hồi vào chiếc ống; sau đó
ông ta nâng con vật lên cao, tung nó lên trời. Con dơi bổ nhào xuống cạnh vách đá rồi mất hút khỏi tầm nhìn. Người Fremen gập chiếc lồng lại, nhét vào dưới áo choàng. Lại một lần nữa, ông ta cúi đầu nghe ngóng. “Bọn chúng lùng sục khắp vùng cao,” ông ta nói. “Chả biết bọn chúng tìm kiếm ai ở đó.” “Chúng biết chúng tôi rút lui theo hướng này,” Hawat nói. “Đừng bao giờ cho rằng mình là đối tượng duy nhất của một cuộc săn lùng,”
người Fremen nói. “Hãy quan sát phía khác của vùng trũng. Ông sẽ thấy một thứ.” Thời gian dần trôi. Vài thuộc hạ của Hawat ngọ nguậy, thì thầm. “Im lặng như những con thú đang sợ hãi đi,” người Fremen rít lên. Hawat nhận ra có sự chuyển động gần vách đá đối diện - những vệt mờ màu nâu vàng trên nền nâu vàng bay vụt qua. “Người bạn nhỏ của tôi mang tin đi đấy,”
người Fremen nói. “Nó là một người đưa tin giỏi - ngày cũng như đêm. Tôi sẽ rất buồn nếu để mất nó.” Con vật bay qua vùng sink rồi mờ dần. Trên toàn bộ dải cát rộng cỡ bốn đến năm ki lô mét tuyệt không có gì khác ngoại trừ sức ép ngày một tăng của cái nóng ban ngày - những cột không khí đi lên mờ mờ. “Giờ thì hãy im lặng tuyệt đối,” người Fremen thì thầm. Một hàng người hiện ra từ một kẽ nứt trong vách đá đối diện, lê bước tiến thẳng ngang qua sink. Với Hawat, họ có
vẻ là người Fremen, nhưng là một nhóm người vụng về đến kỳ quặc. Ông đếm được sáu người nặng nề lê bước trên những đụn cát. Có tiếng kêu “túc túc” của cánh tàu chim vọng từ trên cao phía bên phải nhóm Hawat. Con tàu bay đến bức tường đá bên trên họ - một con tàu của Gia tộc Atreides được trang trí màu sắc chiến trận Harkonnen. Con tàu bổ nhào về phía toán người đang đi qua sink. Toán người đứng lại trên đỉnh một đụn cát, vẫy tay. Con tàu lượn một vòng trên đầu họ theo
một đường cong hẹp, rồi quay lại bãi đáp phủ bụi ở phía trước đám người Fremen. Từ con tàu có năm người đi xuống, và Hawat nhìn thấy ánh lấp lánh mờ mờ ngăn bụi của những tấm chắn bảo vệ, và, dựa vào cách di chuyển của họ, cái vẻ thiện chiến rắn đanh của quân Sardaukar. “Chà chà! Bọn chúng dùng những tấm chắn ngu ngốc,” người Fremen bên cạnh Hawat khẽ nói bằng giọng giận dữ. Ông ta liếc về phía bức tường trơ trụi phía Nam sink. “Bọn chúng là Sardaukar,” Hawat thì thầm.
“Tốt.” Bọn Sardaukar dàn thành hàng rào nửa vòng tròn, tiến đến gần nhóm người Fremen đang đứng đợi. Ánh mặt trời lấp lánh trên những thanh kiếm bọn chúng cầm lăm lăm trên tay. Đám người Fremen đứng sát bên nhau, nhìn bề ngoài có vẻ thờ ơ. Bất ngờ, một toán người Fremen đội cát trồi dậy xung quanh hai nhóm. Họ tiến lại phía chiếc tàu, sau đó thì vào trong tàu. Nơi nhóm Fremen và quân Sardaukar gặp nhau tại đỉnh đụn cát, cát bụi tung lên mù mịt che khuất phần nào cuộc giao
tranh dữ dội. Ngay sau đó, bụi lắng xuống. Chỉ có người Fremen vẫn còn đứng. “Bọn chúng chỉ để lại ba người trên tàu,” người Fremen bên cạnh Hawat nói. “Thật là may. Tôi không nghĩ là chúng tôi phải làm hỏng con tàu trong khi chiếm lấy nó.” Đằng sau Hawat, một thuộc hạ thì thầm: “Những tên đó là Sardaukar!” “Ông có để ý thấy chúng đánh nhau cừ thế nào không?” người Fremen hỏi.
Hawat hít một hơi sâu. Ông ngửi thấy mùi bụi bị thiêu đốt xung quanh mình, cảm thấy sức nóng, độ khô hanh. Bằng một giọng nói cũng khô như thế, ông nói: “Đúng thế. Quả thực bọn chúng chiến đấu rất cừ.” Con tàu bị người Fremen chiếm vỗ cánh mềm mại như chim, vừa nâng mình thẳng lên trên vừa gập cánh vào rồi bay vút về phía Nam. Thì ra những người Fremen này cũng điều khiển được tàu, Hawat nghĩ. Trên đụn cát phía xa, một người Fremen vẫy một mảnh vải hình vuông màu xanh:
một lần... hai lần. “Chúng đến nữa đấy!” người Fremen bên cạnh Hawat quát. “Hãy sẵn sàng. Tôi cứ hy vọng chúng ta sẽ ra khỏi đây mà không có thêm phiền phức nào nữa.” Phiền phức! Hawat nghĩ. Ông thấy ở phía Tây có thêm hai con tàu nữa từ trên cao bổ nhào xuống một vùng cát nơi đột nhiên không còn bóng dáng người Fremen nào nữa. Chỉ còn tám mảng màu xanh - tám thi thể lính Sardaukar mặc trang phục Harkonnen - vẫn nằm lại trên khung cảnh khốc liệt đó.
Một con tàu khác lướt đi trên bức tường đá bên trên Hawat. Ông thình lình hít vào một hơi khi thấy con tàu - một tàu chở quân lớn. Nó bay chậm, dang rộng cánh với cái vẻ nặng nề vì chở quá đầy, như một con chim khổng lồ trên đường về tổ. Ở đằng xa, một tia sáng của súng laze có hình ngón tay màu đỏ tía bật ra từ một trong các con tàu đang bổ xuống. Nó quất ngang mặt cát, làm hằn lên một lằn bụi rõ mồn một. “Lũ hèn!” người Fremen bên cạnh Hawat nói giọng the thé. Chiếc tàu chở quân chao xuống về phía
khoảnh cát có những cái xác mặc đồ xanh. Những chiếc cánh của nó trườn ra hết cỡ, bắt đầu động tác khum xuống để đỗ gấp xuống. Hawat chú ý tới một ánh mặt trời lóe sáng trên kim loại ở phía Nam, một con tàu chim đang chúi xuống đó bằng động tác bổ nhào mạnh mẽ, cánh gập khít lại hai bên sườn, những tia lửa nó phụt ra trở thành một luồng sáng màu vàng nổi bật trên nền trời xám sẫm như bạc. Nó lao như tên bắn về phía chiếc tàu chở quân vốn không được che chắn vì đang trong phạm vi hoạt động của súng laze. Con tàu đang bổ xuống kia lao thẳng vào chiếc tàu chở quân.
Một tiếng gầm tóe lửa làm rúng động vùng lòng chảo. Đá đổ rầm rầm từ những vách đá khắp xung quanh. Một cột lửa màu đỏ cam phụt thẳng lên trời từ trảng cát nơi tàu chở quân và các tàu chim hộ tống vừa ở đó - mọi thứ chìm trong lửa. Chính người Fremen đã cất cánh trên con tàu chim bị chiếm ấy, Hawat nghĩ. Anh ta chủ ý hy sinh để hạ chiếc tàu chở quân kia. Mẹ Vĩ đại ơi! Những người Fremen này thật ra là gì vậy chứ? “Một cuộc trao đổi hợp lý,” người Fremen bên cạnh Hawat nói. “Trên tàu
đó ắt phải có tới ba trăm người. Giờ thì chúng ta phải đi lấy nước của họ và lập kế hoạch chiếm một tàu khác.” Ông ta bắt đầu ra khỏi nơi họ trú ẩn nãy giờ dưới bóng những tảng đá. Một cơn mưa những bộ đồng phục màu xanh dương nhô lên trên bức tường đá trước mặt ông, rơi xuống với tốc độ chầm chậm của trường hấp dẫn treo thấp. Trong khoảnh khắc chớp nhoáng ấy, Hawat vẫn đủ thì giờ nhận ra đó là quân Sardaukar, những khuôn mặt rắn đanh chìm trong cơn điên cuồng chiến trận, nhận ra chúng không có tấm chắn bảo vệ và tên nào cũng tay cầm dao, tay cầm súng bắn phi tiêu.
Một con dao ném ra cắm thẳng vào họng người Fremen bên cạnh Hawat khiến ông ta bật lộn ra sau, mặt bẻ quặt xuống đất. Hawat chỉ vừa rút dao ra thì cái màn đen của một phi tiêu tẩm độc đã quật ông ngã gục.
Muad’Dib thực sự có thể thấy trước Tương lai, nhưng chúng ta phải hiểu những giới hạn của năng lực đó. Chẳng hạn hãy nghĩ đến thị giác. Chúng ta có mắt, tuy nhiên không thể thấy gì nếu thiếu ánh sáng. Nếu đứng ở đáy thung lũng, ta không thể nhìn vượt ra ngoài thung lũng. Cũng vậy, Muad’Dib không thể lúc nào cũng lựa chọn cách nhìn xuyên qua địa hình bí ẩn. Người bảo chúng tôi rằng chỉ cần một quyết định tiên tri mơ hồ, có lẽ chẳng qua chỉ là lựa chọn từ này chứ không phải từ khác, cũng có thể thay đổi toàn bộ diện mạo của tương lai. Người bảo chúng
tôi: “Khả năng nhìn vượt thời gian là rộng lớn, nhưng khi ta đã xuyên qua nó, thời gian sẽ trở thành cánh cửa hẹp.” Và Người luôn đấu tranh chống lại sự cám dỗ lựa chọn một hướng đi an toàn, sáng sủa; Người cảnh báo: “Con đường đó chỉ càng dẫn dắt vào ngõ cụt.” - trích “Arrakis thức tỉnh” của Công chúa Irulan Khi những chiếc tàu chim từ trong bóng đêm bay ra lướt trên đầu họ, Paul chộp tay mẹ, nói nhanh: “Đừng động đậy!” Rồi cậu thấy chiếc tàu dẫn đầu dưới ánh
trăng, thấy cách nó cụp cánh vào để hãm tốc độ nhằm hạ cánh, thấy sự quyết đoán liều lĩnh của đôi tay điều khiển. “Idaho đấy,” cậu thở phào. Chiếc tàu cùng đoàn hộ tống hạ xuống vùng lòng chảo như một bầy chim về tổ. Bụi chưa lắng xuống thì Idaho đã ở bên ngoài tàu và chạy về phía họ. Hai dáng người mặc áo choàng Fremen theo sau anh ta. Paul nhận ra một người: vị Kynes dáng người cao, có bộ râu màu cát. “Lối này!” Kynes gọi rồi quay sang trái. Đằng sau Kynes, những người Fremen
khác đang ném vải trùm lên các con tàu. Đoàn tàu biến thành một dãy đụn cát thấp. Idaho trượt tới trước mặt Paul rồi dừng lại, giơ tay chào. “Bẩm Chúa công, người Fremen có một nơi trú ẩn tạm thời gần đây, ở đó ta có thể...” “Còn đằng kia thì sao?” Paul trỏ về quang cảnh ác liệt phía trên vách đá đằng xa - những luồng lửa, những tia laze màu tía quất ngang sa mạc. Một nụ cười hiếm hoi thấp thoáng trên khuôn mặt tròn, điềm tĩnh của Idaho.
“Bẩm Chúa công, tôi đã để lại cho họ một ít...” Ánh sáng trắng chói lòa ngập tràn sa mạc - sáng như mặt trời, tạc bóng họ như lên nền gờ đá. Bằng một động tác chớp nhoáng, một tay nắm tay Paul, tay kia nắm vai Jessica, Idaho lôi họ rời khỏi thềm đá xuống sâu trong lòng chảo. Họ ngã sóng soài trên cát khi một tiếng nổ gầm vang như sấm trên đầu. Sóng xung kích của nó khiến đá từ gờ đá nơi họ vừa đứng rơi lả tả. Idaho ngồi dậy, phủi cát khỏi người. “Không phải nguyên tử của gia tộc ta,”
Jessica nói. “Tôi nghĩ...” “Các anh đã đặt một tấm chắn ở đằng đó,” Paul nói. “Một tấm chắn lớn được kích hoạt với sức mạnh tối đa,” Idaho nói. “Một tia súng laze chạm phải nó và...” Anh ta nhún vai. “Phản ứng tổng hợp hạ nguyên tử,” Jessica nói. “Đó là một vũ khí nguy hiểm.” “Không phải vũ khí, thưa Lệnh bà, mà là công cụ bảo vệ. Lần sau thì đồ cặn bã đó sẽ phải nghĩ hai lần trước khi dùng súng
laze.” Những người Fremen bước ra từ các tàu chim dừng lại phía trên họ. Một người thấp giọng đề nghị: “Chúng ta nên tìm chỗ ẩn núp, các bạn ạ.” Paul đứng dậy trong khi Idaho giúp Jessica đứng lên. “Cú nổ đó nhất định sẽ khiến nhiều người chú ý, thưa Chúa công,” Idaho nói. Chúa công, Paul nghĩ. Cái từ đó nghe thật kỳ lạ khi người ta
dùng để xưng hô với cậu. Xưa nay Chúa công luôn là cha cậu. Cậu cảm thấy bị năng lực tiên tri của mình tác động trong một khoảnh khắc, cảm nhận chính mình bị nhiễm cái ý thức giống nòi hoang dã đang khiến vũ trụ loài người tiến tới chỗ hỗn loạn. Thị kiến đó khiến cậu rúng động, và cậu để mặc cho Idaho dẫn đi dọc mép lòng chảo đến một chỗ đá nhô ra. Những người Fremen ở đó đang dùng dụng cụ nén mở một lối đi sâu xuống cát. “Tôi mang ba lô hộ ngài nhé, thưa Chúa công?” Idaho hỏi.
“Không nặng đâu Duncan ạ,” Paul nói. “Ngài không có tấm chắn hộ thân,” Idaho nói. “Ngài muốn dùng tấm của tôi không?” Anh liếc nhìn vách đá đằng xa. “Có lẽ chúng sẽ không bắn súng laze nữa đâu.” “Cứ giữ tấm chắn của anh đi, Duncan. Cánh tay phải của anh đủ làm tấm chắn cho ta rồi.” Jessica nhận thấy lời khen đó có hiệu quả như thế nào, thấy Idaho nhích lại gần Paul hơn, và nàng nghĩ: Trong đám người này, con ta nhận được một bàn tay chắc chắn biết bao.
Người Fremen dịch tảng đá chắn ra để lộ lối đi dẫn xuống một khu liên hợp hầm tự nhiên của sa mạc. Một bụi cây ngụy trang được trang bị tại lối vào. “Đường này,” một người Fremen nói, dẫn cả đoàn bước xuống những bậc đá vào trong bóng tối. Đằng sau họ, bụi cây ngụy trang che mờ ánh trăng. Một ánh sáng xanh lờ mờ hiện ra ở phía trước, làm lộ ra những bậc đá và tường đá, một lối rẽ về phía trái. Lúc này những người Fremen mặc áo choàng đứng khắp xung quanh họ, xúm xít đi xuống dưới. Họ vòng qua góc rẽ, nhận
thấy một lối đi xiên xuống khác. Nó dẫn vào một khoang hang gồ ghề. Kynes đứng trước họ, mũ trùm đầu hất ra đằng sau. Cổ áo sa phục lấp lánh trong ánh sáng xanh. Mái tóc dài và bộ râu rối bù. Đôi mắt chỉ một màu xanh là hai cái hốc tối ngòm dưới hàng lông mày rậm. Trong khoảnh khắc chạm trán, Kynes tự hỏi: Tại sao ta lại giúp đỡ những người này? Đây là việc nguy hiểm nhất ta từng làm. Nó có thể khiến ta chết cùng họ. Rồi ông nhìn trực diện Paul, quan sát cậu bé vừa đảm nhận vai trò người trưởng
thành, cậu ta đang che giấu nỗi đau thương, đang đè nén mọi thứ ngoại trừ cái địa vị phải được tiếp nhận trong lúc này - địa vị công tước. Và trong khoảnh khắc đó Kynes nhận ra địa vị công tước vẫn đang tồn tại và chỉ tồn tại vì cậu bé này - và đây không phải chuyện có thể khinh suất. Jessica nhìn lướt qua khoang hang động, ghi nó vào giác quan theo phương pháp Bene Gesserit - một phòng thí nghiệm, một khu vực dân sự đầy những góc và hình vuông kiểu cổ. “Đây là một trong những Trạm Nghiên cứu Sinh thái học Đế quốc mà cha tôi
từng ao ước có để làm căn cứ tiên phong,” Paul nói. Cha cậu bé từng muốn! Kynes nghĩ. Lại một lần nữa Kynes tự hỏi: Ta có ngu ngốc không khi giúp đỡ những kẻ trốn chạy này? Tại sao ta lại giúp họ? Giờ mà muốn bắt giữ họ để mua lòng tin của bọn Harkonnen thì thật quá dễ dàng. Paul theo gương mẹ, nghiên cứu kỹ căn phòng, nhìn thấy chiếc bàn làm việc đặt ở một bên, những bức tường đá cái nào cũng giống cái nào. Dụng cụ xếp thành hàng trên chiếc ghế dài - những phím
phát sáng, các gridex plane bằng dây kim loại với những cái vòi thủy tinh có rãnh thòi ra. Mùi ô zôn tràn ngập nơi này. Vài người Fremen rẽ vào một góc khuất trong khoang và những âm thanh mới bắt đầu vang lên ở đó - máy móc kêu khục khặc, những dây cua roa và bộ đa truyền động xoay tròn rít lên the thé. Paul nhìn về phía cuối căn phòng, thấy có những chiếc lồng nhốt các con thú nhỏ xếp thành chồng tựa vào tường. “Cậu vừa nhận ra chính xác nơi này,” Kynes nói. “Cậu sẽ làm gì với một nơi như thế này, Paul Atreides?”
