phần của đường cong còn lại. “Tôi là Staban Tuek, con của Esmar Tuek,” tay buôn lậu nói. “Vậy ra ông là người tôi phải chịu ơn vì những gì ông đã giúp đỡ chúng tôi,” Halleck nói. “Ái chà chà, lòng biết ơn,” tay buôn lậu nói. “Mời ngồi.” Một chiếc ghế có lưng tựa tròn, loại dùng trong tàu không gian, hiện ra từ bức
tường gần các màn hình và Halleck thở dài ngồi lên ghế, cảm thấy kiệt sức. Lúc này ông có thể thấy hình phản chiếu của chính mình trên bề mặt sẫm màu bên cạnh tay buôn lậu, và ông cau có nhìn những nét mệt mỏi trên khuôn mặt đầy vết sưng tấy của mình. Vết sẹo vì cây nho mực dọc quai hàm méo xệch khi ông cau có. Halleck quay đi không nhìn ảnh phản chiếu của mình nữa mà nhìn chằm chằm vào Tuek. Giờ thì ông đã thấy những đường nét di truyền trên khuôn mặt tay buôn lậu - đôi lông mày rậm gồ lên của người cha, gò má và mũi trông như bằng đá.
“Thuộc hạ của tôi nói cha ông đã chết dưới tay bọn Harkonnen,” Halleck nói. “Bị bọn Harkonnen giết hoặc bị tên phản bội trong hàng ngũ của ông giết,” Tuek nói. Nỗi tức giận chiến thắng cơn mệt mỏi của Halleck. Ông thẳng người lên nói: “Ông có thể nói tên kẻ phản bội không?” “Chúng tôi không chắc.” “Thufir Hawat nghi ngờ Lệnh bà Jessica.”
“À à, mụ phù thủy Bene Gesserit... có thể lắm. Nhưng bây giờ Hawat bị bọn Harkonnen bắt giữ rồi.” “Tôi có nghe nói,” Halleck hít một hơi sâu. “Có vẻ như sắp tới chúng ta sẽ phải giết thêm nhiều mạng nữa đây.” “Chúng tôi sẽ không làm gì để thu hút sự chú ý về phía mình,” Tuek nói. Halleck cứng người lại. “Nhưng...” “Ông cùng những thuộc hạ vừa được chúng tôi cứu có thể thoải mái ẩn náu ở chỗ chúng tôi,” Tuek nói. “Ông nói về lòng biết ơn. Rất tốt; hãy làm việc để trả
ơn cho chúng tôi. Chúng tôi luôn sử dụng những người xuất sắc. Tuy nhiên chúng tôi sẽ tiêu diệt ông ngay nếu ông có bất kỳ hành động chống đối công khai nào dù là nhỏ nhất đối với người Harkonnen.” “Nhưng bọn chúng đã giết chết cha ông, thưa ông!” “Có thể. Và nếu đúng như vậy, tôi sẽ cho ông biết câu trả lời của cha tôi dành cho những người hành động mà không suy nghĩ: ‘Đá nặng và cát cũng nặng; nhưng sự phẫn nộ của một kẻ ngu ngốc thì còn nặng hơn cả đá và cát.’ ” “Vậy ông muốn nói là không làm gì
sao?” Halleck châm chọc. “Ông không nghe thấy tôi nói như thế. Tôi chỉ nói tôi sẽ bảo vệ hợp đồng của chúng tôi với Hiệp hội. Hiệp hội yêu cầu chúng tôi chơi một trò chơi thận trọng. Có những cách khác để tiêu diệt kẻ thù.” “Ái chà chà.” “Ái chà, thực vậy đấy. Nếu ông định tìm kiếm mụ phù thủy đó thì cứ việc. Nhưng tôi xin cảnh báo rằng có thể ông đã quá chậm... và dù thế nào đi nữa, chúng tôi không chắc mụ ta chính là người mà ông muốn.”
“Hawat ít khi sai.” “Ông ta cho phép mình rơi vào tay bọn Harkonnen.” “Ông nghĩ ông ta là tên phản bội?” Tuek nhún vai. “Nói vậy thì sách vở quá. Chúng tôi nghĩ mụ phù thủy đã chết. Chí ít bọn Harkonnen cũng tin như thế.” “Dường như ông biết rất nhiều về bọn Harkonnen.” “Những ám chỉ và suy đoán... những tin đồn và linh cảm.”
“Chúng tôi có bảy mươi tư người,” Halleck nói. “Nếu thật sự muốn chúng tôi gia nhập lực lượng của ông, ông phải tin chắc Công tước đã chết.” “Người ta đã thấy xác Công tước.” “Còn cậu bé, cậu chủ Paul bé bỏng thì sao?” Halleck cố nuốt nước bọt, cổ họng nghẹn lại. “Theo tin tức cuối cùng chúng tôi nhận được thì cậu bé bị mất tích cùng bà mẹ trong cơn bão sa mạc. Có khả năng thậm chí đến xương của họ cũng không tìm thấy.”
“Vậy là mụ phù thủy chết rồi... cả hai cùng chết.” Tuek gật đầu. “Và nghe nói Rabban Thú dữ sẽ một lần nữa ngồi vào chiếc ghế quyền lực ở Xứ cát này.” “Bá tước Rabban vùng Lankiveil?” “Đúng thế.” Mất một lúc Halleck mới dằn được cơn thịnh nộ chực bùng lên, đe dọa làm ông mất tự chủ. Ông nói trong hơi thở hổn hển: “Tôi có lý do chống lại Rabban. Hắn còn nợ tôi sinh mạng của gia đình tôi...” Ông xoa xoa vết sẹo dọc quai
hàm. “... và cả cái này...” “Người ta không mạo hiểm mọi thứ để tính sổ quá sớm một món nợ,” Tuek nói. Ông ta cau mày, quan sát sự chuyển động của các cơ dọc quai hàm Halleck, sự vô cảm bất ngờ trong đôi mắt khép hờ của con người này. “Tôi hiểu... tôi hiểu,” Halleck hít một hơi sâu. “Ông và thuộc hạ của ông có thể thoát ra khỏi Arrakis bằng cách phục vụ chúng tôi. Có rất nhiều nơi...” “Tôi giải phóng thuộc hạ của tôi thoát
khỏi bất cứ ràng buộc nào với tôi; họ có thể tự lựa chọn. Chừng nào Rabban còn ở đây, tôi còn ở lại.” “Với tính khí của ông, tôi không chắc chúng tôi muốn ông ở lại.” Halleck nhìn tay buôn lậu chằm chằm. “Ông nghi ngờ lời tôi?” “Khô-ô-ông...” “Ông đã cứu tôi thoát khỏi bọn Harkonnen. Tôi trao lòng trung thành cho Công tước Leto cũng không vì lý do nào hơn. Tôi sẽ ở lại Arrakis - với ông... hoặc với người Fremen.”
