hồi lâu, rồi hỏi, “Mối lo đó có thực tế không?” Tôi gật đầu. “Có một hội nghị ở trại Irwin diễn ra vào hôm mồng một. Tôi cho rằng bản chương trình nghị sự đó có chứa thông tin đáng quan ngại, có thể vi phạm pháp luật, có khả năng là mưu phản nữa”. Tham mưu trưởng không đáp. “Nhưng nó đã thất bại, tôi nói. “Vì thiếu tướng Kramer đã chết. Thất bại đó có thể dẫn tới vô vàn rắc rối. Nên ông đã tự can thiệp, bằng cách thuyên chuyển đại tá Garber ra khỏi Đội 110 và cho một kẻ bất tài tiếp quản”. “Sao tôi lại làm thế?” “Để mọi việc thuận theo chiều tự nhiên, và việc điều tra cũng thất bại”. Ông ta ngồi im một lúc lâu. Rồi chợt mỉm cười.
“Suy luận giỏi lắm”, ông ta nói. “Sự sụp đổ của cộng sản Xô Viết hiển nhiên sẽ gây ra đủ loại phiền lo cho nội bộ quân đội Hoa Kỳ. Những phiền lo ấy hiển nhiên sẽ dẫn đến đủ thứ âm mưu và toan tính trong nội bộ. Những âm mưu và toan tính nội bộ này hiển nhiên sẽ được lường trước, và hiển nhiên sẽ có những phương án được chuẩn bị để sẵn sàng diệt trừ hiểm họa tiềm tàng từ trong trứng nước. Và như cậu nói, cấp trên hiển nhiên sẽ chịu nhiều áp lực, dẫn đến việc họ đi các nước cà riêng, và những nước cờ đối lại”. Tôi không nói gì. “Như chơi cờ ấy mà”, ông ta bảo. “Phó Tham mưu trưởng đi một nước, và tôi đi một nước đối lại. Một kết cục đường nhiên, ta đoán vậy, bởi vì cậu đang truy tìm hai nhân vật cấp cao, trong đó một người ở cấp cao hơn người kia”. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta. “Tôi có sai không?” tôi hỏi. “Chỉ sai hai điều thôi”, ông ta đáp. “Đương nhiên là cậu đúng ở khoản có những thay đổi lớn đang tới. Cơ quan tình báo CIA có hơi chậm chạp trong việc phát hiện sự sụp đổ hiển nhiên của phía Nga, khiến chúng ta chỉ còn không đầy một năm để cân nhắc mọi việc. Những tin tôi đi, chúng ta đã cân nhắc mọi việc rồi. Chúng ta đang ở một tình thế độc đáo lắm. Chúng ta như một võ sĩ hạng nặng dành biết bao năm trời tập luyện chuẩn bị thi đấu giải vô địch thế giới, rồi bỗng một sáng thức dậy chợt thấy đối thủ mình nhắm đến lâu nay tự dưng lăn đùng ra chết. Đó là một cảm giác kỳ khôi vô cùng. Nhưng chúng ta đã thăm dò đến nơi đến chốn”. Ông ta cúi xuống mở ngăn tủ, rồi chật vật lấy ra một tập hồ sơ khổng lồ. Nó phải dày tới ba inch. Nó rơi thịch xuống mặt bàn làm việc của ông ta. Nó được bọc trong một lớp bìa xanh lá, có khắc một dòng chữ dài màu đen. Ông ta lật ngược lại cho tôi đọc. Nó ghi: Thay đổi. “Sai lầm đầu tiên của cậu là tầm nhìn quá hạn hẹp”, ông ta nói. “Cậu phải lùi lại mà nhìn nó bằng con mắt của chúng tôi. Nghĩa là từ trên nhìn xuống ấy. Thay đổi đâu chỉ dành riêng cho Thiết giáp. Tất cả sẽ phải thay đổi. Đương nhiên là chúng ta sẽ chuyển qua những đơn vị phối hợp cơ động hơn. Những sai lầm khi cho rằng chúng chỉ là một nhóm bộ binh buộc thêm vài chiếc chuông và còi mà thôi. Chúng sẽ là một khái niệm hoàn toàn mới. Chúng sẽ là một thứ chưa từng xuất hiện. Có thể ta sẽ phối hợp cả trực thăng chiến đấu, và giao quyền chỉ huy cho những
người bay trên trời. Có thể ta sẽ tập trung vào phương thức tác chiến điện tử, và giao quyền chỉ huy cho những người dùng máy tính”. Tôi không nói gì. Ông ta đặt tay lên tập hồ sơ, úp lòng bàn tay xuống. “Điều ta muốn nói ở đây là chẳng có phe nào giữ được nguyên hiện trạng của mình sau cuộc đổi mới này. Ừ thì, vị thế của Thiết giáp sẽ bị tổn hại. Không phải bàn về điều đó rồi. Nhưng phía bộ binh, kể cả pháo binh, kể cả vận tải, ban hậu cần, và tất cả những ban bệ khác, cũng sẽ phải chịu chung cảnh như vậy. Có những bên sẽ tổn thất nhiều hơn ấy chứ. Kể cả Quân cảnh nữa, biết đâu đấy. Tất cả sẽ phải thay đổi, Thiếu tá ạ. Sẽ không có hòn sỏi nào không bị lật lên cả”. Tôi không nói gì. “Đây đâu phải cuộc thượng đài giữa Thiết giáp và bộ binh”, ông ta nói. “Cậu cần hiểu điều đó. Nói vậy là giản lược thái quá. Đây là cuộc thượng đài của tất cả mọi người. Sẽ không có người chiến thắng, tôi e là vậy. Nhưng đồng thời, sẽ chẳng có ai thua cuộc. Cậu có thể chọn cách nghĩ như vậy. Mọi người đều trên cùng một con thuyền”. Ông ta rời tay khỏi tập hồ sơ. “Sai lầm thứ hai của tôi là gì?” tôi hỏi. “Chính tôi đã chuyển cậu ra khỏi Panama”, ông ta nói. “Không phải vị Phó kia. Ông ta có biết gì về việc này đâu. Tôi tự tay lựa chọn hai mươi người, rồi đặt họ vào những nơi tôi nghĩ là cần thiết. Tôi dàn đều các cậu ra, bởi vì tôi nhận thấy bên nào cũng có khả năng chớp mắt trước tiên. Đó là đơn vị hạng nhẹ, hay đơn vị hạng nặng? Chắng tài nào đoán được. Một khi chỉ huy của họ bắt đầu suy nghĩ, tất cả sẽ nhận ra mình có quá nhiều thứ để mất. Tôi cử cậu đến trại Bird, ví dụ nhé, vì hơi lo ngại tay David Brubaker. Hắn là dạng người xông xáo mà”. “Nhưng chính Thiết giáp là bên chớp mắt trước tiên”, tôi nói. Ông ta gật đầu. “Có vẻ là vậy”, ông ta nói. “Nếu cậu bảo thế. Đó vẫn luôn là điều may rủi mà. Và thú thật thì tôi cũng hơi thất vọng. Họ là anh em của tôi. Nhưng tôi sẽ không vì vậy mà bao bọc cho họ. Tôi đã đi tiếp và đi lên. Tôi đã bỏ họ lại phía sau. Tôi hoàn toàn hài lòng để sự việc diễn ra tự nhiên”. “Vậy tại sao ông lại thuyên chuyển Garber?” “Tôi đâu có làm”. “Vậy là ai?”