“Cải tạo hành tinh này cho phù hợp với con người,” Paul nói. Có lẽ đó chính là lý do ta giúp họ, Kynes nghĩ. Tiếng máy móc đột ngột nhỏ dần rồi im hẳn. Thay vào đó là tiếng loài vật kêu chin chít nho nhỏ từ phía những chiếc lồng. Tiếng kêu ngừng lại đột ngột như thể trong cơn bối rối. Paul lại chú ý vào những chiếc lồng, nhận ra giống vật ở trong đó là những con dơi cánh nâu. Một máng ăn tự động kéo dài từ tường bên ngang qua những
chiếc lồng. Một người Fremen hiện ra từ chỗ khuất trong khoang, nói với Kynes: “Thưa Liet, máy phát trường không hoạt động. Tôi không thể che giấu chúng ta khỏi các máy dò.” “Anh có sửa được không?” Kynes hỏi. “Không sửa nhanh được. Những bộ phận...” Người Fremen nhún vai. “Được rồi,” Kynes nói. “Vậy chúng ta sẽ làm mà không cần máy móc. Lấy một cái bơm tay để bơm khí ra ngoài bề mặt.”
“Tôi làm ngay đây.” Người Fremen vội vã đi ra. Kynes lại quay sang Paul. “Cậu đã đưa ra một câu trả lời xuất sắc.” Jessica chú ý đến âm thanh trầm sâu dễ chịu trong giọng Kynes. Đó là giọng nói hoàng gia, vốn chỉ quen ra lệnh. Và nàng cũng không quên người ta đã nhắc đến ông ta như là Liet. Liet là bản ngã thứ hai của người Fremen này, một gương mặt khác của nhà hành tinh học dễ bảo này. “Chúng tôi rất biết ơn các ông đã giúp đỡ, Tiến sĩ Kynes ạ,” nàng nói.
“Hừm, chúng ta cứ chờ xem,” Kynes nói. Ông gật đầu với một thuộc hạ. “Mang cà phê hương dược vào phòng tôi, Shamir.” “Có ngay, thưa Liet,” tay thuộc hạ nói. Kynes chỉ vào một lối đi hình vòm mở ra từ vách khoang. “Quý vị vui lòng qua bên này chứ?” Jessica cho phép mình gật đầu một cách vương giả trước khi chấp nhận. Nàng thấy Paul vẫy tay ra hiệu cho Idaho, bảo anh ta cắt đặt đội bảo vệ ở đây. Lối đi này xuống sâu hai bước, dẫn tới cánh cửa nặng trịch mở vào một căn
phòng hình vuông được những quả đèn cầu màu vàng chiếu sáng. Jessica lướt tay qua cánh cửa khi đi vào, giật mình nhận ra cửa làm bằng thép dẻo. Paul bước ba bước vào căn phòng, thả ba lô xuống sàn nhà. Cậu nghe thấy tiếng cửa đóng lại đằng sau mình, quan sát căn phòng - mỗi cạnh khoảng tám mét, tường bằng đá tự nhiên, màu cà ri, bị chia cắt bởi những chiếc tủ kim loại xếp thành hàng phía bên phải họ. Một chiếc bàn thấp có mặt kính màu trắng sữa đầy những hình bong bóng màu vàng chiếm cứ giữa căn phòng. Bốn chiếc ghế treo vòng quanh bàn.
Kynes đi vòng qua Paul, kéo một ghế cho Jessica. Nàng ngồi xuống, để ý cách con trai mình quan sát căn phòng. Paul vẫn đứng thêm khoảng một nháy mắt nữa. Một cái gì đó không bình thường thoang thoảng trong luồng không khí của căn phòng nói với cậu rằng có một lối ra bí mật phía bên phải họ, sau dãy tủ. “Cậu cũng ngồi xuống chứ, Paul Atreides?” Kynes hỏi. Ông ta thật cẩn thận khi tránh nhắc đến tước vị của ta, Paul nghĩ. Nhưng cậu chấp nhận chiếc ghế, vẫn im lặng trong lúc Kynes ngồi xuống.
“Cậu cảm thấy Arrakis có thể là một thiên đường,” Kynes nói. “Tuy nhiên, như cậu thấy đấy, Đế quốc chỉ phái đến đây những kẻ đâm thuê chém mướn được huấn luyện, những kẻ săn lùng hương dược!” Paul giơ ngón tay cái đeo chiếc nhẫn có ấn công tước lên. “Ông có nhìn thấy chiếc nhẫn này không?” “Có.” “Ông có biết ý nghĩa của nó không?” Jessica quay phắt lại nhìn chằm chằm
vào con trai. “Cha cậu đang nằm chết trong đống đổ nát của Arrakeen,” Kynes nói. “Nói theo nghĩa chính xác thì bây giờ cậu là Công tước.” “Tôi là một người lính của Đế quốc,” Paul nói, “nói theo nghĩa chính xác là một kẻ đâm thuê chém mướn.” Khuôn mặt Kynes tối sầm lại. “Ngay cả khi quân Sardaukar của Hoàng đế đứng trên xác cha cậu sao?” “Quân Sardaukar là một chuyện, còn nguồn gốc quyền lực hợp pháp của tôi là
chuyện khác,” Paul nói. “Arrakis có cách thức riêng để xác định ai là người mặc chiếc áo quyền lực,” Kynes nói. Và Jessica quay lại nhìn Kynes, thầm nghĩ: Trong con người này có một sự sắt đá mà không ai có thể làm mất đi độ cứng... và chúng ta cần sự sắt đá. Paul đang làm một việc nguy hiểm. Paul nói: “Quân Sardaukar trên Arrakis là một thước đo cho thấy Hoàng đế kính mến của chúng ta sợ cha tôi như thế nào. Bây giờ, chính tôi sẽ khiến cho Hoàng đế Padishah có những lý do để sợ...”
“Cậu bé,” Kynes nói, “có những chuyện mà cậu không...” “Ông hãy gọi tôi là Chúa công hoặc Tướng công,” Paul nói. Thật nhẹ nhàng, Jessica nghĩ. Kynes nhìn Paul chằm chằm, và Jessica để ý thấy vẻ ngưỡng mộ trên khuôn mặt của nhà hành tinh học, thoáng chút hóm hỉnh ở đó. “Vâng, thưa Chúa công,” Kynes nói. “Ta là người khiến Hoàng đế phải lo
lắng,” Paul nói. “Ta là người khiến tất cả những ai muốn chia chác Arrakis như là chiến lợi phẩm phải lo lắng. Chừng nào ta còn sống, nhất định ta vẫn tiếp tục là nỗi lo ấy, cái nỗi lo siết chặt cổ họng họ khiến họ tắc thở cho đến chết!” “Toàn lời suông,” Kynes nói. Paul nhìn ông ta chằm chằm. Ngay sau đó, Paul nói: “Ở đây các người có một truyền thuyết về Lisan al-Gaib, Giọng nói Từ Thế giới Bên Ngoài, người sẽ dẫn dắt dân Fremen tới thiên đường. Thuộc hạ của ông có...” “Thật mê tín!” Kynes nói.
“Có thể mê tín,” Paul đồng ý. “Mà cũng có thể không. Đôi khi sự mê tín có những gốc rễ kỳ lạ và những cành nhánh còn kỳ lạ hơn,” Paul nói. “Ngài có một kế hoạch,” Kynes nói. “Điều này quá rõ ràng... thưa Chúa công.” “Người Fremen của ông có thể cung cấp cho tôi bằng chứng xác thực rằng quân Sardaukar ở đây mặc đồng phục Harkonnen không?” “Có thể lắm.”
“Hoàng đế sẽ đặt một tên Harkonnen vào chiếc ghế quyền lực ở đây,” Paul nói. “Thậm chí có thể là Rabban Thú dữ. Cứ mặc kệ ông ta. Một khi Hoàng đế đã nhúng tay vào đến mức không còn thoát tội được thì cứ để ông ta đối mặt với Dự luật Đặc biệt có thể được đưa ra trước Landsraad. Hãy để ông ta trả lời ở đó, nơi mà...” “Paul!” Jessica nói. “Cứ cho là Hội đồng Cấp cao Landsraad tiếp nhận vụ kiện của ngài đi nữa,” Kynes nói, “việc đó chỉ có thể dẫn đến một kết quả: chiến tranh tổng lực giữa Đế quốc và các Đại Gia tộc.”
“Hỗn loạn,” Jessica nói. “Nhưng ta sẽ trình vụ kiện lên Hoàng đế,” Paul nói, “và trao cho ông ta một giải pháp khác ngoài sự hỗn loạn.” Jessica nói khô khốc: “Tống tiền?” “Một trong những công cụ của thuật trị quốc, như chính mẹ từng nói,” Paul nói, và Jessica nghe thấy sự gay gắt trong giọng cậu. “Hoàng đế không có con trai mà chỉ có con gái.” “Con nhắm đến ngai vàng ư?” Jessica hỏi.
