phần của vấn đề. Mỗi chiếc hình thành một sự hợp nhất với người giải mã của nó. Không bên nào là trọn vẹn khi làm việc nếu thiếu bên còn lại.” “Đó chính là một trong những bí ẩn mà chúng ta phải giải,” Al-Kaisy nói. Ngài Nugent đứng dậy khỏi bàn rồi đem cái hộp nhỏ với các góc xước xát đến cho Hannah. Trông nó có vẻ là gỗ hồng sắc;
một mẫu vẽ được sơn trên nắp chỉ vừa nhận ra được là một huy hiệu. Cô nhấc cái nắp lên rồi nhìn kĩ chiếc Chân Kế trước khi nâng nó ra khỏi cái ổ làm từ vải nhung màu hạt dẻ và đặt lên tấm khăn trải bàn màu trắng. Nó có chiều sâu hơn thiết bị tại Bodley nhưng lớp vỏ bằng vàng cũng mòn không kém do bị cầm nắm nhiều, và nó cũng toả sáng dưới ánh đèn không kém phần rực rỡ và bùng cháy. Ba mươi sáu biểu tượng xếp quanh mặt đồng hồ được vẽ đơn giản hơn, và chỉ được phủ men đen trắng chứ không phải bằng những màu sắc rực rỡ trên ngà voi giống như chiếc tại Bodley; nhưng trông chúng ít giống đồ trang trí mà giống những phẩm chất cốt yếu hơn. Phía sau các kim ngắn và cây kim dài, hình chạm khắc của mặt trời đang toả sáng huy hoàng chiếm trọn vùng trung tâm của mặt đồng hồ. Hannah cảm thấy hai tay mình vươn về phía nó như tới gương mặt của một người tình vậy. Chiếc Chân Kế Bodley đẹp và được trang trí cầu kì, cô cảm thấy một sự kính cẩn to lớn và thậm chí là sợ hãi trước nó. Chiếc này thì có vẻ thiết thực hơn, nhưng nó hợp với cô theo một cách thật khó diễn tả. Nó chào đón đôi tay của cô như thể chúng chính là đôi tay đã mài mòn lớp vỏ bằng vàng qua hàng thế kỉ và làm nhẵn khía của các núm vặn. Ngay khi vừa cảm nhận được nó, cô lập tức muốn ở một mình với nó, cô muốn dành hàng giờ hàng ngày trời bên cạnh nó, muốn nó không bao giờ rời xa quá một sải tay. Cô để cho tâm trí rơi vào trạng thái chú tâm một cách thư giãn mà ở trong đó, cô có thể cảm thấy mười hoặc mười hai lớp nghĩa đầu tiên của từng biểu tượng, rồi xoay núm vặn đầu tiên tới chỗ đứa bé, một trong những ý nghĩa của biểu tượng này là ám chỉ người đang tra hỏi. Núm thứ hai cô vặn về tổ ong, trong trường hợp này ám chỉ công việc sản xuất. Núm thứ ba cô đặt vào quả táo, chốt ý nghĩa của nó trong tâm trí cô ở mức ám chỉ một sự thẩm vấn chung chung thuộc bất cứ loại nào. Nếu có sách, cô đã có thể đặt câu hỏi chính xác hơn, nhưng như thế này hẳn là đủ rồi: Cô có nên chấp nhận thử thách này hay không?
