Phần lớn các vị chỉ huy trưởng cũng là đại tá đấy”. “OK, vậy thì bất cứ chuẩn tướng nào cũng làm được”. “Với chữ ký duyệt lệnh giả sao?” “Ai mà chẳng làm giả chữ ký được”. “Và hy vọng thoát được sau đó ư? Không, toàn bộ việc này được dàn xếp bởi một người biết mình không thể bị trừng phạt. Một ai đó bất khả xâm phạm”. “Chính là Tham mưu trưởng sao?” Tôi lắc đầu. “Không, Phó Tham mưu trưởng thì đúng hơn, anh nghĩ vậy. Phó Tham mưu trưởng là người đã lên từ bộ binh. Và ta có thể cho rằng ông ta là một kẻ tương đối thông minh. Ai lại để bọn ngơ ngác ngồi ghế đó. Anh nghĩ ông ta đã thấy các dấu hiệu. Ông ta thấy Bức Tường Berlin
dần sụp đổ, và nghĩ về việc đó, rồi nhận ra tất cả những thứ khác cũng sẽ sụp đổ theo mà thôi. Chính là toàn bộ cơ chế thiết lập lâu đời này”. “Và sao nữa?” “Và ông ta bắt đầu lo lắng về động thái nào đó từ Thiết giáp. Một động thái quyết liệt. Như mình từng nói, bọn họ có quá nhiều thứ để mất. Anh đoán vị Phó này lường thấy rắc rối, nên dịch chuyển bọn anh, sung từng người vào từng nơi hợp lý, để bọn anh kịp ngăn chặn trước khi có chuyện. Mà anh nghĩ ông ta lo lắng cũng không sai. Anh đoán Thiết giáp đã thấy hiểm họa tới gần, nên họ muốn đánh phủ đầu trước. Họ đâu muốn các đơn vị phối hợp đặt dưới sự chỉ huy của sĩ quan bộ binh. Họ muốn giữ nguyên hiện trạng này. Nên anh nghĩ hội nghị ở trại Irwin nọ chính là dịp để bọn họ bàn việc triển khai một động thái quyết liệt. Một điều kinh khủng nào đó. Vậy nên bọn họ mới lo sốt vó nếu bản chương trình nghị sự kia lọt ra ngoài”. “Nhưng thay đổi là điều tất nhiên mà. Có ai cản nổi nó đâu”. “Có ai bình thản mà chấp nhận điều đó đâu”, tôi đáp. “Chưa từng có, và sẽ chẳng bao giờ có. Em xuống xưởng tàu Hải quân đi, và anh cam đoan rằng em sẽ tìm thấy cả triệu tấn giấy tờ năm chục năm tuổi, được cất giữ đâu đó, nói rằng không gì có thể thay thế tàu chiến, và hàng không mẫu hạm là thứ rác rưởi hiện đại mà thôi. Ở đó sẽ chẳng thiếu các vị đô đốc đang dồn toàn bộ tâm huyết viết những bài luận dài cả trăm trang, thề sống thề chết rằng cách của họ mới là tuyệt đối”. Summer không đáp. Tôi mỉm cười. “Cứ tìm trong hồ sơ của chúng ta, có khi em lại tìm thấy thư do chính ông cố của gã Kramer viết, rằng xe tăng chẳng thể nào thay thế được ngựa chiến ấy chứ”. “Chính xác thì họ định làm gì?” Tôi nhún vai. “Ta chưa thấy bản chương trình nghị sự kia. Nhưng ta vẫn đoán được mà. Hiển nhiên là làm giảm uy tín của đối thủ rồi. Bới bèo ra bọ triệt để. Chắc chắn có sự thông đồng với bên công nghiệp quốc phòng. Nếu thuyết phục được các nhà sản xuất nói rằng xe thiết giáp hạng nhẹ không thể an toàn, thì quá tốt cho họ. Họ có thể tận dụng để tuyên truyền đại chúng. Họ có thể dọa người dân rằng con cái họ sẽ được đưa tới chiến tuyến trong những cái hộp sắt mà nó trẻ con bắn cũng thủng. Họ có thể cố hù dọa Quốc hội, rằng một đội máy bay vận tảiC-130 đủ lớn để tạo sự khác biệt sẽ tốn hàng trăm tỷ đô la”. “Đó mới chỉ là chửi nhau bình thường mà thôi”.