“Hoàng đế sẽ không mạo hiểm đẩy Đế quốc vào cảnh tan hoang do chiến tranh toàn diện,” Paul nói. “Những hành tinh bị tàn phá, đâu đâu cũng toàn là hỗn loạn - ông ta sẽ không mạo hiểm như thế.” “Cái Chúa công đề xuất là một canh bạc mạo hiểm,” Kynes nói. “Các Đại Gia tộc trong Landsraad sợ gì nhất nào?” Paul hỏi. “Họ sợ nhất những gì đang xảy ra ở đây, ngay lúc này, trên Arrakis - quân Sardaukar đang ngắm tỉa bọn họ từng người, từng người một. Chính vì vậy mới có Landsraad. Đây là chất keo gắn kết của Đại Hiệp định. Chỉ
liên minh lại thì bọn họ mới ngang tài ngang sức với quân đội của Đế quốc.” “Nhưng họ...” “Đây là điều họ sợ,” Paul nói. “Arrakis sẽ toàn tiếng khóc than. Mỗi người trong bọn họ sẽ nhìn thấy chính mình trong cha ta - bị tách khỏi nhóm và bị giết.” Kynes nói với Jessica: “Kế hoạch của Chúa công sẽ hiệu quả chứ?” “Tôi không phải Mentat,” Jessica nói. “Nhưng Lệnh bà là Bene Gesserit.”
Nàng nhìn chằm chằm thăm dò ông ta, rồi nói: “Kế hoạch của nó có điểm hay và điểm dở... bất kỳ kế hoạch nào cũng đều vậy cả. Kế hoạch thành công hay không tùy thuộc vào sự thực thi cũng chẳng kém gì so với tùy thuộc vào cái ý tưởng xây nên nó.” “ ‘Luật pháp là môn khoa học tối hậu,’ ” Paul trích dẫn. “Trên cửa phòng Hoàng đế ghi như vậy. Ta dự định cho ông ta thấy luật pháp.” “Tôi thì không chắc mình có thể tin cậy ở con người đã nảy ra cái kế hoạch này,” Kynes nói. “Arrakis có kế hoạch riêng mà chúng tôi...”
“Khi đã ngồi lên ngai vàng, ta có thể vẫy tay một cái là biến Arrakis thành thiên đường,” Paul nói. “Đây là cái đồng bạc ta sẽ trả cho sự ủng hộ của ông.” Kynes cứng người lại. “Lòng trung thành của tôi không phải để mua bán, thưa Chúa công.” Paul nhìn chằm chằm Kynes ở phía bên kia bàn, bắt gặp cái nhìn lạnh giá của đôi mắt màu-xanh-trong-màu-xanh, săm soi khuôn mặt râu ria và phong thái uy quyền đó. Một nụ cười gằn xuất hiện trên môi Paul, cậu đáp: “Nói hay lắm. Ta xin lỗi.”
Kynes bắt gặp ánh mắt Paul, và nói ngay: “Chưa một gã Harkonnen nào chịu thừa nhận sai lầm. Có lẽ ngài không như họ, Atreides ạ.” “Đó có thể là một sai lầm trong cách giáo dục của họ,” Paul nói. “Ông nói ông không phải kẻ để mua hay bán, nhưng ta tin ta có cái đồng bạc mà ông sẽ nhận. Để đổi lấy lòng trung thành của ông, ta trao lòng trung thành của ta cho ông... trọn vẹn.” Con ta có sự trung thực của nhà Atreides, Jessica nghĩ. Nó có cái phẩm giá đặc biệt, gần như hồn nhiên đó, và điều này thực sự là một sức mạnh to
lớn biết bao. Nàng thấy lời Paul nói đã khiến Kynes rúng động. “Thật vớ vẩn,” Kynes nói. “Ngài chỉ là một đứa trẻ và...” “Ta là Công tước,” Paul nói. “Ta là người của gia tộc Atreides. Chưa người Atreides nào cam kết như vậy rồi lại nuốt lời.” Kynes nuốt nước bọt. “Khi ta nói ‘một cách trọn vẹn’, ý ta muốn nói là hoàn toàn không so đo tính
toán. Ta sẽ hy sinh tính mạng vì ông.” “Chúa công!” Kynes nói, và dù chữ đó khó khăn lắm mới bật ra được, nhưng Jessica nhận thấy giờ đây không phải ông đang nói với một cậu bé mười lăm tuổi mà với một người trưởng thành, một người trên. Giờ thì Kynes thực sự muốn nói lên từ đó với đầy đủ ý nghĩa của nó. Trong khoảnh khắc này ông ta sẽ dâng mạng sống cho Paul, nàng nghĩ. Làm sao nhà Atreides có được điều đó nhanh chóng đến thế, dễ dàng đến thế? “Tôi hiểu ý Chúa công,” Kynes nói. “Nhưng bọn Harkon...”
Cánh cửa sau lưng Paul mở sầm ra. Cậu quay phắt lại thì thấy cảnh hỗn chiến quay cuồng - tiếng la hét, sắt thép chạm nhau chan chát, những khuôn mặt trắng bệch như sáp nhăn nhó trong hành lang. Cùng với mẹ bên cạnh, Paul lao về phía cửa, thấy Idaho đứng chắn hành lang, cặp mắt ngầu máu của anh hiện rõ mồn một qua tấm chắn mờ, những bàn tay móng vuốt không chạm được vào anh, những lưỡi thép hình vòng cung bổ một cách vô ích vào tấm chắn. Cái mồm lửa màu cam của một súng phi tiêu bị tấm chắn đẩy bật ra. Lưỡi gươm của Idaho đâm xuyên qua tất cả, vung lên loang loáng, nhểu ra máu
đỏ. Rồi Kynes đến bên Paul và họ dùng sức nặng thân mình tấn chặt cửa. Paul còn kịp thoáng thấy Idaho lần cuối, thấy anh đương đầu với một bầy lốc nhốc những bộ đồng phục Harkonnen - dáng đứng loạng choạng giật cục đầy kiềm chế của anh, mái tóc như lông dê đen nhánh với cái chết đỏ lòm bừng nở trên đó. Rồi cửa đóng lại và có tiếng tách khi Kynes cài then cửa. “Có vẻ như tôi đã quyết định rồi,” Kynes nói.
“Có ai đó đã phát hiện ra thiết bị của ông trước khi nó ngừng hoạt động,” Paul nói. Cậu kéo mẹ tránh xa cánh cửa, nhìn thấy nỗi tuyệt vọng trong mắt mẹ. “Lẽ ra tôi nên ngờ là có chuyện không hay khi cà phê không được mang tới,” Kynes nói. “Ông có một lối thoát hiểm ra khỏi đây,” Paul nói. “Chúng ta sẽ sử dụng nó chứ?” Kynes hít một hơi sâu rồi nói: “Cánh cửa này có thể chống đỡ được mọi sức công phá ít nhất là trong hai mươi phút, chỉ cần không có súng laze.”
“Bọn chúng sẽ không sử dụng súng laze vì sợ chúng ta đặt sẵn tấm chắn bảo vệ ở phía bên này,” Paul nói. “Bọn chúng là quân Sardaukar mặc đồng phục Harkonnen,” Jessica thì thầm. Giờ thì họ có thể nghe thấy tiếng phá cửa, những tiếng nện nhịp nhàng. Kynes chỉ vào dãy tủ tựa vào bức tường bên tay phải rồi nói: “Lối này.” Ông bước tới cái tủ đầu tiên, mở một ngăn kéo, khéo léo điều chỉnh tay cầm bên trong. Toàn bộ vách của những chiếc tủ mở ra để lộ một miệng hầm tối om. “Cánh cửa này cũng làm bằng thép dẻo,”
Kynes nói. “Ông chuẩn bị thật chu đáo,” Jessica nói. “Chúng tôi sống dưới thời Harkonnen tám mươi năm rồi,” Kynes nói. Ông hướng họ đi vào trong bóng tối rồi đóng cửa lại. Trong vùng tối đột ngột, Jessica nhìn thấy một mũi tên tỏa sáng trên nền đường hầm trước mặt nàng. Giọng Kynes phát ra đằng sau họ: “Chúng ta sẽ tách nhau ra ở đây. Bức tường này rất chắc chắn. Nó sẽ trụ vững trong ít nhất một tiếng đồng hồ. Hãy đi
theo những mũi tên giống mũi tên trên nền kia. Chúng sẽ chỉ đường đi cho hai người. Chúng xuyên qua mê cung tới một cửa thoát hiểm khác, ở đó tôi đã giấu sẵn một con tàu chim. Tối nay sẽ có một cơn bão đi qua vùng sa mạc. Hy vọng duy nhất của hai người là chạy theo cơn bão đó, bổ nhào vào đỉnh của nó, lướt đi cùng nó. Người của tôi đã lái như thế trong những con tàu đánh cắp. Nếu các vị giữ cho tàu ở vị trí cao trong cơn bão, các vị sẽ sống sót.” “Thế còn ông?” Paul hỏi. “Tôi sẽ cố trốn bằng đường khác. Nếu tôi bị bắt... ừ thì, tôi vẫn là nhà hành tinh
học của Đế quốc. Tôi có thể nói tôi bị các vị bắt giữ.” Chạy trốn như những kẻ nhát gan, Paul nghĩ. Nhưng ta còn có thể lựa chọn cách sống nào khác nếu muốn trả thù cho cha đây? Cậu quay người đối mặt với cánh cửa. Jessica nghe thấy con chuyển động, bèn nói: “Duncan chết rồi, Paul à. Con đã nhìn thấy cậu ấy bị thương. Con chẳng thể làm gì cho cậu ấy.” “Sẽ có ngày con bắt chúng phải trả giá cho tất cả bọn họ,” Paul nói.