“Trên tôi có ai?” “Không ai cả”, tôi bảo. “Ước gì là vậy”, ông ta nói. Tôi không đáp. “Một khẩu M16 có giá bao nhiêu?” ông ta hỏi. “Tôi không biết”, tôi đáp. “Không đắt lắm, tôi đoán vậy”. “Chúng ta mua chúng với giá tầm bốn trăm đô la”, ông ta nói. “Một chiếc xe tăng chủ lực Abrams M1A1 có giá bao nhiêu?” “Chừng bốn triệu đô”. “Thế thì nghĩ đến các nhà thầu quốc phòng to bự xem”. ông ta nói. “Họ sẽ theo phe nào? Đơn vị hạng nhẹ, hay đơn vị hạng nặng?” Tôi không đáp, Tôi đoán đó là một câu hỏi tu từ. “Trên tôi có ai?” ông ta hỏi lại lần nữa. “Bộ trưởng Bộ Quốc phòng”, tôi đáp. Ông ta gật đầu. “Một gã choắt kinh tởm. Một chính trị gia đấy. Các đảng phái chính trị nhận đóng góp cho các chiến dịch. Và các nhà thầu quốc phòng cũng tiên đoán được tương lại như mọi người mà thôi”. Tôi không đáp. “Cậu có nhiều thứ phải nghĩ đấy”, Tham mưu trưởng nói. Ông ta nhấc tập hồ sơ kia bỏ lại vào ngăn tủ. Rồi đặt thế vào trên mặt bàn một tập hồ sơ mỏng hơn. Nó được ghi: Argon. “Cậu biết argon là gì không?” ông ta hỏi. “Một loại khí trơ”, tôi đáp. “Họ dùng nó trong các bình cứu hỏa. Nó phủ một lớp khí đè xuống ngọn lửa và ngăn ngọn lửa lan ra xung quanh”. “Vì vậy tôi mới chọn cái tên này. Chiến dịch Argon chính là kế hoạch thuyên chuyển các cậu vào cuối tháng Chạp”. “Vậy sao ông phải dùng chữ ký của Garber?” “Như cậu đã ám chỉ, tôi muốn để việc thuận theo chiều tự nhiên. Lệnh dành cho Quân cảnh mà được ký bằng tên Tham mưu trưởng sẽ gây nghi ngờ. Mọi người sẽ tự động chỉnh đốn thái độ. Hoặc ngửi thấy mùi nguy và sẽ lập tức chui sâu xuống đất trốn. Việc cậu lúc đó sẽ còn khó hơn nhiều. Và nó phản lại mục đích của tôi”. “Mục đích của ông?” “Tôi muốn ngăn chặn sự việc, đương nhiên. Đó là ưu tiên. Nhưng đồng thời tôi cũng tò mò lắm, Thiếu tá ạ. Tôi muốn biết kẻ nào phát hoảng đầu tiên”. Ông ta giao tôi tập hồ sơ.
“Cậu là điều tra viên đội đặc nhiệm”, ông ta nói. “Theo quy chế thì Đội 110 có những quyền lực phi thường. Cậu có quyền bắt giữ bất cứ người lính nào ở bất cứ đâu, kể cả tôi, ngay trong văn phòng này, nếu cậu muốn. Vậy nên đọc tập hồ sơ Argon này đi. Tôi nghĩ nó sẽ giải oan giúp tôi. Nếu cậu đồng ý, thì hãy tiếp tục công việc của mình ở nơi khác”. Ông ta đứng dậy từ sau bàn làm việc. Chúng tôi bắt tay lần nữa. Rồi ông ta bước ra khỏi phòng. Để tôi ngồi một mình trong văn phòng, ngay trái tim của Lầu Năm Góc, vào giữa đêm. Nửa tiếng sau tôi trở lại xe với Summer. Cô tắt máy để dành xăng, nên trong xe khá lạnh. “Sao rồi anh?” cô hỏi. “Một sai lầm nghiêm trọng”, tôi nói. “Trò kéo co này không phải giữa Phó và Tham mưu trưởng. Nó là giữa Tham mưu trưởng với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng”. “Anh chắc chứ?” Tôi gật đầu. “Anh đã đọc qua hồ sơ. Bên trong đầy những lệnh và ghi chú từ chín tháng trước. Nhiều loại giấy khác nhau, nhiều loại máy đánh chữ khác nhau, nhiều loại bút khác nhau, không có cách nào làm giả chúng được trong vòn vẹn bốn tiếng đồng hồ. Đó là kế hoạch của Tham mưu trưởng từ trước đến giờ, và ông ta vẫn luôn là phe ta”. “Vậy thái độ ông ta ra sao?” “Cũng không đến nỗi”, tôi đáp. “Đang cân nhắc. Nhưng anh không nghĩ ông ta sẽ giúp anh đâu”. “Giúp gì?” “Giúp lôi anh ra khỏi rắc rối”. “Rắc rối nào anh?” “Em cứ đợi mà xem”. Cô trân trân nhìn tôi. “Bây giờ mình đi đâu?” Cô hỏi. “California”, tôi bảo. (Untitled) (Untitled) (Untitled) (Untitled) HAI MƯƠI HAI (Untitled) Chiếc Chevy cạn xăng khi chúng tôi tới sân bay National. Chúng tôi để