“Nên có thể còn nhiều nữa. Ta chưa biết hết được. Con trụy tim của Kramer làm mọi thứ trật đường ray. Ít nhất là trong thời điểm này”. “Anh nghĩ họ sẽ khởi động lại mọi sự à?” “Nếu là em có làm không? Khi mình có quá nhiều thứ để mất?” Cô rời một tay khỏi vô lăng. Đặt lên đùi. Hơi xoay qua nhìn tôi. “Vậy sao anh muốn gặp Tham mưu trưởng?” cô hỏi. “Nếu anh nói đúng, thì vị Phó kia mới cùng bên phe anh mà. Ông ta đưa anh tới đây. Ông ta là người bảo vệ anh”. “Như chơi cờ thôi em”, tôi bảo. “Trò kéo co. Có hai phe ta, địch. Phe ta đưa anh đến đây, phe địch dời Garber đi nơi khác. Di chuyển Garber khó hơn là anh, suy ra phe địch là cấp trên của phe ta. Và người duy nhất cao hơn vị Phó, chính là Tham mưu trưởng. Hai vị trí đó luôn thay đổi luân phiên, vì ta biết vị Phó là người của bộ binh, suy ra Tham mưu trưởng sẽ là người của Thiết giáp. Suy ra, hắn có liên can”. “Tham mưu trưởng là phe địch sao?” Tôi gật đầu. “Vậy sao anh còn muốn gặp hắn?” “Vì ta đang ở trong quân đội, Summer ạ”, tôi bảo, “Ta phải đối mặt với kẻ thù, chứ không đối mặt với đồng minh”. * * * Càng gần Thủ đô chúng tôi càng trở nên lặng lẽ. Tôi biết điểm mạnh lẫn yếu của mình, và tôi đủ trẻ, đủ can đảm và đủ ngu ngốc để không ngán ai cả. Nhưng đối đầu với Tham mưu trưởng là cả một vấn đề khác. Một vị thẻ siêu phàm. Chẳng còn ai khác cao hơn chức vị đó cả. Trong những năm tôi phục vụ quân ngũ đã qua ba người như vậy, dù chưa từng gặp bất cứ người nào trong số đó. Chưa từng nhìn thấy họ nữa, theo tôi nhớ. Và tôi cũng chưa từng thấy vị Phó Tham mưu trưởng, hay vị Thứ trưởng, hay bất kỳ những kẻ dòng dõi nào trong vòng tròn cao quý đó cả. Họ như thể một loài khác vậy. Có gì đó ở họ khác xa những kẻ còn lại như chúng tôi. Nhưng khởi đầu của bọn họ cũng như chúng tôi. Chính tôi cũng có thể lên tới vị thế đó, theo lý thuyết. Tôi từng tốt nghiệp trường quân sự West Point, giống họ vậy. Nhưng trường West Point suốt mấy thập kỷ này chẳng hạn gì một trường kỹ sư được đánh bóng vậy. Để lên đến bậc Tham mưu, anh phải được cử đi học ở một nơi khác sau khi tốt nghiệp. Một nơi nào đó cao cấp hơn. Anh phải tốt nghiệp hoặc Đại học George Washington, hoặc Stanford, hoặc Harvard, hoặc Yale, hoặc MIT, hoặc
Princeton, hoặc từ những trường ở tận Anh quốc nhưOxford hay Cambridge. Anh phải có học bổng Rhodes. Anh phải có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ về kinh tế, chính trị hoặc quan hệ quốc tế. Anh phải tham gia chương trình White House Fellows của chính phủ. Đó là nơi sự nghiệp của tôi rẽ hướng. Ngay sau trường West Point. Tôi nhìn vào gương và thấy một thằng cha giỏi thụi nhau hơn là dùi mài kinh sử. Người khác nhìn tôi cũng thấy vậy. Công đoạn phân loại diễn ra ngay ngày đầu trong quân đội. Nên bọn họ đi đường họ, còn tôi đi “Để anh đi một mình”, tôi bảo. “Còn lâu”, Summer đáp. “Anh sẽ đi một mình”, tôi nói. “Em muốn gọi đây là gì cũng được. Là lời khuyên từ một người bạn, hoặc mệnh lệnh trực tiếp của một sĩ quan cấp trên. Nhưng em sẽ ở lại trong xe. Chắc chắn thế. Nếu cần, anh sẽ còng tay em vào vô lăng”. “Ta lâm vào cảnh này cùng nhau mà”. “Nhưng ta cần phải khôn khéo. Đây đâu phải mình đi gặp Andrea Norton. Việc này vô cùng rủi ro. Chẳng lý do nào hai ta phải cùng nhau xuống lỗ cả”. “Anh có ở yên trong xe không? Nếu anh là em?” “Anh sẽ trốn dưới gầm xe ấy”, tôi đáp. Cô không nói gì. Chỉ lặng lẽ lái xe, tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Chúng