“Một suy nghĩ dù được nói ra hay không thì cũng là một điều có thực, nó có sức mạnh,” Tuek nói. “Ông có thể nhận ra lằn ranh giữa sự sống và cái chết ở người Fremen là quá rõ, quá nhanh.” Halleck nhắm mắt lại một lát, cảm thấy ngày càng kiệt sức. “Chúa công, người dẫn dắt chúng ta qua những vùng sa mạc và hỏa ngục, giờ Người ở đâu?” ông lẩm bẩm. “Hành động chậm thôi, rồi ngày trả thù của ông sẽ đến,” Tuek nói. “Tốc độ là phương sách của Shaitan. Hãy làm dịu sự đau buồn của ông - chúng tôi có
những trò giải trí dành cho nó; có ba thứ xoa dịu trái tim - nước, cỏ xanh, nhan sắc đàn bà.” Halleck mở mắt. “Tôi thích máu của Rabban Harkonnen chảy dưới chân tôi hơn.” Ông nhìn Tuek chăm chú. “Ông nghĩ cái ngày đó sẽ tới sao?” “Tôi chẳng dính dáng gì mấy tới chuyện ông sẽ gặp ngày mai như thế nào, Gurney Halleck ạ. Tôi chỉ có thể giúp ông gặp ngày hôm nay.” “Vậy thì tôi chấp nhận sự giúp đỡ đó và ở lại cho đến cái ngày ông bảo tôi trả thù cho cha ông, cho tất cả những người...”
“Hãy nghe tôi, hỡi người chiến binh,” Tuek nói. Ông ta chúi người về phía trước trên chiếc bàn, vai ngang tầm với tai, mắt nhìn chăm chú. Gương mặt tay buôn lậu đột ngột trông như đá bị nắng mưa làm biến dạng. “Nước của cha tôi, chính tôi sẽ mua lại nó, bằng lưỡi kiếm của tôi.” Halleck nhìn chằm chằm đáp lại Tuek. Trong khoảnh khắc đó, tay buôn lậu làm ông nhớ đến Công tước Leto: một vị lãnh tụ, một con người dũng cảm, tin tưởng vào quan điểm và cách giải quyết của chính ông. Ông ta giống Công tước... hồi trước Arrakis.
“Ông có muốn lưỡi kiếm của tôi bên cạnh ông không?” Halleck hỏi. Tuek ngồi xuống, thư giãn, im lặng quan sát Halleck. “Ông có nghĩ về tôi như là một chiến binh không?” Halleck hỏi dồn. “Trong nhóm phụ tá của Công tước ông là người duy nhất trốn thoát được ,” Tuek nói. “Kẻ thù của ông quá mạnh, thế mà ông đã chiến đấu một mất một còn với hắn... Ông đã đánh bại hắn theo cách chúng tôi đánh bại Arrakis.”
“Gì cơ?” “Chúng tôi bất đắc dĩ phải chấp nhận sống ở đây, Gurney Halleck ạ,” Tuek nói. “Arrakis là kẻ thù của chúng tôi.” “Một kẻ thù trong lúc này, phải thế không?” “Đúng thế.” “Đó có phải là cách hiểu của người Fremen?” “Có thể.” “Ông nói tôi có thể thấy rằng sống với
người Fremen là quá gian khổ. Họ sống trong sa mạc, giữa vùng trơ trụi, có phải lý do đó không?” “Ai mà biết được người Fremen sống ở đâu? Với chúng tôi, Cao nguyên Trung tâm là vùng đất không người. Nhưng tôi muốn nói thêm về...” “Tôi nghe nói Hiệp hội hiếm khi cho tàu chở hương dược bay vào sa mạc,” Halleck nói. “Nhưng người ta đồn rằng có thể nhìn thấy vài khóm cây cỏ ở đây đó nếu ta biết nhìn vào đâu.” “Tin đồn!” Tuek chế nhạo. “Bây giờ ông muốn lựa chọn giữa tôi và người Fremen
sao? Chúng tôi có một phạm vi an toàn, có sietch khoét vào trong đá và các vùng trũng lòng chảo được giấu kín của chính chúng tôi. Chúng tôi sống cuộc sống của người văn minh. Bọn Fremen là vài nhúm người khố rách áo ôm mà chúng tôi dùng làm kẻ săn lùng hương dược.” “Nhưng họ có thể giết bọn Harkonnen.” “Thế ông muốn biết kết quả ra sao không? Thậm chí ngay lúc này họ đang bị săn lùng chẳng khác gì bầy thú - bằng súng laze, bởi vì họ không có tấm chắn. Bọn họ đang bị tiêu diệt. Tại sao ư? Bởi vì họ giết bọn Harkonnen.”
“Họ giết bọn Harkonnen ư?” Halleck hỏi. “Ông có ý gì?” “Ông không nghe nói là có thể có quân Sardaukar bên cạnh quân Harkonnen sao?” “Lại tin đồn.” “Nhưng một cuộc tàn sát, điều đó không giống bọn Harkonnen chút nào. Tàn sát thì thật quá lãng phí.” “Tôi tin vào cái chính mắt tôi nhìn thấy,” Tuek nói. “Lựa chọn đi, hỡi chiến binh.
Tôi hay người Fremen. Tôi hứa sẽ cho ông nơi ẩn trốn và cơ hội hút dòng máu mà hai ta đều muốn. Chắc chắn thế. Người Fremen sẽ chỉ đem lại cho ông cuộc sống của kẻ bị săn đuổi.” Halleck do dự, nhận thấy sự sáng suốt và đồng cảm trong lời nói của Tuek, tuy nhiên ông vẫn cảm thấy bứt rứt mà không giải thích được tại sao. “Hãy tin tưởng vào khả năng của chính ông,” Tuek nói. “Quyết định của ai đã đưa quân của ông qua cuộc chiến này? Của ông. Hãy quyết định đi.” “Hẳn vậy rồi,” Halleck nói. “Có chắc là
Công tước và con trai ngài đã chết?” “Bọn Harkonnen tin vậy. Về những chuyện như thế, tôi có khuynh hướng tin bọn Harkonnen.” Một nụ cười tàn nhẫn thoáng trên môi Tuek. “Nhưng đó hầu như là sự tin cậy duy nhất tôi dành cho chúng.” “Vậy thì chắc hẳn là thế,” Halleck nhắc lại. Ông đưa bàn tay phải ra, lòng bàn tay hướng lên trên, ngón cái gập hẳn lại theo một cử chỉ truyền thống: “Tôi trao cho ông thanh kiếm của tôi.” “Chấp thuận.”