nó trong bãi xe qua đêm, rồi đi bộ về ga đi. Đoạn đường dài chừng một dặm. Xe buýt đã hết. Lúc ấy là nửa đêm, và nơi này gần như bị bỏ hoang. Bên trong ga, chúng tôi phải làm loạn lên mới lôi ra được một nhân viên làm thủ tục từ văn phòng đằng sau. Tôi đưa anh ta hai tờ giấy đi đường cuối cùng mà tôi ăn cắp, rồi anh ta đặt cho chúng tôi chuyến bay sáng đầu tiên tới sân bay LAX. Chúng tôi sẽ phải đợi khá lâu. “Nhiệm vụ là gì?” Summer hỏi. “Bắt giữ ba người”, tôi đáp”.Vassell,Coomer và Marshall”. “Tội gì anh?” “Giết người hàng loạt, tôi nói. “Nạn nhân là bà Kramer, Carbone và Brubaker”. Cô nhìn tôi chằm chằm. “Anh chứng minh được không?” Tôi lắc đầu. “Anh biết rõ chuyện đã xảy ra. Anh biết thời điểm, phương thức, địa điểm và động cơ gây án. Nhưng anh chẳng chứng minh được cái nào cả. Ta chỉ có thể trông chờ vào lời thú tội mà thôi”. “Còn lâu mới được”. “Trước đây anh từng thành công rồi”, tôi nói. “Luôn có cách”. Cô do dự. “Đây là quân đội mà, Summer”, tôi bảo. “Đâu phải nhóm trà chiều của mấy quý cô đâu”. “Kể em nghe về Carbone và Brubaker đi”. “Cho anh ăn cái đã”, tôi bảo. “Anh đói quá”. “Ta còn xu nào đâu”, Summer nói. Đằng nào những hàng quán quanh đây cũng đã kéo phên sắt đóng kín cửa rồi. Có thể họ sẽ phục vụ đồ ăn cho chúng tôi trên chuyến bay. Chúng tôi đem hành lý tới sảnh ngồi đợi, bên cạnh ô cửa sổ cao hai mươi feet chỉ phản chiếu một màu đen của trời đêm. Hàng ghế nhựa dài xung quanh có gắn tay vịn cách nhau mỗi cái hai feet để người ta không nằm ra ngủ được. “Kể em nghe đi”, cô bảo. “Vẫn chỉ là một chuỗi những phán đoán điên rồ thôi, hết cái này tới cái kia”. “Anh cứ thử nói xem”. “OK, bắt đầu từ bà Kramer. Tại sao Marshall lại tới Green Valley?" “Bởi vì đó là nơi đầu tiên đang tìm thử nhất”. “Nhưng đâu phải. Đó rõ ràng là nơi cuối cùng để tìm. Kramer có mấy khi ở đó suốt năm năm nay đâu. Cấp dưới của gã phải biết điều ấy chứ.
Họ đi cùng gã nhiều mà. Vậy nhưng họ vẫn vội vàng quyết định cho Marshall tới thẳng đó. Vì sao?” “Vì Kramer đã bảo họ rằng đó là nơi ông ta định tới?” “Chính xác”, tôi bảo. “Gã bảo họ mình về đó thăm vợ, thực chất là để giấu việc gã qua đêm với Carbone. Nhưng, có gì gã phải kể với họ điều này?” “Em không biết”. “Vì có những loại người mà em bắt buộc phải thanh minh với họ”. “Thí dụ ai?” “Giả sử em là một đại gia đang hú hí cùng chân dài của mình nhé. Nếu có một đêm bọn em không thể gặp nhau, thì em bắt buộc phải cho ả đào của mình một lý do nào đó. Và nếu em thanh minh rằng mình phải về thăm vợ để khỏi bị nghi ngờ, thì ả đào kia bắt buộc phải tin. Có thể ả không thích, nhưng cũng phải tin. Bởi vì ả phải chấp nhận rằng điều đó đôi khi sẽ diễn ra. Đó là một