tôi đến đại lộ Beltway. Bắt đầu chặng đường dài một phần tư vành đai theo chiều kim đồng hồ tới Arlington * * * An ninh ở Lầu Năm Góc hôm nay được siết chặt hơn ngày thường một chút. Hình như có ai đó đang sợ nhóm phiến quân tàn dư của tay độc tài Noriega triển khai một cuộc tấn công hai ngàn dặm về phía Bắc. Nhưng chúng tôi vào bãi đậu xe mà không gặp trở ngại gì. Ở đó gần như bị bỏ trống. Summer đánh một vòng thật chậm rồi dừng lại gần cửa chính. Cô tắt máy rồi kéo phanh tay. Động tác của cô mạnh hơn mức cần thiết một chút. Tôi đoán cô đang tỏ thái độ với mình. Tôi nhìn đồng hồ. Năm phút trước nửa đêm. “Ta còn định cãi nhau nữa không em?” tôi hỏi. Cô nhún vai. “Chúc anh may mắn”, cô nói. “Nhớ cho hắn no đòn nhé”. Tôi trườn ra trời lạnh. Đóng cửa xe sau lưng, rồi đúng yên một lúc. Tòa nhà đứng sừng sững trước tôi trong màn đêm. Người ta bảo đây là tòa nhà phức hợp văn phòng lớn nhất thế giới, và khi ấy tôi tin họ. Tôi bắt
đầu bước đi. Trước cửa là một gờ giảm tốc dài. Rồi đến một phòng an ninh to bằng sân bóng rổ. Phù hiệu đặc nhiệm đã giúp tôi vượt qua nơi ấy. Rồi tôi hướng tới trung tâm của tòa nhà. Có năm hành lang theo hình ngũ giác đồng tâm, gọi là các vành đai. Mỗi nơi được dựng chốt an ninh riêng để bảo vệ. Phù hiệu đã giúp tôi vượt qua vành đai B, C và D. Nhưng chẳng có gì trên thế giới này có thể giúp tôi vào đến vành đai E. Tôi dừng lại bên ngoài chốt an ninh cuối cùng và gật đầu với lính gác. Anh ta cũng gật đầu lại. Anh ta quen nhìn người khác đứng chờ ở đây rồi. Tôi ngả lưng vào tường. Tường xi măng được làm nhẵn, cảm giác rất trơn và lạnh lẽo. Bên trong tòa nhà vắng lặng. Tôi chẳng nghe được tiếng gì khác ngoài tiếng ống nước, tiếng máy sưởi và hơi thở vững vàng của viên canh gác. Sàn nhà lót các tấm vải son sáng bóng, và chúng phản chiếu ánh đèn huỳnh quang trên trần nhà thành hai vệt sáng dài chạy đến một điểm ảo ở mãi đằng xa. Tôi đợi. Tôi thấy một chiếc đồng hồ trong bốt canh. Nó đang chỉ quá nửa đêm. Quá nửa đêm năm phút. Rồi mười phút. Tôi đợi. Tôi bắt đầu nghĩ lời thách thức của mình đã bị lờ đi. Họ toàn là chính trị gia cả. Có thể họ đã đi một nước cờ cao hơn sức tôi có thể tưởng tượng. Có thể họ sĩ diện, hay tinh vi, hay kiên nhẫn hơn tôi. Có thể tôi đã vượn hơi quá tầm với của mình rồi. Hoặc người phụ nữ đáp điện thoại kia đã quẳng tin nhắn của tôi vào thùng rác. Tôi đợi. Rồi mười lăm phút sau nửa đêm, tôi chợt nghe tiếng gót giày gõ xuống lớp vải sơm vọng tới. Tiếng giày tây, riêng rẽ từng nhịp bước một, nửa khẩn cấp, nửa thong thả. Như một người bận bịu nhưng không hốt hoảng. Tôi không thấy người đó. Tiếng gót giày gỗ sàn vọng tới chỗ tôi từ một góc khuất. Nó chạy trước người đó, dọc theo hành lang vắng người như một âm thanh cảnh báo từ xa vậy. Tôi lắng nghe âm thanh đó, nhìn nơi mà nó gợi ý người kia sẽ hiện ra, và đó chính là điểm mà ánh đèn huỳnh quang trên trần nhà gặp ảnh phản chiếu của mình trên sàn. Âm thanh kia vẫn vọng tới. Rồi một người đàn ông rẽ góc tiến vào, bước xuyên qua ánh sáng chói bừng. Người đó tiếp tục đi thẳng tới hướng tôi, nhịp chân không đối, không chậm lại, không tăng tốc, vẫn bận rộn, mà không hốt hoảng. Người đó tới gần hơn. Đó chính là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Ông ta mặc bộ quần áo