“Nếu giờ các vị không nhanh lên thì sẽ chẳng có chuyện đó đâu,” Kynes nói. Paul cảm thấy tay ông ta đặt trên vai cậu. “Chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu hở Kynes?” Paul hỏi. “Tôi sẽ cử người Fremen đi tìm các vị. Đường đi của cơn bão đã rõ. Giờ thì nhanh lên, Mẹ Vĩ đại sẽ ban cho các vị tốc độ và may mắn.” Họ nghe thấy ông ra đi, có tiếng chuyển động trong bóng tối. Jessica tìm thấy tay Paul, nhẹ nhàng kéo
cậu. “Hai mẹ con mình không được rời nhau,” nàng nói. “Vâng.” Cậu theo mẹ đi qua mũi tên đầu tiên, thấy nó chuyển sang màu đen khi họ chạm vào. Một mũi tên khác dẫn đường cho họ ở phía trước. Họ bước qua, thấy nó tự tắt, rồi lại thấy một mũi tên khác ở phía trước. Lúc này họ đang chạy. Những sơ đồ trong những sơ đồ nằm trong những sơ đồ trong sơ đồ, Jessica
nghĩ. Bây giờ liệu chúng ta có trở thành một phần trong kế hoạch của ai đó khác không? Các mũi tên chỉ đường cho họ vòng qua những chỗ ngoặt, qua những lối đi chỉ hiện ra mờ mờ dưới ánh sáng yếu ớt. Con đường của họ có đoạn dốc xuống rồi lại dốc lên, lên nữa. Cuối cùng họ tới dãy bậc thang, vòng qua một góc rồi bị chặn lại bởi một bức tường phát sáng ở giữa có tay nắm màu tối. Paul ấn vào tay nắm. Bức tường xoay ra xa họ. Ánh sáng rực rỡ làm lộ ra một cái hang lớn đẽo vào
đá, giữa hang có một con tàu nằm phủ phục. Phía bên kia tàu chim là một bức tường màu xám bằng phẳng có ký hiệu chỉ cánh cửa hiện ra lờ mờ. “Kynes đi đâu vậy?” Jessica hỏi. “Ông ấy làm điều mà bất cứ chỉ huy quân du kích tài giỏi nào đều nên làm,” Paul nói. “Ông ấy tách chúng ta thành hai nhóm và sắp đặt sao cho nếu bị bắt thì ông ấy cũng không thể tiết lộ chúng ta ở đâu. Ông ấy thực sự không biết.” Paul dẫn nàng vào trong phòng, để ý thấy chân của họ làm tung bụi trên sàn nhà.
“Phòng này không có người từ rất lâu rồi,” cậu nói. “Ông ấy có vẻ tin chắc rằng người Fremen sẽ tìm được chúng ta,” nàng nói. “Con cũng tin như thế.” Paul thả tay mẹ, đi đến chiếc cửa bên trái con tàu, mở cửa, buộc chặt ba lô vào ghế sau. “Vị trí tàu này được che kín,” cậu nói. “Bảng thiết bị có bộ điều khiển cửa từ xa, bộ điều khiển ánh sáng. Tám mươi năm sống dưới thời Harkonnen đã dạy họ biết cẩn thận.” Jessica dựa vào phía bên kia con tàu, nín
thở. “Bọn Harkonnen sẽ phái một đội quân càn quét toàn bộ vùng này,” nàng nói. “Chúng chẳng ngu đâu.” Nàng cân nhắc cảm nhận phương hướng của mình, chỉ về bên phải. “Cơn bão chúng ta sẽ gặp nằm trên đường đó.” Paul gật đầu, đấu tranh với sự miễn cưỡng đột ngột không muốn di chuyển. Cậu biết nguyên nhân vì sao, nhưng nhận ra có biết thì cũng chẳng giúp gì được. Ở nơi nào đó trong đêm nay cậu đã đi qua một chuỗi kết nối những quyết định để tiến sâu vào một vùng không biết. Cậu biết rõ khu vực-thời gian bao quanh họ,
nhưng cái ngay-ở-đây-trong-lúc-này thì lại như một vùng bí ẩn. Như thể cậu đã nhìn thấy chính mình ở đằng xa vừa đi xuống một thung lũng, khuất khỏi tầm nhìn. Trong vô vàn con đường từ thung lũng đó đi lên, vài con đường có thể đưa Paul Atreides trở lại tầm nhìn, nhưng nhiều đường khác thì không. “Chúng ta càng chần chừ thì chúng càng chuẩn bị tốt hơn,” Jessica nói. “Mẹ vào trong đi, thắt dây an toàn chặt vào,” Paul nói. Cậu vào trong tàu cùng mẹ, vẫn vật lộn với ý nghĩ rằng đây là một vị trí mù, bất
cứ thị kiến tiên tri nào cũng không nhìn thấy được. Rồi cậu đột ngột choáng váng nhận ra cậu đang ngày càng dựa vào trí nhớ tiên tri, và riêng trong tình huống khẩn cấp này, điều đó đã làm cậu yếu đi. “Nếu bạn chỉ dựa vào mắt mình, các giác quan khác sẽ yếu đi.” Đó là một châm ngôn Bene Gesserit. Giờ thì cậu vận câu nói này vào hoàn cảnh của mình, tự hứa sẽ không bao giờ lại rơi vào cái bẫy đó... nếu cậu sống sót qua đận này. Paul thắt chặt dây an toàn, nhìn sang thấy mẹ đã thắt dây rồi, bèn kiểm tra con tàu. Các cánh trải rộng tối đa trong trạng thái nghỉ, những gân cánh bằng kim loại mảnh
duỗi thẳng. Cậu chạm vào thanh điều khiển thu cánh, quan sát những chiếc cánh thu ngắn lại để cất cánh nhờ sức đẩy động cơ theo cách mà Gurney Halleck đã dạy cậu. Công tắc khởi động di chuyển dễ dàng. Bộ phím trên bảng thiết bị bật sáng khi động cơ phản lực được khởi động. Tua bin bắt đầu kêu xì xì khe khẽ. “Mẹ sẵn sàng chưa?” cậu hỏi. “Rồi.” Cậu ấn vào bộ điều khiển hệ thống đèn từ xa.
Bóng tối trùm lên họ. Khi cậu nhả bộ điều khiển cửa từ xa ra, bàn tay cậu là một cái bóng tương phản với những phím sáng. Có tiếng rít phía trên đầu họ. Một dòng cát kêu xào xạo phá vỡ bầu không khí yên lặng. Một làn gió nhẹ lướt qua má Paul. Cậu đóng cửa máy bay lại, cảm thấy một áp suất đột ngột. Khi bức tường-cửa phòng mở ra, họ thấy một khuôn trời rộng tràn ngập những vì sao chiếu sáng mờ mờ qua lớp bụi. Ánh sao soi rõ một thềm đá phía bên ngoài, trông như những gợn cát.