“Ông có muốn tôi thuyết phục thuộc hạ của tôi không?” “Ông sẽ để họ tự quyết định chứ?” “Họ đã theo tôi đến tận đây, nhưng hầu hết họ sinh ra ở Caladan. Arrakis không giống như họ nghĩ. Ở đây, họ đánh mất mọi thứ ngoại trừ sinh mạng họ. Bây giờ tôi thích họ tự quyết định lấy hơn.” “Giờ không phải lúc để ông dao động,” Tuek nói. “Họ đã theo ông đến tận bây giờ rồi.” “Ông cần họ, phải thế không?”
“Chúng tôi luôn biết sử dụng những chiến binh có kinh nghiệm... những lúc thế này lại càng cần hơn bao giờ hết.” “Ông đã chấp nhận thanh kiếm của tôi. Ông có muốn tôi thuyết phục họ không?” “Tôi nghĩ họ sẽ theo ông, Gurney Halleck ạ.” “Hy vọng là thế.” “Thực vậy mà.” “Vậy tôi có thể đưa ra quyết định của chính tôi trong chuyện này?”
“Quyết định của chính ông.” Halleck đẩy người ra khỏi chiếc ghế có lưng tựa tròn, cảm thấy sức khỏe dự trữ của ông chẳng còn lại bao nhiêu, thậm chí với cử động nhỏ đến thế cũng cần gắng sức. “Giờ tôi sẽ đi xem họ nghỉ ngơi ăn ở thế nào,” ông nói. “Hãy bàn bạc với sĩ quan hậu cần của tôi,” Tuek nói. “Tên anh ta là Drisq. Nói với anh ta, tôi muốn ông được đối xử lịch thiệp hết mức. Tôi sẽ tham gia cùng ông ngay sau đó. Trước tiên tôi phải đi xem xét lượng hàng hương dược đang đợi chất lên tàu đã.”
“Mọi nơi phát lộc phát tài,” Halleck nói. “Mọi nơi,” Tuek nói. “Thời buổi loạn lạc là cơ hội hiếm thấy cho công việc làm ăn của chúng ta.” Halleck gật đầu, nghe thấy tiếng rì rầm yếu ớt và cảm thấy không khí di chuyển khi cánh cửa khóa mở ra bên cạnh ông. Ông quay người, cúi đầu đi qua cửa, ra khỏi phòng. Ông nhận ra mình vừa bước vào phòng họp nơi ông cùng thuộc hạ đã được các sĩ quan phụ tá của Tuek dẫn qua. Đó là một khu vực dài, khá hẹp gặm vào đá tự nhiên, bề mặt nhẵn thín của nó cho thấy
người ta đã dùng thiết bị cắt đá bằng laze. Trần nhà vươn cao đủ để duy trì đường cong trụ đỡ tự nhiên của đá và cho phép những luồng đối lưu không khí bên trong. Những giá vũ khí và tủ có khóa sắp thành hàng dọc các bức tường. Halleck ghi nhận với một chút hãnh diện rằng thuộc hạ của ông người nào còn đứng vững được thì đều đang đứng - không nghỉ ngơi cho dù kiệt sức và thất bại. Các bác sĩ của dân buôn lậu đang đi lại giữa họ để chăm sóc người bị thương. Các trường hợp phải nằm cáng được tập hợp ở khu vực phía dưới, bên trái, mỗi người bị thương đều có một người bạn Atreides.
Cách huấn luyện Atreides - “Chúng ta chăm sóc cho chính chúng ta!” - Halleck nhận thấy điều đó giống như một lõi đá tự nhiên bên trong họ. Một trong các sĩ quan của Halleck tiến về phía trước mang theo cây đàn baliset chín dây của Halleck đã được lấy ra khỏi hộp. Viên sĩ quan cúi chào rồi nói: “Thưa ngài, các bác sĩ ở đây nói Mattai không có hy vọng qua khỏi. Ở đây họ không có ngân hàng xương và ngân hàng bộ phận thay thế - chỉ có thuốc dành cho chốt tiền tiêu. Họ nói Mattai không thể qua khỏi, và anh ấy có một yêu cầu với ngài.”
“Gì thế?” Viên sĩ quan chìa cây đàn baliset về phía trước. “Mattai muốn nghe một bài hát để ra đi thanh thản, thưa ngài. Anh ấy nói ngài biết bài đó... anh ấy vẫn hay yêu cầu ngài chơi bài đó.” Viên sĩ quan nuốt nước bọt. “Đó là bài có tựa đề ‘Người đàn bà của tôi’, thưa ngài. Nếu ngài...” “Tôi hiểu.” Halleck cầm cây đàn baliset, rút móng gảy ra khỏi cái móc trên bàn phím. Ông gảy một hợp âm êm ái, nhận ra có ai đó đã so dây. Mắt ông bỏng rát, nhưng ông gạt nó ra khỏi suy nghĩ trong khi chậm rãi bước về phía trước, vừa đi
vừa gảy một điệu nhạc, ép mình nở một nụ cười tự nhiên. Vài thuộc hạ của ông và một bác sĩ của dân buôn lậu cúi xuống một trong những chiếc cáng. Một trong những thuộc hạ bắt đầu hát khe khẽ khi Halleck đi tới, anh ta bắt được nhịp dễ dàng do đã quen bài hát từ lâu: “Người tình tôi đứng bên cửa sổ, Những đường cong hằn trên lớp kính vuông. Những cánh tay nâng... uốn... gập cong,
Trên nền hoàng hôn rực vàng, đỏ ối. Đến với tôi, người hỡi... Đến với tôi, đôi tay ấm nồng người con gái tôi yêu. Cho tôi... Cho tôi, đôi tay ấm nồng người con gái tôi yêu.” Người hát ngừng lời, chìa một cánh tay băng bó ra vuốt mắt người nằm trên cáng. Halleck vừa gảy một hợp âm êm ái cuối
cùng trên đàn baliset vừa nghĩ: Giờ thì chúng ta có bảy mươi ba người.