tiệc tối trang trọng. Áo vét ngắn màu xanh ôm vào hông. Quần xanh có hai viền chỉ vàng hai bên. Cổ đeo nơ. Khuy áo và khuy cổ tay vàng. Hai bên tay áo và vai là những hàng dây tết chỉ vàng được thắt và uốn vòng rất công phu. Khắp người ông ta là huy hiệu, quân hàm, khăn quàng cùng nhiều huân chương phiên bản nhỏ khác, tất cả đều bằng vàng. Đầu ông ta đã bạc. Cao chừng một mét bảy lăm, nặng tám chục cân. Theo đúng số đo trung bình của quân nhân hiện đại. Ông ta tới cách tôi chừng mười bước thì tôi lập tức giậm chân đứng nghiêm, giơ tay lên chào. Một phản xạ hoàn toàn tự nhiên. Như một tín đồ Công giáo gặp Giáo hoàng vậy. Ông ta không chào lại. Chỉ nhìn tôi. Hình như có một thông lệ nào đó ngăn cấm sĩ quan giơ tay chào kiểu nhà binh khi đang mặc quân phục tiệc tối thì phải. Hoặc khi đang đi đầu trần trong Lầu Năm Góc. Hoặc cũng có thể là ông ta bất lịch sự mà thôi. Ông ta chia tay ra. “Xin lỗi tôi đến muộn”, ông ta nói. “Cậu đợi được thì tốt quá. Tôi vừa từ Nhà Trắng về. Đi ăn tối với vài người bạn nước ngoài ấy mà”. Tôi bắt tay ông ta. “Vào văn phòng tôi đi”, ông ta bảo. Ông ta dẫn tôi qua chốt an ninh vành đai E, rồi chúng tôi rẽ trái vào hành lang và đi tiếp một đoạn. Sau đó chúng tôi vào một căn phòng, và tôi gặp người phụ nữ đáp máy ban nãy. Trông bà ta cũng giống hình ảnh tôi tưởng tượng ít nhiều. Bà ta mặc thường phục. Một áo khoác sậm màu đứng đắn đến mức trong trang trọng hơn cả một bộ đồng phục. Nhưng giọng bà ta nghe trực tiếp hay hơn khi ở trên điện thoại. “Cà phê chứ, Thiếu tá?” bà ta nói. Bà ta đã pha sẵn một bình mới. Tôi đoán bà ta đã bật máy lên vào lúc mười một giờ năm mươi ba, để cà phê pha xong vào chính xác nửa đêm. Văn phòng Tham mưu trưởng dám là một nơi như vậy lắm. Bà ta đưa tôi đĩa lót, và một cái ly làm bằng sứ trong. Tôi sợ mình vô tình bóp vỡ nó như bóp vỏ trứng mất. “Hướng này”, Tham mưu trưởng nói. Ông ta dẫn tôi vào văn phòng mình. Ly cà phê của tôi rung lắc dữ dội trên đĩa lót. Văn phòng của ông ta đơn giản đến ngạc nhiên. Tường xi măng làm nhẵn hệt như tòa nhà vậy. Và dùng một loại bàn làm việc bằng thép mà tôi từng thấy trong văn phòng chuyên viên khám nghiệm tử thi ở trại Bird. “Ngồi đi”, ông ta nói. “Nếu cậu không phiền, thì ta sẽ bàn chuyện nhanh
nhé. Cũng trễ rồi”. Tôi không nói gì. Ông ta quan sát tôi. “Tôi đã nhận được tin nhắn của cậu”, ông bảo. “Nhận được, và hiểu rõ”. Tôi không nói gì. Ông ta thử móm lời. “Tay chân giỏi của gã Noriega vẫn còn nhởn nhơ ngoài kia”, ông ta nói. “Cậu nghĩ nguyên nhân là sao?” “Đất nước ba mươi ngàn dặm vuông”, tôi đáp, “Quá rộng rãi để người ta ẩn náu”. “Liệu ta có tóm được hết chúng không?” “Không phải bàn”, tôi nói. “Sẽ có kẻ bán đứng chúng mà thôi”. “Cậu là một người hoài nghi”. “Một người thực tế thì đúng hơn”, tôi đáp. “Cậu có gì cần nói với tôi nào, Thiếu tá?” Tôi nhấp cà phê. Đèn khá tối. Chợt tôi nhận ra mình đang sâu trong một tòa nhà an ninh vào hàng nhất thế giới, vào một đêm muộn, đối mặt với quân nhân quyền lực nhất quốc gia. Mà tôi lại sắp sửa ném ra một lời buộc tội nghiêm trọng. Và chỉ một người khác biết tôi đang ở đây, mà có khi cô đã bị ném vào một phòng giam đâu đó rồi ấy chứ. “Tôi từng ở Panama hai tuần trước”, tôi nói. “Sau đó được chuyển đi”. “Cậu nghĩ là vì sao?” Tôi hít một hơi. “Tôi nghĩ là Phó Tham mưu trưởng đã sắp đặt từng cá nhân tới từng nơi riêng biệt vì ông ta lo lắng về một rắc rối lớn”. “Rắc rối kiểu gì?” “Một cuộc đảo chính nội bộ, từ nhóm bạn nối khố của ông bên Thiết giáp”. Ông ta lặng đi một