Lập tức, chiếc kim dài bắt đầu xoay mòng mòng, Hannah đếm được sáu vòng trước khi nó dừng lại một cách chắc chắn trên hình con rối. Cấp độ thứ sáu trong phạm vi của con rối, trong một lượt giải mã đơn giản như thế này, ám chỉ một lời xác nhận: Có, cô nên nhận. Cô nhìn lên, hít một hơi sâu, rồi chớp chớp mắt khi thoát khỏi trạng thái nhập định hờ của mình. Tất cả mọi người đều đang nhìn cô. “Được, tôi sẽ làm,” cô nói. Không có gì nhầm lẫn về sự nhẹ nhõm và khoan khoái thể hiện trên nét mặt họ. Đến cả Papadimitriou cũng mỉm cười như một cậu bé được cho quà. Điều mà Hannah đã không nói với họ là đôi tay cô chạm lên chiếc máy lập tức có cảm giác như ở nhà và ở nơi làm việc theo cái cách mà chúng chưa từng có với chiếc Chân Kế Oxford. Và gần như cùng một lúc, cô nhận thấy có vấn đề. “Nhưng,” cô thốt lên. “Vâng?” Papadimitriou nói. “Tôi có thể tiến hành công việc của mình với chiếc Chân Kế Bodley chỉ bởi vì thư viện có tất cả những cuốn sách về những tầng ý nghĩa sâu hơn của các phạm vi biểu tượng. Theo ghi nhớ, tôi có thể thực hiện khoảng một tá lớp nghĩa, không nhiều hơn. Nếu rời khỏi nhóm, tôi sẽ không thể sử dụng những cuốn sách mà không để lộ rằng mình đang được dùng một chiếc Chân Kế khác, còn nếu không có sách thì tôi sẽ chẳng giúp ích gì được cho các vị.” Những người khác quay sang nhìn Papadimitriou. Đâu đó phảng phất mùi hương cà phê đang nhỏ giọt. Papadimitriou nói: “Ngoài mặt thì điều đó đúng là có đưa ra một vấn đề thật. Nhưng sách thì dễ nhân bản hơn là Chân Kế. Tôi sẽ đích thân chịu trách nhiệm tìm đủ số lượng cô cần.” “Nếu người ta mà biết rằng ông đang hứng thú tìm những cuốn sách như vậy, ” Yasmin Al-Kaisy bảo, “họ sẽ khớp nối chuyện này với chuyện kia. Một chiếc Chân Kế bị mất ở đây, một
học giả hăng hái tìm kiếm để giành được vài cuốn sách cụ thể ở đó...” “Sẽ không phải là ‘ở đó’ này đâu, ” Papadimitriou nói. “Nó sẽ là vài ‘ở đó’ khác. Đừng lo về chuyện ấy.” “Chúng ta có thể phát ra vài tờ giấy xanh, ” Nugent nói trong lúc đón lấy một tách cà phê từ bà Al-Kaisy. “Tờ giấy xanh?” Hannah thắc mắc. “Lời đồn thất thiệt. Vào thời kì đầu của Phố Oakley, kế hoạch cho mấy việc kiểu như thế thường được phác thảo ra trên giấy xanh. Chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ đó. Chúng ta có thể gợi ý rằng mình đã tìm thấy thiết bị bị mất. Hoặc rằng chúng ta đã thành công trong việc chế tạo một cái khác, hoặc vài cái khác. Giấy xanh thỉnh thoảng cũng rất hữu ích.” “Vâng, tôi hiểu rồi,” Hannah nói. “Tôi có thể lại thực tế được không?” “Xin mời.” “Tôi sẽ cần có thu nhập. Nếu quay lại với giảng dạy, việc mà đương nhiên là tôi có thể làm, tôi sẽ có rất ít thời gian để làm việc cho Phố Oakley.” “Cứ để việc đó cho tôi,” Ngài Nugent đáp. “Một người chú mà cô không biết rõ, một khoản thừa kế, đại loại như vậy. Chúng tôi không có nhiều tiền nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ không để cho cô chết đói.” “Tôi hi