Đối với nhiều người, cuộc sống gia đình của Hoàng gia Creche thật khó hiểu, nhưng ta sẽ cố gắng đưa ra cho mọi người một cái nhìn khái quát về nó. Cha ta chỉ có một người bạn thực sự, ta nghĩ thế. Đó là Bá tước Hasimir Fenring, thái giám di truyền và là một trong những chiến binh đáng gờm nhất trong Đế quốc. Vị Bá tước này, một con người vóc dáng bé nhỏ xấu xí nhưng cực kỳ lanh lợi, một ngày kia đã đưa một tì thiếp-nô lệ đến gặp cha ta, và mẹ đã phái ta thăm dò tin tức cuộc gặp này. Tất cả bọn ta đều do thám cha, coi đó là để tự bảo vệ mình. Dĩ nhiên, theo
giao kèo giữa Bene Gesserit và Hiệp hội, một trong các tì thiếp-nô lệ của cha ta không thể sinh cho cha ta một Người Kế vị Hoàng gia, nhưng các mưu đồ thì vẫn liên lục tiếp diễn và vô cùng thảm khốc như nhau. Mẹ ta và mấy chị em ta trở nên lão luyện trong việc né tránh các thiết bị tinh vi gây chết người. Nói thế này nghe có vẻ xấu xa, nhưng ta hoàn toàn không chắc là cha ta vô tội trong tất cả những mưu đồ đó. Hoàng gia không giống như các gia đình khác. Thế rồi xuất hiện người tì thiếp-nô lệ mới, tóc đỏ giống cha ta, thật yêu kiều tha thướt. Cô ta có những cơ bắp của một vũ công, và rõ ràng từng được huấn luyện cả thuật quyến
rũ tinh thần. Cha ta nhìn ngắm cô ta thật lâu trong lúc cô ta khỏa thân tạo dáng trước mặt ông. Cuối cùng ông nói: “Nàng quá đẹp. Chúng ta sẽ gìn giữ nàng như một món quà.” Các người không thể tưởng tượng nổi sự gìn giữ này gây ra cho Hoàng gia Creche nỗi kinh hoàng đến nhường nào đâu. Rốt cuộc, sự khôn khéo và tự chủ là mối nguy hiểm chết người đe dọa tất cả bọn ta. - trích “Trong Gia tộc cha ta” của Công chúa Irulan Paul đứng bên ngoài căn lều trong buổi chiều tà. Khe nứt nơi cậu dựng lều nằm
trong bóng tối đen đặc. Cậu nhìn chăm chú qua vùng cát trống vào vách đá phía xa, tự hỏi liệu mình có nên đánh thức mẹ dậy không, mẹ cậu đang ngủ trong lều. Lớp lớp những con sóng cát trải dài ra xa nơi trú ẩn của họ. Cách xa mặt trời đang lặn, những đụn cát phô ra những cái bóng như được phết tối đen, trông giống những mảnh bóng đêm. Và sự bằng phẳng. Tâm trí cậu tìm kiếm một cái gì nhô cao lên trong khung cảnh đó. Nhưng không có một chiều cao thuyết phục nào hiện ra trong bầu không khí nóng đến mụ mị đầu
óc và đường chân trời kia - không bông hoa hay vật gì khẽ lay động để đánh dấu đường đi của gió... chỉ có những đụn cát và vách núi phía xa bên dưới bầu trời xanh bạc bóng loáng. Điều gì xảy ra nếu ở bên kia không có một trong những trạm kiểm tra bị bỏ hoang? cậu tự hỏi. Điều gì xảy ra nếu cũng không có người Fremen nào, và những thực vật chúng ta nhìn thấy chỉ là sự ngẫu nhiên? Trong căn lều, Jessica đã tỉnh giấc, nàng xoay lưng lại nhìn Paul qua vách lều trong suốt. Cậu đứng quay lưng về phía nàng, và có gì đó trong tư thế con gợi
nàng nhớ về cha nó. Nàng cảm thấy nỗi đau buồn dâng lên cuồn cuộn, liền quay đi. Ngay sau đó nàng điều chỉnh lại bộ sa phục, uống nước từ chiếc túi hứng của căn lều cho tỉnh người, rồi đi ra ngoài đứng co duỗi gân cốt cho tỉnh táo. Paul nói mà không quay lại: “Con thích sự yên tĩnh ở đây.” Tâm trí tự chuẩn bị để thích nghi với môi trường của nó, nàng nghĩ. Và nàng nhớ lại một châm ngôn Bene Gesserit: “Trong tình trạng căng thẳng tâm trí có thể đi theo hướng này hoặc hướng kia -
về phía tích cực hay tiêu cực: hoạt động hoặc không hoạt động. Hãy tưởng tượng nó như một cán cân hai cực, tại đầu tiêu cực là vô thức còn ở đầu tích cực là siêu ý thức. Trong trạng thái căng thẳng, tâm trí nghiêng về bên nào là việc chịu tác động mạnh mẽ của sự huấn luyện.” “Có thể có một cuộc sống tốt đẹp ở đây,” Paul nói. Nàng cố gắng nhìn sa mạc qua đôi mắt cậu, cố gắng ôm trọn tất cả sự khắc nghiệt mà hành tinh này chấp nhận như chuyện thường tình, tự hỏi Paul đã thoáng thấy những tương lai nào có thể xảy ra.
Người ta có thể ở một mình ngoài kia, nàng nghĩ, mà không lo sợ có ai đó đằng sau, không lo sợ có người săn lùng mình. Nàng bước qua Paul, nâng ống nhòm lên, điều chỉnh thấu kính dầu rồi quan sát vách núi dốc đứng đối diện. Đúng vậy, xương rồng trong các lạch cát và vài loại cây có gai khác... một thảm cỏ thấp tè, màu xanh vàng trong những bóng mát. “Con sẽ dỡ trại,” Paul nói. Jessica gật đầu, đi tới miệng khe nứt nơi nàng có thể nhìn bao quát khắp sa mạc, vặn ống nhòm về phía trái. Một vùng
lòng chảo muối trắng chói lòa ở đó, các gờ của nó trộn màu nâu vàng xỉn - một cánh đồng trắng ngoài kia, nơi màu trắng là cái chết. Nhưng vùng lòng chảo này lại nói một điều khác: nước. Có đôi lần nước đã chảy qua cái màu trắng chói lòa đó. Nàng hạ ống nhòm xuống, điều chỉnh áo choàng, lắng nghe trong chốc lát tiếng Paul di chuyển. Mặt trời lặn xuống thấp hơn. Những cái bóng trải dài ngang vùng lòng chảo muối. Những dải màu sắc lộn xộn lan khắp đường chân trời lúc xế chiều. Màu sắc tụ lại thành hình một ngón chân tối đen thăm dò mặt cát. Những cái bóng màu than trải dài, và bóng đêm phủ xuống dày đặc che
kín sa mạc. Những vì sao! Nàng nhìn chúng chăm chú, cảm thấy những cử động của Paul khi cậu tới gần. Đêm sa mạc tụ vào ở phía trên với cảm giác dâng lên hướng về các vì sao. Gánh nặng của ngày hôm nay lùi xa dần. Có chút gió nhẹ lướt qua mặt nàng. “Mặt trăng đầu tiên sắp mọc rồi,” Paul nói. “Ba lô đã sẵn sàng. Con vừa cắm dùi gọi xuống rồi.” Chúng ta có thể vĩnh viễn mất tích trong cái hành tinh địa ngục này, nàng
nghĩ. Và không ai biết. Gió đêm thổi những lằn cát xát qua mặt nàng, mang theo mùi quế: một trận mưa mùi thơm trong bóng đêm. “Ngửi mùi đó kìa,” Paul nói. “Thậm chí qua bộ lọc mẹ cũng ngửi thấy,” nàng nói. “Nồng nặc. Nhưng nó có mua được nước không?” Nàng chỉ tay về phía vùng lòng chảo. “Ở đó không có ánh sáng nhân tạo.” “Chắc hẳn người Fremen ẩn náu trong một sietch đằng sau những khối đá đó,” cậu nói.
