mưa lại sắp trở lại và con sông sẽ bị lụt tồi tệ hơn đã từng xảy ra trong nhiều năm trời.” “Thật sao?” “Vâng. Một người du mục đã cho cháu biết. Những người du mục ấy mà, họ biết rõ sông ngòi lắm, họ biết tất cả các đường thuỷ của nước Anh này. Cháu chỉ muốn đảm bảo rằng sơ Benedicta biết chuyện để có thể bảo vệ an toàn cho mọi thứ, đặc biệt là Lyra. Vì chỗ của các sơ nằm khá thấp trên bờ sông này. Cháu đã nói với ba và ông bảo rằng tất cả các sơ đều có thể đến ở lại quán Cá Hồi, chỉ có điều là có thể quán sẽ không đủ linh thiêng.” Bà phá lên cười rồi vỗ hai bàn tay đỏ ửng nhăn nheo của mình lại với nhau. “Cháu đã kể với những người khác, ” Malcolm nói tiếp, “nhưng chẳng ai tin cháu cả, cháu nghĩ vậy. Giá mà các sơ có vài con thuyền ở đây. Nếu có thể nổi thì gặp lũ các sơ cũng sẽ không sao, nhưng...” “Tất cả chúng ta sẽ bị cuốn đi mất, ” sơ Fenella nói. “Nhưng ta không nên lo lắng. Chúng ta đã gặp một trận lũ lớn hồi... ồ, cách đây năm mươi năm - ta mới là tập sinh - toàn bộ khu vườn chìm trong bể nước, nước tràn thẳng vào cho tới khi tầng trệt ngập sâu cả chục phân. Ta cho rằng việc đó cực kì lí thú, nhưng các sơ lớn tuổi hơn thì lại đang lo lắng nên ta đã không nói gì. Đương nhiên, ngày đó ta chẳng phải chịu trách nhiệm về điều gì cả. Và cơn lũ cũng sớm rút đi. Cho nên ta không nên lo lắng quá nhiều,
Malcolm ạ. Hầu hết mọi việc đã từng xảy đến, và chúng ta vẫn đều đang ở đây, nhờ ơn Chúa.” “Có một việc khác mà cháu muốn nói với sơ Benedicta, ” Malcolm bảo. “Nhưng có lẽ sẽ phải chờ đến ngày mai. Hôm nay ông Taphouse có ở đây không ạ?” “Ta chưa gặp ông ấy. Ta nghe nói ông ấy không được khoẻ.” “Ồ... Cháu cũng đang định nói chuyện với ông ấy nữa. Có lẽ cháu có thể đi gặp ông ấy, nhưng cháu không biết ông ấy sống ở đâu.” “Ta cũng không.” “Vậy thì rốt cuộc cháu vẫn sẽ phải gặp sơ Benedicta thôi. Khi nào thì mọi người làm lễ xong ạ?” Hoá ra buổi lễ dài sẽ kết thúc trong vòng hai mươi phút nữa, để cho các sơ có một tiếng đồng hồ để giải lao và vận động, hoặc để tiếp tục làm công việc của họ trong vườn hay với kim thêu trước khi ngồi xuống dùng bữa. Malcolm quyết định dùng thời gian đó để dạy Lyra nói. “Nào, Lyra, nghe này, anh là Malcolm. Dễ nói lắm. Nào, thử đi. Mal-colm.” Cô bé nghiêm nghị nhìn cậu. Pantalaimon biến thành một con chuột chũi rồi vùi mình vào trong chăn của nó, khiến Asta phá lên cười. “Không, đừng cười,” Malcolm kêu lên. “Thử đi, Lyra. Malcolm.” Cô bé chau mày rồi nhỏ dãi. “Chậc, cuối cùng rồi em cũng sẽ học được cách nói thôi,” cậu nói trong lúc lấy một tấm khăn lau bát chấm chấm lên má cô bé cho khô. “Thử Asta xem nào. As-ta.” Lyra thận trọng nhìn cậu mà không nói gì cả. “Chà, dù sao thì cô bé cũng rẩt tiến bộ so với tuổi của mình rồi,” Malcolm nói. “Linh thú của nó rất khôn ngoan khi biến thành chuột chũi. Làm sao chúng biết được về chuột chũi nhỉ?” “Đó là một bí ẩn, ” bà sơ già nói. “Chỉ có Chúa lòng lành mới biết được câu trả lời, nhưng chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, vì