vọng vậy, ” Hannah nói. Cô nhận thấy rằng hai tay mình vẫn chưa rời khỏi Chân Kế kể từ khi mới chạm vào nó. Cô ngượng ngùng rút tay lại rồi nhấm nháp cà phê. “Những sự thu xếp thực tế, ” Yasmin Al-Kaisy nói. “Thêm nhiều thu xếp thực tế nữa. Cô có két sắt ở nhà không?” “Không,” cô đáp, không ngăn nổi một tiếng cười khẽ trong giọng của mình. “Tôi chẳng có gì quý giá cả.” “Giờ thì cô đã có rồi. Chúng tôi sẽ thu xếp để cho một món đồ gia dụng mới - cứ cho là một lò hơi cấp nhiệt trung tâm mới đi, một thứ đại loại như thế - được chuyển đến và lắp đặt trong hai
hay ba ngày tới. Nó sẽ không phải là lò hơi mà là một két sắt. Xin hãy cất Chân Kế trong đó khi cô không sử dụng đến.” “Chắc chắn rồi.” Cô nghĩ: Tốt hơn hết nó nên ở trên tầng, phòng trường hợp bị lụt. Và điều đó khiến cô nhớ đến lời cảnh báo của Malcolm, cô liền nói: “Ngài Nugent, có đặc vụ nào của Phố Oakley tên là Coram van Texel không?” “Không,” ông đáp. Cô nghĩ: Thú vị đây. Một trong hai người hẳn phải nói dối, và mình nghĩ đó là Nugent. Đằng nào thì mình cũng có thể hỏi Chân Kế. Cô nói tiếp: “Hay là một người có tên Gerard Bonneville. Hắn có liên quan gì đến vụ này không?” “Nhà vật lí học Bonneville?” “Hắn là một nhà vật lí học sao? Thế mà tôi không biết. Hắn có linh thú là con linh cẩu bị mất một chân.” “Ông ta đã từng là nhà nghiên cứu dẫn đầu về vụ Rusakov. Bụi, mấy vấn đề kiểu đấy. Sau đó ông ta mất phương hướng và bị tống giam vì xâm hại tình dục, tôi nghĩ vậy. Cô biết tới ông ta như thế nào?” “Có vẻ như hắn đang ở Oxford. Hắn đã đến quán nhậu của cha Malcolm. Hôm trước Malcolm có nhắc tới hắn. Còn một điều nữa: Làm sao chúng ta có thể liên lạc với nhau? Vẫn là cách trước đây sao?” “Không,” Papadimitriou nói. “Cô và tôi sẽ phải sắp xếp để gặp mặt thường xuyên. Với tư cách mới là một học giả độc lập, cứ nói như vậy đi, cô đang xin lời khuyên của tôi về một cuốn sách cô muốn viết. Chúng ta gặp gỡ để trao đổi về nghiên cứu của cô. Kiểu dạng như vậy. Cô thường làm gì, xem nào, vào đầu buổi tối thứ Bảy?” “Thông thường tôi sẽ làm việc ở nhà.” “Hãy đến Jordan vào lúc sáu giờ.” “Tôi hiểu rồi.” “Tôi tự hỏi không biết cô có thể bắt đầu làm một việc ngay lập tức được không,” Nugent nói.
“Vâng, tôi nghĩ mình có thể, ” cô đáp. “Vì giờ tôi đã có thứ này trong tay.” “Là về một đứa trẻ trong tu viện. Vì một lí do nào đó mà chúng tôi không hiểu được, thì cô bé rất quan trọng với phe còn lại. Cô có thể thực hiện vài tra hỏi chung chung không, hay bắt buộc phải là một câu hỏi đặc biệt được tập trung chặt chẽ?” “Cả hai, nhưng càng tập trung chặt chẽ thì càng tốn thời gian.” “Vậy thì hỏi chung chung thôi. Chúng tôi rất cần biết tại sao đứa bé lại quan trọng. Nếu cô có thể đặt một câu hỏi để có được giải đáp cho vấn đề đó thì sẽ giúp ích rất nhiều.” “Tôi sẽ cố hết sức.” “Còn một điều nữa, ” Nugent nói tiếp. “Anh bạn nhỏ của cô, cậu bé ở quán trọ - Matthew phải không nhỉ?” “Malcolm Polstead.” “Malcolm. Chúng