Paul ấn xuống chuỗi công tắc phát sáng trên bảng điều khiển. Các cánh hạ xuống về phía sau, đưa con tàu rời khỏi nơi ẩn nấp. Nguồn lực trào ra từ các động cơ phản lực khi cánh tàu thu lại trong tư thế cất cánh. Jessica lướt nhẹ tay trên bộ điều khiển kép, cảm thấy sự chắc chắn trong những cử động của con trai. Nàng lo lắng, song cũng lại thấy hồ hởi. Bây giờ, những gì mọi người đã huấn luyện cho Paul là hy vọng duy nhất của chúng ta, nàng nghĩ. Cả tuổi trẻ và sự nhanh nhẹn của thằng bé nữa. Paul nạp thêm điện cho động cơ phản
lực. Con tàu nghiêng đi khiến họ lún xuống ghế ngồi khi một bức tường tối sẫm nhô lên nổi bật dưới những vì sao ở phía trước. Cậu tiếp thêm điện cho con tàu, điều khiển các cánh dài thêm ra. Thêm một lần đập cánh mạnh nữa, rồi chiếc tàu chim vọt lên bay qua những khối đá, qua những góc cạnh và ụ cát phủ sương bạc dưới ánh sao. Mặt trăng thứ hai ửng đỏ phủ bụi hiện ra trên đường chân trời bên phải họ, định rõ đường đi của bão. Tay Paul nhảy múa trên bộ điều khiển. Những chiếc cánh cụp vào khiến tàu chim trông như con bọ cánh cứng. Lực hấp dẫn đè lên thân thể họ khi con tàu
chao nghiêng một vòng. “Phía sau chúng ta có các luồng lửa!” Jessica nói. “Con thấy rồi.” Cậu đóng sầm công tắc điện về phía trước. Con tàu nhảy chồm lên như con thú đang sợ hãi, lao về phía Tây Nam theo hướng cơn bão rồi lượn một vòng rộng trên sa mạc. Ở khoảng cách gần, Paul nhìn thấy những cái bóng rải rác như muốn nói rằng các dãy đá đến đây là hết, hệ thống hang động đang chìm xuống dưới những
đụn cát. Những cái bóng hình móng tay trải dài bên dưới trong ánh trăng - những đụn cát thu nhỏ dần vào nhau. Và phía trên đường chân trời nhô lên một vùng bằng phẳng rộng lớn - ấy là cơn bão, giống như bức tường nổi bật dưới những vì sao. Có cái gì đó va mạnh vào tàu. “Vỏ tàu vỡ!” Jessica thở hổn hển. “Bọn chúng đang sử dụng loại vũ khí phóng đạn nào đó.” Nàng thấy nụ cười toe toét bất ngờ hiện trên khuôn mặt Paul. “Có vẻ như bọn
chúng tránh dùng súng laze,” cậu nói. “Nhưng chúng ta không có tấm chắn!” “Chúng có biết điều đó không?” Con tàu lại lắc mạnh. Paul quay người nhìn về phía sau. “Hình như bọn chúng chỉ có một tàu bay đủ nhanh để có thể đuổi kịp chúng ta.” Cậu chú ý vào đường đi, quan sát bức tường bão dâng lên cao dần phía trước họ. Nó mờ mờ hiện ra, sừng sững như một khối rắn hữu hình.
“Máy phóng, tên lửa, tất cả những vũ khí cổ xưa đó - nó là thứ mà chúng ta sẽ trao cho người Fremen,” Paul thì thầm. “Cơn bão,” Jessica nói. “Con đổi hướng bay không tốt hơn sao?” “Thế còn con tàu đằng sau chúng ta?” “Nó đang dừng lại.” “Vậy thì!” Paul thu cánh, chao hẳn con tàu sang bên trái, lượn vào bức tường bão trông như thể đang sôi chầm chậm, cảm thấy má cậu bị kéo theo lực hấp dẫn.
Họ gần như trượt vào một đám mây bụi bay chầm chậm, đám bụi ngày càng dày đặc cho đến khi che mờ cả sa mạc lẫn mặt trăng. Con tàu trở thành một tiếng thì thầm của bóng tối nằm dài theo phương ngang, chỉ được soi chiếu nhờ ánh sáng xanh phát ra từ bảng điều khiển. Những lời cảnh báo về các cơn bão như thế lướt nhanh như chớp qua tâm trí Jessica - rằng chúng cắt kim loại như cắt bơ, khoét vào thịt sâu đến tận xương và gặm dần vào xương. Nàng cảm thấy cú va chạm của cơn cuồng phong phủ kín bụi. Nó xoáy họ quay mòng mòng trong khi Paul đánh vật với bộ điều khiển.
Nàng thấy con liên tục thay đổi mức điện, cảm thấy con tàu hết trồi lên lại thình lình sụt xuống. Vỏ kim loại xung quanh họ kêu xì xì và rung lên bần bật. “Cát đó!” Jessica kêu lên. Nàng thấy cậu lắc đầu phủ nhận dưới ánh sáng phát ra từ bảng điều khiển. “Ở độ cao này thì không có nhiều cát lắm.” Nhưng nàng có thể cảm thấy họ đang càng lúc càng lún sâu vào vòng xoáy của cơn bão. Paul chỉnh cho các cánh sải dài tối đa để bay vút lên, nghe thấy chúng kêu cót két
khi bị căng ra hết mức. Cậu dán mắt vào những thiết bị, lướt đi theo bản năng, vật lộn để giành lấy độ cao. Âm thanh trên đường bay của họ giảm dần. Con tàu bắt đầu lộn tròn về phía trái, Paul tập trung vào quả cầu phát sáng bên trong cung tròn chỉ độ cao, nỗ lực lái con tàu trở lại hướng nằm ngang. Jessica có cảm giác kỳ lạ rằng họ vẫn đang đứng yên tại chỗ, tất cả sự chuyển động là của bên ngoài. Một màu nâu vàng mờ ảo tràn tới đập vào cửa sổ, một tiếng kêu xì xì ùng ục nhắc nhở nàng về
những sức mạnh thiên nhiên xung quanh họ. Tốc độ gió cỡ từ bảy trăm đến tám trăm ki lô mét một giờ, nàng nghĩ. Nỗi lo lắng do hoóc môn adrenalin gây ra giày vò nàng. Mình không được hoảng sợ, nàng thầm nhủ rồi nói to những lời trong kinh cầu nguyện Bene Gesserit. Sợ hãi giết chết tâm trí. Chầm chậm, những năm dài khổ luyện của nàng chiếm được ưu thế. Sự bình tĩnh quay trở lại. “Chúng ta leo lên lưng cọp rồi,” Paul thì
thầm. “Chúng ta không thể bay xuống, không thể hạ cánh... và con e chúng ta không thể bay vọt lên cao thoát khỏi cơn bão. Chúng ta phải lái tàu vượt qua nó thôi.” Nàng mất hết bình tĩnh. Jessica cảm thấy răng đánh vào nhau lập cập, bèn cắn chặt răng lại. Rồi nàng nghe thấy giọng Paul, khẽ khàng và tự chủ, đang đọc kinh cầu nguyện: “Sợ hãi giết chết tâm trí. Sợ hãi là cái chết nhỏ mang đến sự phá hủy hoàn toàn. Ta sẽ đối mặt với nỗi sợ. Ta sẽ để nó đi khắp người ta và xuyên qua ta. Rồi khi nó đã đi qua, ta sẽ xoay con mắt bên
trong để nhìn đường đi của nó. Ở những nơi nỗi sợ đi qua chẳng còn gì cả. Chỉ còn lại chính ta.”
Người ta khinh thường cái gì? Đọc phần này các người sẽ thực sự biết. - trích “Sách về Muad’Dib” của Công chúa Irulan “Bọn chúng chết cả rồi, thưa Nam tước,” tay đội trưởng đội cận vệ Iakin Nefud nói. “Cả mụ đàn bà và thằng bé chắc chắn đều chết rồi.” Nam tước Vladimir Harkonnen ngồi dậy trên bộ dây treo dùng làm giường ngủ trong khu phòng riêng của ngài. Bên ngoài khu phòng đó và bao quanh ngài,
giống như một quả trứng có nhiều vỏ, là con tàu vũ trụ mà ngài đã đậu trên Arrakis. Tuy nhiên, trong khu phòng của ngài, vỏ kim loại xù xì của con tàu được ngụy trang bằng những bức trướng, đệm vải và đồ mỹ thuật quý hiếm. “Chuyện này là chắc chắn,” tay đội trưởng nói. “Bọn chúng chết rồi.” Nam tước xoay tấm thân phì nộn trong bộ dây treo, tập trung chú ý vào bức tượng ebaline một cậu bé đang nhảy trong hốc tường phía bên kia phòng. Ngài đã tỉnh ngủ. Ngài chỉnh lại cho thẳng cái dây treo có lót đệm bên dưới những ngấn cổ núng nính, nhìn chằm chằm ngang qua
quả đèn cầu đơn trong phòng ngủ về phía ngưỡng cửa, nơi đội trưởng Nefud đang đứng, bị tấm chắn năm lớp chặn lại. “Chắc chắn bọn chúng chết rồi, thưa Nam tước,” tay thuộc hạ nhắc lại. Nam tước để ý thấy vẻ đờ đẫn vì semuta trong mắt Nefud. Rõ ràng khi tiếp nhận bản báo cáo này tay thuộc hạ đang chìm sâu vào trạng thái mê ly do dùng thuốc, và chỉ dừng lại uống thuốc giải ngay trước khi lao đến đây. “Tôi có một báo cáo đầy đủ,” Nefud nói. Hãy để hắn ta vã mồ hôi một chút, Nam
tước nghĩ. Người ta phải luôn luôn giữ những công cụ của thuật trị quốc sao cho thật sắc nhọn và luôn sẵn sàng. Sức mạnh và nỗi sợ - sắc nhọn và sẵn sàng. “Ngươi có nhìn thấy thi thể họ không?” Nam tước làu bàu. Nefud ngập ngừng. “Thế nào?” “Bẩm Chúa công... quân ta nhìn thấy chúng lao bổ vào cơn bão cát... sức gió trên tám trăm ki lô mét. Không gì có thể sống sót trước một cơn bão như thế, thưa
Chúa công. Không gì hết! Một tàu của chúng ta đã vỡ tan tành trong lúc đuổi theo chúng.” Nam tước nhìn Nefud chằm chằm, để ý thấy sự co giật vì lo lắng trong đường thẳng như cắt kéo nơi cơ hàm của tay thuộc hạ, chuyển động của chiếc cằm khi Nefud nuốt nước bọt. “Ngươi có nhìn thấy thi thể họ không?” Nam tước hỏi. “Bẩm Chúa công...” “Thế ngươi khua giáp loảng xoảng chạy đến đây làm gì hả?” Nam tước gầm lên.