xét cho cùng Ngài đã tạo ra vạn vật.” “Tôi nhớ mình đã từng biến thành chuột chũi,” con linh thú già Geraint của bà lên tiếng, thông thường nó rất kiệm lời, chỉ quan sát mọi việc với cái đầu nghiêng sang một bên. “Khi nào hoảng sợ, tôi thường biến thành chuột chũi.” “Nhưng làm sao ta biết được về chuột chũi?” Malcolm hỏi. “Ta sẽ cảm thấy chuột chũi thôi,” Asta đáp. “Ừmm,” Malcolm trầm ngâm. “Nhìn kìa, nó lại trồi lên rồi.” Đầu của Pan, giờ không còn là chuột chũi mà đã biến thành thỏ, thò ra từ đống chăn, ghé sát vào Lyra để cho an toàn, nhưng lại rất tò mò. “Để anh nói cho nghe này, Lyra, ” Malcolm nói, “em có thể dạy Pan cách nói từ Malcolm đó.” Cô nhóc và con linh thú lắp bắp nói chuyện với nhau một cách thận trọng. Sau đó Asta biến thành khỉ rồi đứng chổng ngược trên hai bàn tay, và cả hai phá lên cười. “Chà, em có thể cười kể cả khi không thể nói,” Malcolm nói. “Anh nghĩ là em sẽ học được nhanh thôi. Còn sơ Fenella thì sao? Em nói được không? Sơ Fen-ella?” Cô bé con quay đầu về phía sơ Fenella rồi nở một nụ cười rạng rỡ đầy hạnh phúc, linh thú của nó biến thành một con sóc giống như Geraint rồi ríu rít trong hân hoan. “Nó thông minh thật đấy, ” Malcolm nói, lòng đầy thán phục. Vừa lúc đó, cậu nghe thấy một tiếng rì rầm nói chuyện trong hành lang, rồi cửa nhà bếp mở ra để sơ Benedicta bước vào. “A! Malcolm! Ta đang muốn nói chuyện với cháu. May mà cháu ở đây. Mọi chuyện ổn chứ, sơ?” Ý bà là Mọi chuyện với Lyra ổn chứ?, nhưng bà không thật sự lắng nghe câu trả lời. Một nữ tu khác, sơ Katarina, đang đến để chăm sóc đứa bé trong lúc sơ Fenella vào nhà nguyện thực hiện một buổi lễ riêng tư cho chính mình, hoặc là Malcolm hiểu như vậy. Sơ Katarina còn trẻ và rất xinh đẹp, với đôi mắt đen to tròn,
nhưng sự bồn chồn của cô cũng khiến Lyra lo lắng theo. Đứa bé chỉ thật sự hoàn toàn hạnh phúc khi ở bên sơ Fenella. “Đi theo ta nào, Malcolm,” sơ Benedicta nói. “Ta muốn nói nhanh vài lời.” Nghe không có vẻ gì là cậu đang gặp rắc rối cả. Không phải là kiểu triệu tập đó. “Cháu cũng có chuyện muốn nói với sơ, ” cậu nói trong lúc bà đóng cửa văn phòng lại phía sau họ. “Đợi chút đã. Cháu có nhớ người đàn ông mà cháu đã kể với ta không? Người có con linh thú ba chân đó?” “Tối hôm trước cháu đã nhìn thấy ông ta, ” Malcolm nói. “Cháu đang đi qua các phòng ngủ trên lầu ở nhà để tìm đồ thì...” Cậu mô tả điều mình đã chứng kiến. Bà chăm chú lắng nghe, lông mày chau lại. “Một ô cửa chớp bị hỏng à? Không, nó không bị hỏng đâu. Có người đã quên không đóng nó lại. Bỏ qua chuyện đó đi. Cháu thấy việc hắn đã làm với linh thú của mình rồi đấy - rõ ràng là người đàn ông này có vấn đề về tâm thần, Malcolm ạ. Điều ta muốn nói là cháu hãy tránh xa hắn ta ra. Nếu thấy hắn ở đâu, hãy cứ đi theo hướng ngược lại. Đừng để bị kéo vào cuộc nói chuyện. Ta biết cháu thân thiện thế nào với tất cả mọi người, và đó là một đức tính tốt, nhưng cháu cũng phải dùng tới óc phán xét nữa, đó cũng lại là một đức tính khác. Người đàn ông đó không thể dùng lí trí được, thật tội nghiệp, và những cơn ám ảnh của hắn có thể làm tổn thương người khác cũng như chúng đã làm tổn thương linh thú của hắn. Giờ thì cháu muốn nói gì với ta? Là về hắn ta à?” “Một phần ạ. Nhưng phần khác là việc sắp có lũ. Một người đàn ông du mục đã nói cho cháu biết.” “Ôi, vớ vẩn! Thời tiết thay đổi rồi. Trước khi ta kịp nhận ra thì trời đã chuyển sang xuân. Tạ ơn Chúa lòng lành, tất cả mưa gió đã kết thúc rồi.” “Nhưng ông ấy giải thích...”