Một khung cửa bạc nhô lên trên đường chân trời bên phải họ: mặt trăng đầu tiên. Nó mọc lên cao, đi vào tầm nhìn, có một vùng bình nguyên hình bàn tay trên bề mặt nó. Jessica quan sát dải cát trắng bạc phô ra dưới ánh trăng. “Con cắm dùi gọi xuống phần sâu nhất của khe nứt rồi,” Paul nói. “Khi con đốt bấc dùi gọi, chúng ta có khoảng ba mươi phút.” “Ba mươi phút ư?” “Trước khi nó bắt đầu gọi... một... con sâu cát đến.”
“Ồ. Mẹ sẵn sàng đi rồi.” Cậu trượt ra xa mẹ, và nàng nghe thấy tiếng cậu đi lên phía khe nứt. Đêm tối là một đường hầm, nàng nghĩ, một cái hố dẫn vào ngày mai... nếu chúng ta còn có ngày mai. Nàng lắc đầu. Tại sao ta phải nghĩ tiêu cực vậy? Ta được huấn luyện tốt hơn thế cơ mà! Paul quay trở lại, nhấc ba lô lên, dẫn đường xuống đụn cát trải dài đầu tiên, cậu dừng lại ở đó lắng nghe khi mẹ đi tới đằng sau. Cậu nghe tiếng bước chân mẹ nhẹ nhàng và những dòng âm thanh lạnh
lùng của từng hạt cát - mật mã của riêng sa mạc báo hiệu mức độ an toàn của nó. “Chúng ta phải đi sao cho không tạo thành nhịp điệu,” Paul nói và huy động trí nhớ về những người đi trên cát... cả trí nhớ tiên tri lẫn trí nhớ thực. “Quan sát xem con đi như thế nào nhé,” cậu nói. “Đây là cách người Fremen đi trên cát.” Cậu bước lên bề mặt đón gió của cồn cát, men theo đường cong của nó, di chuyển chậm chạp. Jessica quan sát cậu đi trong mười bước
rồi bám theo sau, đi đúng kiểu của cậu. Nàng nhận thấy sự khôn ngoan trong cách đi này: họ phải tạo ra âm thanh giống tiếng dịch chuyển tự nhiên của cát... giống như gió. Nhưng các cơ bắp phản đối cách đi rời rạc không tự nhiên này: Bước... lê... lê... bước... bước... nghỉ... lê... bước... Thời gian như kéo dài ra xung quanh họ. Bề mặt đá phía trước dường như chẳng hề gần lại hơn. Khối đá đằng sau vẫn lừng lững trên cao. “Thùng! Thùng! Thùng! Thùng!” Đó là tiếng gõ trống ở vách đá sau lưng.
“Tiếng dùi gọi!” Paul thì thầm. Tiếng dùi gọi vẫn tiếp tục nện và họ thấy thật khó tránh khỏi chuyện vô tình đi theo nhịp điệu của nó. “Thùng... thùng... thùng... thùng...” Họ di chuyển trong một vùng trũng hình chiếc bát sáng ánh trăng bị tiếng trống rỗng hoác đó đâm thủng. Bước xuống rồi đi lên băng qua những đụn cát đang chảy tràn ra: bước... lê... nghỉ... bước... Băng qua cát hạt đậu lăn tròn dưới chân: lê... nghỉ... bước...
Và suốt thời gian đó tai họ dỏng lên tìm kiếm một tiếng kêu xì xì đặc biệt. Cái âm thanh đó, khi nó đến, ban đầu khẽ đến nỗi bị kiểu đi kéo lê chân của họ che lấp mất. Nhưng nó to dần lên... to hơn, to hơn nữa... thoát ra khỏi hướng Tây. “Thùng... thùng... thùng... thùng...” tiếng dùi gọi nện. Tiếng xì xì tiến tới lan qua bóng đêm đằng sau họ. Hai mẹ con quay đầu lại trong khi chân vẫn bước, nhìn thấy một con sâu cát nhô lên như một cái gò đang đuổi theo họ.
“Cứ đi tiếp,” Paul thì thầm. “Đừng quay lại nhìn.” Một âm thanh dữ dội chói tai nổ tung lên từ bóng những tảng đá mà họ đã đi qua. Đó là tiếng đá lở rào rào. “Cứ đi tiếp,” Paul thì thầm. Cậu nhận ra họ đã tới một vùng không có chút dấu hiệu gì đặc biệt, nơi hai mặt đá - một đằng trước một đằng sau - dường như cách họ những đoạn bằng nhau. Và sau lưng họ vẫn là âm thanh đó, vẫn tiếng quất, tiếng húc đá điên cuồng thống trị đêm tối đó.
Họ tiếp tục đi, đi mãi... Các cơ bắp tiến tới trạng thái nhức nhối máy móc dường như lan tỏa vô hạn, nhưng Paul thấy vách đá vẫy gọi phía trước họ đã nâng lên cao hơn. Jessica di chuyển không chút tập trung, nhận thức được chỉ nhờ sức ép của ý chí mà nàng mới tiếp tục đi. Sự khô khốc nhức nhối trong miệng, nhưng các âm thanh đằng sau xua đuổi mọi hy vọng dừng lại để nhấp một ngụm nước từ chiếc túi hứng của bộ sa phục. “Thùng... Thùng...”
