hồi xác nhận địa chỉ một cách cẩn thận tôi mới bấm mật khẩu. Cuối cùng một âm thanh máy móc hiện đại đã xóa tan bóng tối vốn đã tồn tại từ lâu. Tôi mở cửa và tiến vào trong bóng tối. Tôi dỡ hành lý tại chỗ ở rồi chìm vào giấc ngủ dài trong mấy ngày. Trong một ngày mà trời mưa tận mấy lần, chú chó cứ ngủ dưới bầu trời Scotland mà không hề hay biết thời gian đang trôi qua. Chú ngủ y hệt đứa trẻ lần đầu học cách thở khi lồng ngực căng
phồng rồi lại xẹp xuống. Tôi đã từ từ thích ứng với căn nhà của “Dan và chị Soo Yeon” khi không có “Dan và chị Soo Yeon”. Tôi cảm thấy bớt cô đơn hơn lúc ở Hàn Quốc. Trước khi chồng qua đời, tôi đã không biết làm sao để gây ra tiếng động trong nhà. Tôi không thể nhận thức được dấu vết của những người sống cùng được trộn lẫn nhưng từ sau khi chồng tôi không còn nữa, tôi đã nhận ra được tiếng bàn chân lê lết, âm thanh của nước mà tôi đang sử dụng, tiếng cửa đóng vô cùng lớn. Tất nhiên, âm thanh lớn nhất trong số đó là “âm thanh nói” và “âm thanh suy nghĩ” của tôi. Vì không có đối phương trò chuyện nên những lời lẽ chán ngắt và bình thường không thể chạm đến đối phương đều quẩn quanh nơi khóe môi tôi một cách lúng túng. Những từ ngữ thịnh hành mà chỉ hai người dùng, do hai người tạo nên, những câu tán đồng mang tính khuôn mẫu, những câu chuyện phiếm bí mật và những câu chuyện phiếm trên giường, những lời cằn nhằn dường như sẽ kéo dài đến khi nào, những câu nói đùa và sự vỗ về an ủi tràn ngập khắp căn nhà suốt cả ngày. Giống như một con chim đâm đầu vào bức tường kính rồi chết đi, có một lần nó lao đầu vào chỗ không người rồi rơi phịch xuống sàn. Phải khi đó, tôi mới nhận ra như thể lần đầu tiên biết một sự thật như một kẻ ngốc rằng: “À, thì ra người đó đã không còn ở đây nữa...” Ngày hôm đó... tôi đã muối kim chi ở nhà. Một tờ báo được trải ngay giữa phòng khách và tôi thì đọc “Cách làm kim chi củ cải non” bằng vẻ mặt nghiêm trọng như thể đang học ôn thi. Tôi đặt cuốn sổ ghi chép chật kín các công thức nấu ăn mà mẹ tôi dạy cách đây đã lâu. Tôi ngồi trên chiếc giường trong phòng bệnh dành cho sáu
người và nghe công thức nấu ăn. Tôi nhớ rằng vì chiều cao giường bệnh và của người nhà khác nhau nên tôi đã phải ngẩng đầu nhìn mẹ như một đứa trẻ. Trước khi cơ thể tôi hoàn toàn phát triển, ít nhất là cho đến cấp hai, tôi đã quen với việc ngẩng đầu nhìn mẹ như thế. Đó là khoảng thời gian như vậy đấy. Nếu muốn nhìn khuôn mặt một người, chúng ta cũng phải nhìn lên bầu trời một cách tự nhiên. Có một thứ gọi là độ cao thấp trong thế giới nuôi dưỡng trẻ em. Tuy nhiên, từ sau khi mẹ qua đời, tôi đã cảm nhận như thể một bối cảnh đang ám chỉ những nơi mà người lớn tuổi sẽ phải đi trước. Một cảm giác cần phải luyện tập trong suốt thời thơ ấu của mình cho sự chênh lệch múi giờ mãi mãi không thể thu hẹp giữa cha mẹ và con cái. Tôi tin rằng điều đó sẽ không xảy ra trong một thời gian đối với trẻ nhỏ hoặc cùng trang lứa với tôi. Sau khi kết hôn, tôi đã bắt chước cách nấu ăn của mẹ khá nhiều lần. Mỗi lần nấu, hương vị đều khác nhau. Có những lần đồ ăn tạm ổn và có cả những lúc hương vị thật chẳng ra gì. Cho dù vậy, tôi đã làm món mì chanchi nấu trong nước dùng cá cơm rất ổn, vì chồng tôi thích ăn mì nên tôi đã thường xuyên làm món này. Sau đó, tôi đã biết cách nấu canh củ cải thịt bò và ướp thịt cho món bulgogi nhưng tôi vẫn không có dũng khí để làm món kim chi. Việc muối kim chi hay ngâm trong nước tương được coi như là một việc lớn và vô cùng khó mà chỉ có các bà mẹ mới biết làm. Nhưng thật kỳ lạ, tôi lại muốn làm công việc đó vào hôm đấy. Thảo luận với chồng một