“Nói với ta một điều là chắc chắn trong khi thực tế là chưa chắc chắn? Ngươi nghĩ ta sẽ khen ngợi ngươi vì sự ngu ngốc này, rồi còn thăng chức cho ngươi nữa chắc?” Mặt Nefud chuyển sang màu trắng nhợt. Nhìn con gà này đi, Nam tước nghĩ. Vây quanh ta toàn những cục đất vô dụng như thế đấy. Nếu ta tung cát trước mặt tên này và bảo đó là ngũ cốc, hắn sẽ mổ ngay cho xem. “Vậy ra tên Idaho dẫn đường cho chúng ta tới chỗ bọn chúng hử?” Nam tước hỏi.
“Đúng thế, thưa Chúa công!” Nhìn cách hắn thốt ra câu trả lời kìa, Nam tước nghĩ. Ngài hỏi: “Bọn chúng đang cố chạy trốn đến chỗ người Fremen hả?” “Vâng, thưa Chúa công.” “Còn gì ngoài bản... báo cáo này?” “Tay chuyên gia hành tinh học của Đế quốc, Kynes, có dính líu đến vụ này, thưa Chúa công. Idaho đã câu kết với tay Kynes này trong những tình huống khó hiểu... Thậm chí tôi có thể nói là tình huống đáng ngờ.”
“Như thế nào?” “Bọn chúng... à, cùng bay đến một nơi trong sa mạc, rõ ràng đó là chỗ thằng bé và mẹ nó đang ẩn trốn. Trong sự kích động khi đang săn đuổi, vài người trong nhóm chúng ta rơi vào một vụ nổ tấm chắn-súng laze.” “Chúng ta thiệt hại bao nhiêu?” “Tôi... à, vẫn chưa rõ, thưa Chúa công.” Hắn đang nói dối, Nam tước nghĩ. Vụ này chắc phải khá tệ.
“Gã Kynes này là tay sai của Đế quốc,” Nam tước nói. “Ông ta đang chơi trò hai mang chắc?” “Tôi cá cả thanh danh của mình là đúng như vậy đấy, thưa Chúa công.” Thanh danh của hắn! “Giết ông ta đi,” Nam tước nói. “Bẩm Chúa công! Kynes là nhà hành tinh học của Đế quốc, phục vụ chính Hoàng đế...” “Vậy thì hãy làm nó giống như một vụ tai nạn!”
“Bẩm Chúa công, quân Sardaukar cũng đi cùng lính của ta trong cuộc chinh phục sào huyệt tay Fremen này. Lúc này họ đang canh giữ Kynes.” “Tách ông ta ra khỏi bọn chúng. Cứ nói là ta muốn hỏi cung ông ta.” “Nếu họ phản đối thì sao?” “Họ sẽ không phản đối nếu ngươi xử lý đúng cách.” Nefud nuốt nước bọt. “Vâng, thưa Chúa công.”
“Ông ta phải chết,” Nam tước nói giọng trầm sâu. “Ông ta đã cố gắng giúp đỡ kẻ thù của ta.” Nefud đổi chân. “Gì nữa?” “Thưa Tướng công, quân Sardaukar đang canh giữ... hai người có thể khiến ngài quan tâm. Họ vừa tóm được Thủ lĩnh Sát thủ của Công tước.” “Hawat? Thufir Hawat?” “Chính mắt tôi nhìn thấy tên tù binh đó, thưa Chúa công. Đó là Hawat.”
“Ta không tin là có thể xảy ra chuyện này!” “Họ nói ông ta bị đánh gục bởi một súng phi tiêu, thưa Chúa công. Trong sa mạc thì ông ta không thể sử dụng khiên chắn. Ông ta gần như không bị thương tổn gì. Nếu chúng ta tóm được ông ta, ông ta sẽ cho ta một trò giải trí tuyệt hảo đây.” “Ngươi đang nói đến một Mentat đó,” Nam tước càu nhàu. “Người ta không lãng phí một Mentat. Ông ta đã nói gì chưa? Ông ta nói gì về thất bại của mình? Có thể ông ta biết quy mô của... nhưng không.”
“Ông ta chỉ nói đủ để cho thấy ông ta tin Lệnh bà Jessica là kẻ phản bội, thưa Chúa công.” “Ái chà chà.” Nam tước ngồi lùi lại, suy nghĩ; rồi ngài nói: “Ngươi có chắc không? Có phải sự giận dữ của ông ta nhắm vào Lệnh bà Jessica không?” “Ông ta nói thế trước mặt tôi, thưa Chúa công.” “Vậy thì hãy để ông ta nghĩ rằng cô ta vẫn còn sống.”
“Nhưng, thưa Chúa công...” “Im lặng nào. Ta muốn Hawat được đối xử tử tế. Không được cho ông ta biết gì về tay bác sĩ quá cố Yueh, kẻ phản bội thực sự. Hãy bảo họ nói rằng bác sĩ Yueh đã chết trong khi bảo vệ Công tước. Theo nghĩa nào đấy thì thậm chí điều này có thể là sự thật. Thay vào đó, chúng ta sẽ cung cấp chứng cứ để ông ta nghi ngờ Lệnh bà Jessica.” “Thưa chúa công, tôi không...” “Cách kiểm soát và điều khiển một Mentat, Nefud ạ, là thông qua tin tức ông
ta thu được. Tin tức sai sẽ dẫn đến kết quả sai.” “Vâng, thưa Chúa công, nhưng...” “Hawat có đói không? Có khát không?” “Bẩm Chúa công, Hawat vẫn nằm trong tay quân Sardaukar!” “Đúng thế. Quả thực là vậy. Nhưng quân Sardaukar sẽ nóng lòng muốn moi tin tức từ ông ta chẳng kém gì ta đâu. Ta để ý thấy một điều về những đồng minh của chúng ta, Nefud ạ. Bọn họ không xảo quyệt lắm... về chính trị. Ta tin chắc đây là một chuyện có chủ ý; Hoàng đế muốn
như thế. Đúng. Ta tin vậy. Ngươi hãy nhắc nhở tay chỉ huy quân Sardaukar rằng ta vốn có tiếng trong việc moi tin từ những đối tượng khó bảo.” Nefud có vẻ không hài lòng. “Vâng, thưa Chúa công.” “Ngươi hãy nói với tay chỉ huy quân Sardaukar rằng ta muốn hỏi cung cả Hawat lẫn Kynes cùng một lúc, kích người này chống lại người kia. Tay chỉ huy có thể hiểu rõ điều đó, ta nghĩ vậy.” “Vâng, thưa Chúa công.” “Và một khi chúng nằm trong tay chúng
ta...” Nam tước gật đầu. “Bẩm Chúa công, quân Sardaukar sẽ muốn cử một quan sát viên ngồi cùng ngài trong bất kỳ... cuộc hỏi cung nào.” “Ta đảm bảo chúng ta có thể dựng lên một tình huống khẩn cấp để đánh lạc hướng bất cứ kẻ quan sát không mời mà đến nào, Nefud ạ.” “Tôi hiểu, thưa Chúa công. Đó là khi Kynes có thể gặp tai nạn.” “Cả Kynes và Hawat đều sẽ gặp tai nạn, Nefud. Nhưng chỉ có Kynes là gặp nạn thực sự thôi. Còn Hawat thì ta muốn có
hắn. Đúng thế. Hà hà, đúng thế.” Nefud chớp mắt, nuốt nước bọt. Anh ta có vẻ muốn hỏi một câu nữa, nhưng rồi vẫn im lặng. “Mang cho Hawat cả đồ ăn và nước uống,” Nam tước nói. “Đối đãi ông ta bằng lòng tốt, bằng sự cảm thông. Cho vào nước uống của ông ta một ít chất độc còn lại do tên Piter de Vries quá cố chế ra. Và anh hãy lo sao cho thuốc giải độc trở thành một phần thực đơn hàng ngày của Hawat... trừ phi ta nói khác.” “Thuốc giải, đúng thế.” Nefud lắc đầu. “Nhưng...”