Sự điên cuồng lại phục hồi, bùng lên từ vách núi phía xa, át tiếng dùi gọi. Im lặng! “Nhanh nữa,” Paul thì thầm. Nàng gật đầu, biết rằng cậu không nhìn thấy cử chỉ đó, nhưng cần làm thế để nói với chính nàng rằng nhất thiết phải đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa từ các cơ bắp đã phải cố gắng đến giới hạn cuối cùng - cách di chuyển không tự nhiên... Bề mặt an toàn của núi đá phía trước họ vươn lên tận các vì sao, và Paul nhìn thấy một mặt phẳng cát trải dài dưới
chân núi. Cậu bước lên thảm cát, sẩy chân suýt ngã vì mệt mỏi, đứng thẳng lên được nhờ một chân vô tình đẩy về phía trước. Tiếng gầm vang dội làm cát xung quanh họ rung chuyển. Paul lảo đảo bước sang bên hai bước. “Bùm! Bùm!” “Cát trống!” Jessica nói khẽ. Paul lấy lại được thăng bằng. Cậu đảo mắt nhìn qua vùng cát xung quanh họ, cái vách đá có lẽ cách đây chừng hai trăm
mét. Đằng sau họ, cậu nghe thấy tiếng xì xì - giống cơn gió, giống như một vùng nước xiết ở nơi không có nước. “Chạy đi!” Jessica hét lên. “Paul, chạy đi!” Họ chạy. Tiếng trống âm vang dưới chân họ. Rồi họ ra khỏi vùng cát trống và tiến vào vùng sỏi hạt đậu. Trong chốc lát, việc chạy giúp các cơ bắp của họ giảm bớt sự đau nhức do phải đi theo kiểu lạ lùng không nhịp điệu. Đây là hành động có thể
bị nhận ra. Đây là nhịp điệu. Nhưng cát và sỏi làm chậm bước chân họ. Và tiếng xì xì tới gần của con sâu cát là âm thanh bão tố đang lớn lên quanh họ. Jessica vấp ngã khuỵu gối xuống. Tất cả những gì nàng có thể nghĩ đến là sự mệt mỏi, là cái âm thanh đó và nỗi khiếp sợ. Paul kéo mẹ lên. Họ nắm tay nhau mải miết chạy. Một chiếc cọc mỏng mảnh hiện ra từ dải cát phía trước họ. Họ vượt qua, nhìn thấy một chiếc cọc khác.
Tâm trí Jessica bỏ qua việc ghi nhớ các cọc cho đến khi họ đã chạy qua chúng. Có một chiếc cọc khác, bề mặt bị gió đẽo đâm thẳng lên trời từ một chỗ nứt trên núi đá. Một chiếc khác. Đá! Nàng cảm thấy nó qua bàn chân, sự va chạm với bề mặt không gây cản trở, được tiếp thêm sức mạnh mới từ những bước chạy vững vàng hơn. Một khe nứt sâu vươn cái bóng thẳng
đứng hướng lên trên của nó vào trong vách đá trước mặt họ. Họ chạy hết tốc lực đến đó, len vào cái khe hẹp. Đằng sau họ, tiếng trườn của sâu cát ngừng lại. Jessica và Paul quay đầu lại, nhìn ra ngoài sa mạc. Ở nơi những cồn cát bắt đầu, có lẽ cách chừng năm mươi mét dưới chân một bãi đá, một đường cong xám bạc từ sa mạc trồi lên, làm tỏa ra những con sông cát và bụi đổ xuống tứ phía như thác. Nó vươn cao hơn, thành một cái miệng khổng lồ đang lùng kiếm. Đó là một cái
hố tròn đen ngòm, mép hố lấp lánh dưới ánh trăng. Cái miệng trườn như con rắn về phía khe nứt hẹp nơi Paul và Jessica đang nép vào nhau. Mùi quế nồng nặc trong lỗ mũi họ. Ánh trăng lóe lên từ những chiếc răng pha lê. Cái miệng khổng lồ lắc tới lắc lui. Paul nín thở. Jessica ngồi xổm xuống nhìn chằm chằm. Nàng phải tập trung cao độ vào sự huấn luyến Bene Gesserit để kiềm chế nỗi
khiếp sợ bản năng, nén nỗi sợ từ ký ức giống nòi đe dọa choán đầy tâm trí nàng. Paul cảm thấy phấn chấn. Trong một khoảnh khắc nào đó vừa qua, cậu đã đi qua rào chắn thời gian để tiến vào địa hạt chưa từng biết. Cậu có thể cảm thấy bóng tối ở phía trước, nhưng đôi mắt bên trong của cậu chẳng nhìn thấy gì. Như thể một bước chân nào đó của cậu đã khiến cậu rơi xuống một cái giếng... hoặc vào vùng lõm của một ngọn sóng nơi không thể nhìn thấy tương lai. Khung cảnh đó đã trải qua một sự dịch chuyển lớn lao. Thay vì làm cậu hoảng sợ, cái cảm giác về bóng tối-thời gian buộc các giác quan
khác của cậu tăng tốc đến chóng mặt. Cậu nhận ra mình đang ghi nhớ tất cả vẻ ngoài của con vật vừa nhô lên từ cát tìm kiếm cậu. Miệng nó có đường kính cỡ tám mươi mét... những chiếc răng pha lê có hình cong của dao pha lê sáng lấp lánh quanh miệng... hơi thở như ống bễ nồng nặc mùi quế, phảng phất mùi an đê hít... mùi a xít... Con sâu cát che kín ánh trăng khi nó lướt qua những khối đá bên trên họ. Một cơn mưa cát và đá nhỏ đổ xuống khe nứt hẹp nơi họ ẩn trốn. Paul cùng mẹ len vào sâu hơn.
Quế! Mùi quế tràn qua họ. Con sâu cát làm gì với hương dược, melange? cậu tự hỏi. Và cậu nhớ lại Liet-Kynes đã để lộ việc ông ta cố tình che đậy mối liên hệ giữa sâu cát với hương dược. “Bùm...mmmm!” Nó giống như một tràng sấm rền khô khốc vọng đến từ đằng xa phía bên phải họ. Lại “Bùm...mmmm!”