“Rất nhiều điều mà đám du mục nói là mê tín, Malcolm ạ. Hãy lịch sự lắng nghe, nhưng ta phải nhắc lại - hãy dùng óc phán xét của mình. Tất cả các dự báo của Cục Khí tượng đều thống nhất: Những cơn mưa lớn đã tan, và sẽ không có hiểm hoạ ngập lụt nào.” “Nhưng những người du mục hiểu rõ các con sông và thời tiết...” “Cảm ơn cháu đã chuyển lời cảnh báo của ông ta. Nhưng ta nghĩ chúng ta sẽ an toàn thôi. Nào, còn gì nữa không?” “Ông Taphouse vẫn ổn chứ ạ?” “Ông ấy có chút không khoẻ. Bây giờ tất cả chỗ cửa chớp đã được lắp xong nên ta bảo ông ấy hãy nghỉ ngơi vài ngày. Cháu về đi, Malcolm. Ghi nhớ lời ta nói với cháu về người đàn ông đó.” Rất khó để có thể tranh cãi với sơ Benedicta. Mà cũng chẳng phải là cậu muốn tranh cãi, tất cả những gì cậu cố gắng làm là cảnh báo, như ông van Texel đã nhờ cậu. Đêm hôm đó, cậu lại có một giấc mơ khác về những con chó hoang. Hay có lẽ đó chính là giấc mơ kia: một đàn chó hoang, đủ loại khác nhau, lần này là chạy với tốc độ dữ dội qua một vùng đồng bằng trống trải, dự định đi săn hay giết một thứ gì đó mà cậu không thấy được. Cậu thấy thích thú với điều đó. Nó vừa đáng sợ, đồng thời lại vừa hào hứng, rồi cậu bật tỉnh, người đầm đìa mồ hôi và thở dốc, cậu nằm ôm chặt lấy Asta, đương nhiên là con linh thú cũng đã thấy cùng một giấc mơ đó. Một lúc lâu sau khi chúng dậy chuẩn bị tới trường, cậu vẫn vẩn vơ nghĩ về nó. Vì không có chút thành công nào trong việc cảnh báo các sơ về cơn lũ, Malcolm thử với các giáo viên của mình. Cậu nhận được phản ứng y hệt. Thật ngớ ngẩn - Đó là mê tín - Đám du mục chẳng biết gì cả, hoặc là họ đang âm mưu gì đó, hay đơn giản là họ không đáng tin.
“Tớ chịu, ” Malcolm nói với Robbie, Eric và Tom ở sân chơi. “Vài người chỉ đơn giản là không muốn bị cảnh báo.” “Chậc, cái cơn lũ này trông chẳng có vẻ gì là sẽ xảy ra cả, ” Robbie nhận xét. “Nước sông vẫn còn cao mà, ” Tom bảo, nó là đứa tuân theo mọi thứ mà Malcolm nói một cách trung thành. “Sẽ không cần thêm nhiều mưa...” “Cha tớ bảo ta không thể tin tưởng bất cứ điều gì dân du mục nói,” Eric tuyên bố. “Luôn có một đặc cụ ở với họ.” “Một cái gì cơ?” Robbie hỏi. “Họ có những kế hoạch bí mật mà không ai khác biết tới ấy.” “Đừng có nói linh tinh, ” Malcolm nói. “Đây có thể là kế hoạch bí mật gì chứ?” “Ai mà biết, ” Eric nói vẻ đầy chính đáng. “Nó bí mật là vì thế mà.” “Cậu không còn đeo huy hiệu Liên hiệp nữa rồi,” Robbie chỉ ra. “Tớ dám cá là có một đặc vụ bí mật đứng đằng sau tổ chức đó và mọi việc.” Để trả lời, Eric chậm rãi với tay lên ve áo cộc tay của mình rồi dùng một ngón tay và ngón trỏ để lật nó lại. Được đính bên dưới là chiếc đèn nhỏ phủ men của Liên hiệp Thánh Alexander. “Tại sao cậu lại giấu nó đi?” Malcolm hỏi. “Những người đã đạt đến cấp hai trong chúng tớ sẽ đeo huy hiệu như thế này, ” Eric đáp. “Có vài người như vậy trong trường, không nhiều lắm.” “Ít nhất nếu cậu đeo ra bên ngoài, người ta sẽ thấy được là cậu thuộc hội đó, ” Robbie nói. “Nhưng giấu nó đi thì thật là lén lút.” “Tại sao chứ?” Eric hỏi, thật lòng thấy kinh ngạc. “Vì nếu nhìn thấy có người đeo phù hiệu, người ta chỉ cần không nói điều gì khiến họ đi báo cáo được, ” Malcolm nói. “Nhưng nếu họ giấu đi, người ta có thể thấy mình gặp rắc rối mà chẳng hiểu tại sao.”