tôi sẽ không đặt cậu bé vào tình thế nguy hiểm, nhưng cậu bé có thể có giá trị theo vài cách. Cứ tiếp tục giữ liên lạc với cậu bé. Kể với cậu bé bất cứ điều gì mà cô cho rằng cậu bé có thể giữ miệng về chuyện đó. Nhặt nhạnh bất cứ thông tin gì có thể.” Có điều gì đó đã xảy ra. Không khí trong căn phòng đã thay đổi, khá đột ngột. Có một biểu hiện của... cô không thể hiểu nổi - cứ như thể tất cả những người khác đều biết một bí mật mà cô không biết và họ không muốn nhìn vào cô. Không thể nào là những lời lẽ của Ngài Nugent được, chúng có vẻ khá là vô thưởng vô phạt, hay cô đã bỏ qua một điều mà họ ngầm ám chỉ? Khoảnh khắc đó trôi qua. Mọi người đứng dậy, những lời từ biệt được nói ra, áo khoác được lấy, những lời cảm ơn được thốt lên; Hannah đặt chiếc Chân Kế trong cái hộp gỗ hồng sắc của nó vào một túi mua đồ bằng vải cotton rồi lên đường về nhà. “Jesper, chuyện gì đã xảy ra lúc đó vậy?” Cô nói khi họ vừa rẽ vào đường Woodstock. “Họ biết rằng ông ấy ám chỉ một điều gì đó ẩn dưới câu nói của mình, và họ không thích nó.”
“Chậc, ngần đó thì tôi cũng đã tự nhận thấy. Không biết là gì nhỉ.”
N 14 Quý bà và con khỉ gày hôm sau, Malcolm thấy các sơ đang bận rộn chuẩn bị cho Yến tiệc Thánh Scholastica. Nó không thật sự là một bữa yến tiệc, như sơ Penella đã giải thích cho một Malcolm ê chề thất vọng vào các dịp trước đây: Đó là một ngày kỉ niệm, nhưng nó có nghĩa là những buổi lễ dài đằng đẵng trong nhà nguyện hơn là những bàn đầy ngập đồ trong nhà ăn. Tuy nhiên, rõ ràng là người ta không kì vọng Lyra sẽ hát và cầu nguyện cùng với các sơ, mà cũng rõ ràng không kém là cô bé không thể bị bỏ lại mà không được chăm sóc trong khi những bài Thánh ca, Thánh thi và lời cầu nguyện của họ dâng mãi lên vô tận, vì vậy sơ Fenella được miễn nghĩa vụ ca tụng vị thánh đã mất và được cắt cử đi trông nom đứa bé trong khi chuẩn bị cho bữa tối. Malcolm bước vào bếp vừa đúng lúc bà lão đang đặt món thịt cừu hầm vào lò. Con linh thú sơ sinh Pantalaimon rúc lên một tiếng lảnh lót. Malcolm tiến lại gần hơn để Asta có thể đậu lên thành giường cũi rồi hoá thành đủ loại chim chóc mà nó biết, lần lượt từng loài một, khiến cho Lyra và con linh thú của cô bé cười phá lên như thể đó là điều ngộ nghĩnh nhất thế giới vậy. “Vài ngày rồi chúng ta chưa gặp cháu nhỉ, Malcolm, ” sơ Fenella nói. “Cháu đã làm gì vậy?” “Đủ thứ việc ạ. Sơ Fenella này, liệu sơ Benedicta có thể gặp cháu sau buổi lễ được không?” “Không được lâu đâu, cháu yêu ạ. Hôm nay là một ngày bận rộn. Ta có thể giúp cháu chuyển lời gì đến bà ấy không?”
“À... Cháu phải cảnh báo cho sơ Benedicta, nhưng cháu cũng có thể cảnh báo với sơ, vì nó là cho tất cả các sơ.” “Ôi chao ôi. Cháu định cảnh báo cho chúng ta về việc gì?” Bà ngồi lên ghế đẩu rồi kéo cái bắp cải gần nhất trên bàn về phía mình. Malcolm quan sát đôi tay bà và con dao cũ mèm đang thái nhỏ bắp cải mà không vội vã, xếp riêng những lớp lá bên ngoài và