Con sâu cát chui lại vào cát, nằm ở đó trong giây lát, hàm răng pha lê của nó hắt ánh trăng sáng lóe. “Thùng! Thùng! Thùng! Thùng!” Một cái dùi gọi khác! Paul nghĩ. Lại một lần nữa tiếng trống vang lên đằng xa bên phải họ. Con sâu cát lắc mạnh. Nó rúc vào cát sâu hơn nữa. Chỉ có đường cong phía trên của cái miệng vẫn giống như nửa miệng chuông, đường cong của một đường hầm nhô cao bên trên những cồn
cát. Cát kêu xào xạo. Con vật rúc xuống sâu hơn, lùi lại, quay đi. Nó trở thành một gờ cát nhô cao, uốn mình bò qua một chỗ trũng hình yên ngựa giữa các cồn cát. Paul bước ra ngoài khe nứt, quan sát ngọn sóng cát lùi xa dần băng qua sa mạc tiến về phía cái dùi gọi mới đang mời gọi. Jessica theo sau cậu, lắng nghe: “Thùng... Thùng... Thùng... Thùng... Thùng...”
Ngay sau đó tiếng trống ngừng. Paul tìm chiếc ống trong bộ sa phục, nhấp một ngụm nước tái chế. Jessica chăm chú nhìn hành động của con, nhưng tâm trí nàng cảm thấy trống rỗng trong nỗi mệt mỏi và trạng thái khủng hoảng sau nỗi khiếp sợ. “Có chắc là nó đã đi rồi không?” nàng thì thầm. “Có người gọi nó,” Paul nói. “Người Fremen.” Nàng cảm thấy đã lại sức. “Nó to quá!”
“Không to bằng con sâu cát đã nuốt tàu của chúng ta.” “Con có chắc đó là người Fremen?” “Họ dùng dùi gọi.” “Tại sao họ giúp chúng ta?” “Có thể không phải họ đang giúp chúng ta. Có thể họ chỉ gọi sâu cát thôi.” “Tại sao?” Câu trả lời nằm lơ lửng tại rìa ý thức của cậu, nhưng từ chối xuất hiện. Cậu có một thị kiến trong tâm trí về một cái gì đó
liên quan tới những cây gậy có ngạnh ngắn trong ba lô của họ - những “móc bắt Ngài tạo.” “Sao họ lại gọi sâu cát?” Jessica hỏi. Một chút sợ hãi thoáng qua tâm trí cậu, và cậu ép mình quay đi không nhìn mẹ mà nhìn lên vách đá. “Tốt hơn chúng ta nên tìm đường lên trên đó trước khi trời hửng sáng.” Cậu chỉ tay. “Những chiếc cọc đó chúng ta đã đi qua - còn nhiều cái nữa.” Nàng nhìn theo hướng tay cậu chỉ, nhìn thấy những chiếc cọc - những vật đánh dấu bị gió cào xước, nhận ra bóng của
một cái gờ hẹp ngoằn ngoèo dẫn lên khe nứt ở trên cao. “Họ đánh dấu đường lên vách đá,” Paul nói. Cậu chỉnh lại tư thế vai sao cho khoác ba lô thật thoải mái, đi tới chân gờ và bắt đầu trèo lên. Jessica đợi một lát, nghỉ ngơi, hồi phục lại sức lực; rồi đi theo cậu. Họ trèo lên, đi theo những chiếc cọc dẫn đường cho đến khi cái gờ thu nhỏ lại tới một cái mép hẹp ở miệng một khe nứt tối om. Paul nghiêng đầu nhìn vào nơi tối om
này. Cậu có thể cảm thấy chân mình đứng bấp bênh trên cái gờ mỏng manh, nên buộc mình phải thật cẩn thận. Cậu chỉ nhìn thấy bóng tối như mực trong khe nứt. Bóng tối trải dài hun hút, vươn lên tận những vì sao trên đỉnh núi. Đôi tai cậu tìm kiếm, nhưng chỉ thấy những âm thanh mà cậu có thể đoán trước - một tiếng cát chảy rất nhỏ, tiếng côn trùng rừ rừ, tiếng sột soạt của một con vật nhỏ đang chạy qua. Cậu lấy một chân thăm dò bóng tối trong khe nứt, nhận thấy có đá dưới bề mặt phủ đá mạt. Từ từ, cậu nhích từng bước quanh khúc cong, ra hiệu cho mẹ đi theo. Cậu túm chặt mép áo choàng lùng thùng của mẹ, giúp nàng đi vòng qua.
Họ ngước mắt nhìn lên ánh sao được đóng khung bởi hai mép đá. Paul nhìn thấy mẹ bên cạnh cậu giống như một chuyển động xám đục. “Giá như chúng ta có thể liều bật đèn lên,” cậu thì thầm. “Chúng ta còn có các giác quan khác chứ không chỉ mắt,” nàng nói. Paul trượt một chân lên trước, dồn trọng lượng lên đó, thăm dò bằng chân kia, gặp một vật cản. Cậu nhấc chân, thấy một bậc thang, bèn bước lên. Cậu với tay ra sau, chạm vào cánh tay mẹ, kéo mạnh áo choàng giúp mẹ bước theo cậu.
Một bậc nữa. “Con nghĩ nó dẫn lên đỉnh núi,” cậu thì thầm. Những bậc thang thấp và bằng phẳng, Jessica nghĩ. Chắc chắn do con người đẽo ra. Nàng theo sau cái bóng chuyển động lờ mờ của Paul, cảm thấy rõ ràng từng bậc thang. Những bức tường đá hẹp lại dần đến khi vai nàng gần như chạm vào chúng. Những bậc thang kết thúc ở một khe núi hẹp dài chừng hai mươi mét, nền bằng phẳng, thông với một vùng lòng chảo nông sáng ánh trăng.
Paul bước vào mép vùng lòng chảo, thì thầm: “Đẹp quá.” Jessica đứng đằng sau cách cậu một bước chân, chỉ có thể nhìn hút vào nó mà im lặng đồng ý. Bất chấp sự mệt lử, cảm giác khó chịu do những ống nối lẫn phích cắm ở lỗ mũi và sự tù túng của bộ sa phục, bất chấp nỗi sợ hãi và sự đau đớn đang khát khao kêu gào đòi nghỉ ngơi, vẻ đẹp vùng lòng chảo choán đầy các giác quan nàng, buộc nàng dừng lại ngắm nhìn. “Giống như chốn thiên bồng,” Paul thì
thầm. Jessica gật đầu. Trải dài phía trước nàng là vùng sa mạc bao la - những bụi cây, cây xương rồng, những lùm lá tí xíu - tất cả run rẩy dưới ánh trăng. Những bức tường bao ở bên trái nàng thì tối đen, bên phải thì sáng ánh trăng như thể phủ sương giá. “Chắc hẳn đây là nơi ở của người Fremen,” Paul nói. “Phải có người thì nhiều loại thực vật như thế này mới sống sót được,” nàng đồng ý. Nàng mở nắp chiếc ống nối với
túi hứng của bộ sa phục, nhấm nháp từng ngụm nước. Vị nước ấm áp, hăng hăng, nhạt nhẽo trôi xuống cổ. Nàng thấy nước làm mình tỉnh cả người. Khi nàng đóng nắp ống lại thì nó nghiến vào những vụn cát nghe xào xạo. Có sự chuyển động làm Paul chú ý - phía bên phải, trên nền vùng lòng chảo uốn cong bên dưới họ. Cậu nhìn chăm chú xuyên qua những bụi cây khói và cỏ dại vào một trảng cát phẳng hình nêm tràn ngập ánh trăng, có tiếng nhảy lò cò, bồm bộp khe khẽ ở dưới đó. “Chuột!” cậu thì thầm.