“Mà cái cấp hai này là gì vậy?” Robbie hỏi. “Tớ không được phép kể cho các cậu.” “Nhưng đảm bảo là cậu sẽ kể thôi,” Malcolm nói. “Đảm bảo cậu sẽ kể cho chúng tớ biết trước khi hết tuần.” “Còn lâu, ” Eric nói. “Cậu sẽ làm đấy, ” Robbie và Tom cùng lên tiếng. Eric vênh vang bỏ đi, cảm thấy bị xúc phạm. Tầm ảnh hưởng của Liên hiệp đã trở nên vững vàng kể từ những thành công lớn đầu tiên. Thầy Hawkins hiệu phó, người đã lập tức thoả hiệp với tổ chức này được xác nhận là người kế nhiệm cho vị hiệu trưởng cũ đã biến mất. Eric nói rằng thấy Willis đang ở một trại huấn luyện đặc biệt, nhưng người ta cũng chẳng tin tưởng cậu nhiều hơn mọi khi, nên không ai biết chắc chắn cả. Một vài giáo viên từng bỏ việc để phản kháng hoặc bị yêu cầu nghỉ việc đã quay trở lại, ủ rũ và bị chế ngự, những người khác thì biến mất và bị thay thế. Quyền lực thực sự ở trường được nắm giữ bởi nhóm học sinh cấp cao chưa-từngđược-đặt-tên-hẳn-hoi, chưa-từng-được-mô-tả-hẳn-hoi, chưatừng-được-thừa-nhận-hẳn-hoi là những thành viên đầu tiên và có ảnh hưởng lớn nhất của Liên hiệp. Chúng gặp thầy Hawkins hằng ngày, và các quyết định hay mệnh lệnh của chúng sẽ được thông báo vào buổi tập trung trường của ngày hôm sau. Bằng cách nào đó mấy cái đấy lại được ngụ ý rằng những thông báo như vậy đều là những lời răn trực tiếp của Chúa trời, vì vậy bất tuân hoặc chống đối đều là báng bổ Ngài. Rất nhiều học sinh đã gặp rắc rối trước khi chúng hiểu ra được điều này. Tuy nhiên hiện nay, sự thấu hiểu đã lan toả khắp nơi. Các học sinh thuộc nhóm nửa kín này được trợ giúp và hướng dẫn bởi hai hay ba người lớn, có lời đồn rằng họ là những uỷ viên đặc biệt của hội đồng quản trị. Họ không bao giờ phát biểu trong buổi tập trung, không bao giờ dạy bất cứ giờ học nào, gần như không bao giờ trao đổi với học sinh; họ vừa đi tuần qua các hành lang vừa ghi chép, họ được các nhân viên đối xử với sự khúm núm đặc biệt, nhưng chẳng đứa trẻ nào được biết tên hay
nhiệm vụ của họ là gì. Chuyện đó chỉ đơn giản là được chấp nhận. Khoảng một nửa trường đã gia nhập Liên hiệp; trong số đó, vài đứa đã bỏ đi, và trong số còn lại, một vài đã nhượng bộ và gia nhập. Tạm thời, không ai quan sát được gì thêm về người phụ nữ ban đầu đã tới nói cho chúng về Liên hiệp, và hoàn toàn chẳng có gì được nhắc tới trên báo. Người ta có thể ở trong trường khá lâu mà chẳng bao giờ nghe thấy Liên hiệp được nhắc đến, nhưng dù vậy, sự tồn tại của tổ chức này đã được tất cả mọi người biết đến như thể nó vẫn luôn ở đó vậy, như thể sẽ là rất kì lạ nếu một ngôi trường không bị thứ chướng khí nửa mê hoặc, nửa kinh hoàng này lan khắp. Các giờ học vẫn tiếp diễn như bình thường, dù cho bây giờ, việc cầu nguyện được thực hiện trước mỗi tiết học. Những tấm hình được treo trong các hành lang và lớp học -