Bộp - bộp - bộp! Bọn chuột xuất hiện, nhảy vào vùng bóng tối rồi lại ra khỏi đó. Có một cái gì đó lặng lẽ lướt qua mắt họ mà rơi vào giữa lũ chuột. Rồi vang lên tiếng rít yếu ớt, tiếng vỗ cánh, và một con chim màu xám trông như bóng ma bay vụt lên ngang qua vùng lòng chảo, móng vuốt quắp một cái bóng nhỏ, tối đen. Chúng ta cần sự nhắc nhở đó, Jessica nghĩ. Paul tiếp tục nhìn chăm chú vào vùng lòng chảo. Cậu hít vào, ngửi thấy mùi
cây ngải đắng thơm ngát như giọng nữ trầm êm ái cất lên trong đêm tối. Loại chim ăn thịt này - cậu nghĩ về nó như một cá tính của sa mạc. Nó đã mang đến vùng lòng chảo này sự tĩnh mịch đến nỗi gần như có thể nghe thấy tiếng ánh trăng màu xanh sữa trôi lững lờ qua cây xương rồng đứng gác và bụi cây sơn đầy gai nhọn. Có tiếng ngân nga khe khẽ của ánh sáng, hài hòa, giản dị và thuần khiết; giản dị thuần khiết hơn bất kỳ loại âm nhạc nào trong vũ trụ của cậu. “Tốt hơn là ta nên tìm một nơi để dựng lều,” cậu nói. “Ngày mai ta có thể thử tìm những người Fremen đã...”
“Ở đây, hầu hết những kẻ không mời mà đến đều hối tiếc khi tìm thấy người Fremen!” Một giọng đàn ông nặng trịch cắt ngang lời cậu, phá tan khoảnh khắc yên tĩnh này. Giọng nói phát ra từ phía trên bên phải họ. “Đừng chạy, hỡi những kẻ xâm phạm,” giọng nói vang lên khi Paul rút lui vào hẻm núi. “Nếu chạy, các ngươi sẽ chỉ lãng phí nước trong cơ thể thôi.” Bọn họ muốn nước từ thịt chúng ta! Jessica nghĩ. Cơ bắp của nàng gạt tất cả sự mệt mỏi sang một bên, bước vào trạng
thái sẵn sàng hoạt động tối đa mà không để lộ ra ngoài chút gì. Nàng xác định vị trí phát ra giọng nói, thầm nghĩ: Thật lén lút! Mình không nghe thấy hắn ta. Và nàng nhận ra chủ nhân giọng nói đó chỉ tự cho phép mình gây ra những âm thanh nhỏ, những âm thanh tự nhiên của sa mạc. Một giọng nói khác phát ra từ mép vùng lòng chảo phía bên trái họ. “Làm nhanh lên, Stil. Lấy nước của bọn họ rồi đi thôi. Chúng ta chỉ còn chút ít thời gian trước khi trời hửng sáng.” Vốn phản ứng kém hơn mẹ trong tình huống khẩn cấp, Paul cảm thấy chán nản đến nỗi cứng đờ người và cố gắng rút
lui, đến nỗi cậu làm mờ những khả năng của mình do nỗi hoang mang trong chốc lát. Bây giờ cậu ép mình làm theo những gì mẹ đã dạy: thư giãn thực sự, sau đó đi vào trạng thái giống như thư giãn, sau đó vào trạng thái các cơ săn lại như ngọn roi sẵn sàng quất mạnh theo mọi hướng. Cậu vẫn cảm thấy cái rìa của nỗi sợ hãi bên trong mình và biết nguồn gốc của nó. Đây là thời điểm mù, cậu chẳng thấy tương lai nào hết... và họ bị kẹt giữa những người Fremen man rợ mà mối quan tâm duy nhất của bọn họ là nước chứa trong thịt của hai cơ thể không che chắn.
Vậy là, bản phóng tác tôn giáo Fremen này là nguồn gốc của cái giờ đây được chúng ta công nhận là “Những Cột trụ của Vũ trụ”, mà các Qizara Tafwid của nó có mặt giữa chúng ta với những dấu hiệu, bằng chứng và lời tiên tri. Họ mang lại cho Arrakeen chúng ta sự hợp nhất bí ẩn mà vẻ đẹp sâu thẳm của nó được tiêu biểu bởi âm nhạc sôi động xây dựng trên hình thức cổ xưa, nhưng in vào trí não một sự thức tỉnh mới. Ai là kẻ chưa từng nghe và bị tác động sâu sắc bởi “Bài thánh ca của Ông già”?
Ta sải bước qua sa mạc Ảo ảnh sa mạc dập dờn như đoàn quân các thiên thần. Thèm muốn vinh quang, khát đòi nguy hiểm, Ta lang thang tới những chân trời alKulab, Dõi theo những ngọn núi mực thời gian Nó tìm ta và đói khát ta. Và ta thấy bầy chim sẻ thoắt đến gần,
Táo bạo hơn cả con sói đang lao tới. Chúng đậu kín trên cây tuổi trẻ của ta Ta lắng nghe đàn chim trên những cành ta Chúng bấu lấy ta bằng mỏ và móng vuốt! - trích “Arrakis thức tỉnh” của Công chúa Irulan Người đàn ông trườn qua đỉnh cồn cát. Ông là một hạt cát mắc kẹt trong ánh nắng chói chang ban trưa. Khoác trên người độc những mảnh xác xơ còn lại
của chiếc áo choàng jubba, làn da ông trần trụi dưới cái nóng xuyên qua những mảnh vải rách tươm. Mũ trùm đầu đã bị xé toạc khỏi áo choàng, nhưng người đàn ông đã gấp một chiếc khăn xếp từ những mảnh quần áo rách. Những lọn tóc màu cát thòi ra từ chiếc khăn, tiệp màu với bộ râu lơ thơ và cặp lông mày rậm. Bên dưới đôi mắt màu-xanh-trong-màu-xanh,