“Đừng ngu ngốc nữa, Nefud. Công tước suýt nữa đã giết chết ta bằng một cái răng chứa thuốc độc. Cái khí độc ông ấy phun vào ta đã tước đi của ta một trong những Mentat giá trị nhất, Piter. Ta cần người thay thế.” “Hawat sao?” “Hawat.” “Nhưng...” “Ngươi định nói rằng Hawat hoàn toàn trung thành với Atreides. Đúng thế, nhưng Atreides đã diệt vong. Chúng ta sẽ
cố giành được sự ủng hộ của ông ta. Chúng ta phải thuyết phục ông ta rằng ông ta không có lỗi trong cái chết của Công tước. Tất cả là do mụ phù thủy Bene Gesserit đó. Ông ta đã có một chủ nhân kém cỏi, một kẻ để cho cảm xúc che mờ lý trí. Các Mentat ngưỡng mộ khả năng tính toán không bị cảm xúc chi phối, Nefud ạ. Chúng ta sẽ giành được sự ủng hộ của tay Mentat ghê gớm này.” “Thật không may là Hawat lại có một chủ nhân kém tài thao lược, không thể nâng một Mentat lên những đỉnh cao siêu phàm về tư duy luận lý vốn là quyền của Mentat. Hawat sẽ nhìn thấy trong chuyện này một yếu tố sự thật nào đó. Công tước
không có đủ những gián điệp tài năng nhất để cung cấp thông tin cần thiết cho Mentat của ông ta.” Nam tước nhìn Nefud chằm chằm. “Chúng ta đừng bao giờ đánh lừa chính mình, Nefud ạ. Sự thật là vũ khí hữu dụng. Chúng ta biết chúng ta đánh gục Atreides bằng cách nào. Hawat cũng biết. Chúng ta làm được việc đó bằng sự giàu có.” “Bằng sự giàu có. Đúng vậy, thưa Chúa công.” “Chúng ta sẽ cố giành sự ủng hộ của Hawat,” Nam tước nói. “Chúng ta sẽ giấu ông ta khỏi bọn Sardaukar. Và để dự phòng... chúng ta thôi cho uống thuốc
giải độc. Không có cách nào khử hết chất độc còn lại. Và Nefud này, cần làm cho Hawat không bao giờ nghi ngờ. Không được để máy dò độc dược phát hiện ra thuốc giải. Hawat có thể kiểm tra cẩn thận đồ ăn nếu ông ta muốn nhưng vẫn không phát hiện ra chút dấu vết nào của chất độc.” Nefud mở to mắt vẻ thấu hiểu. “Sự vắng mặt của một thứ cũng có thể gây chết người như sự có mặt của nó,” Nam tước nói. “Thiếu không khí, hử? Hay thiếu nước? Sự vắng mặt của bất cứ thứ gì khác mà chúng ta nghiện.” Nam tước gật đầu. “Ngươi hiểu ý ta chứ,
Nefud?” Nefud nuốt nước bọt. “Vâng, thưa Chúa công.” “Vậy thì bận rộn với công việc đi. Đi tìm tên chỉ huy bọn Sardaukar mà bắt đầu hành động như chúng ta đã bàn.” “Tôi xin thi hành ngay lập tức, thưa Chúa công.” Nefud cúi chào rồi quay người vội vã đi ra. Hawat bên cạnh ta! Nam tước nghĩ. Bọn Sardaukar sẽ trao hắn cho ta. Nếu có nghi thì chúng cũng sẽ chỉ nghi rằng ta muốn tiêu diệt tên Mentat này. Và ta sẽ
xác nhận nghi ngờ này! Một lũ ngốc! Một trong những Mentat ghê gớm nhất trong lịch sử, một Mentat được huấn luyện để giết người, vậy mà bọn chúng sẽ ném hắn cho ta giống như thứ đồ chơi ngớ ngẩn bị hỏng. Ta sẽ cho chúng thấy món đồ chơi như thế có thể dùng vào việc gì. Nam tước lần tay xuống dưới tấm vải bên cạnh chiếc giường treo, ấn nút gọi thằng cháu Rabban. Ngài ngồi lùi lại, mỉm cười. Thế là tất cả bọn Atreides đã chết! Tên đội trưởng ngu ngốc đã đúng, tất
nhiên rồi. Chắc chắn không gì có thể sống sót trên đường đi của một cơn bão cát dữ dội ở Arrakis. Không một con tàu nào... hay người ở trong đó. Mụ đàn bà và thằng bé đã chết. Đồ đút lót đặt đúng nơi, phí tổn không thể tưởng tượng nổi để mang lực lượng quân đội vô cùng hùng mạnh đổ bộ xuống một hành tinh... toàn bộ những bản báo cáo quỷ quyệt được xử lý để thích ứng với riêng đôi tai Hoàng đế, toàn bộ mưu đồ được tính toán kỹ lưỡng cuối cùng cũng thành công tốt đẹp. Sức mạnh và nỗi sợ - nỗi sợ và sức mạnh!
Nam tước có thể nhìn thấy con đường trước mặt ngài. Một ngày nào đó, một người Harkonnen sẽ trở thành Hoàng đế. Không phải chính ngài, cũng không phải dòng dõi của ngài. Nhưng là một người Harkonnen. Không phải tên Rabban ngài vừa cho gọi, tất nhiên rồi. Mà là em của Rabban, Feyd-Rautha trẻ tuổi. Thằng bé có sự sắc sảo mà Nam tước thích... một sự tàn bạo. Một trang thiếu niên đáng yêu, Nam tước nghĩ. Một, hai năm nữa thôi, cứ cho là khi thằng bé mười bảy tuổi, ta sẽ biết chắc nó có đúng là công cụ cần thiết để Gia tộc Harkonnen giành lấy ngai vàng hay không.
“Thưa Nam tước.” Người đứng bên ngoài trường tấm chắn tại cửa phòng ngủ Nam tước có vóc người thấp, khuôn mặt và thân hình tròn quay, mang những nét di truyền của dòng họ Harkonnen: mắt hẹp, đôi vai vồng lên. Tuy cơ thể to béo của anh ta cũng có phần rắn chắc, nhưng rõ là một ngày nào đó anh ta sẽ cần đến bộ dây treo di dộng để mang cái trọng lượng quá cỡ của mình. Một kẻ đầu óc ngu si tứ chi phát triển, Nam tước nghĩ. Cháu của ta sẽ không phải Mentat... không phải một Piter de
Vries, mà có thể đúng hơn là một cái gì đó dùng cho công việc tay chân. Nếu ta cho nó tự do hành động, nó sẽ nghiền nát mọi thứ trên đường đi của nó. Ái chà chà, nó sẽ bị người ta căm thù đến mức nào trên Arrakis này! “Rabban yêu quý,” Nam tước nói. Ngài ngắt trường tấm chắn ở cửa, nhưng vẫn giữ tấm chắn hộ thân của mình ở mức mạnh nhất, biết rằng có thể thấy rõ ánh sáng mờ mờ của tấm chắn phía trên quả đèn cầu bên cạnh giường. “Bác cho gọi cháu,” Rabban nói. Anh ta bước vào phòng, đảo mắt liếc qua sự nhiễu loạn không khí của tấm chắn hộ
thân, định tìm một chiếc ghế dây treo nhưng chẳng có. “Đứng lại gần đây để ta có thể dễ dàng nhìn thấy cháu,” Nam tước nói. Rabban tiến thêm một bước, nghĩ bụng cái lão già chết tiệt này đã chủ tâm cho dỡ hết ghế treo để bắt khách phải đứng. “Bọn Atreides chết rồi,” Nam tước nói. “Những tên cuối cùng. Đó là lý do ta gọi cháu đến Arrakis. Hành tinh này lại thuộc về cháu.” Rabban chớp mắt. “Nhưng cháu nghĩ bác sẽ điều Piter de Vries tới...”
“Piter cũng chết rồi.” “Piter ư?” “Piter.” Nam tước kích hoạt lại trường tấm chắn ở cửa, điều chỉnh cho nó ngăn mọi sự xâm nhập bằng năng lượng. “Cuối cùng thì bác cũng chán hắn ta rồi à?” Rabban hỏi. Giọng anh ta vang lên đều đều nhạt nhẽo trong căn phòng được che chắn khỏi năng lượng.
“Ta sẽ chỉ nói với cháu chuyện này một lần thôi,” Nam tước nói giọng trầm sâu. “Cháu bóng gió rằng ta đã tiêu diệt Piter như người ta phá hủy một thứ đồ không đáng giá.” Ngài bật tanh tách ngón tay núc ních. “Phải thế không, hử? Ta không ngu ngốc đến thế đâu, cháu ạ. Lần sau nếu cháu còn dám ám chỉ bằng lời hay bằng hành động rằng ta ngu ngốc như thế thì ta sẽ không cư xử lịch thiệp đâu.” Nỗi sợ hãi hiện ra trong cái nheo mắt của Rabban. Anh ta biết trong một vài giới hạn nhất định, tên Nam tước già này sẽ chống lại gia đình tới mức nào. Hiếm khi ông ta dồn họ đến chỗ chết trừ phi cực kỳ
có lợi hoặc bị khiêu khích quá đáng. Nhưng sự trừng phạt dành cho người trong gia đình có thể rất đau đớn. “Hãy tha thứ cho cháu, thưa Nam tước,” Rabban nói. Anh ta cụp hẳn mắt xuống, vừa che giấu sự tức giận vừa tỏ ra khúm núm. “Cháu không phỉnh được ta đâu, Rabban,” Nam tước nói. Rabban vẫn cụp mắt xuống, nuốt nước bọt. “Ta rút ra một điểm,” Nam tước nói. “Chớ bao giờ tiêu diệt một người khi
chưa cân nhắc kỹ, con đường mà toàn bộ thái ấp có thể làm chuyện này là thông qua quy trình luật pháp thích hợp. Hãy luôn luôn làm chuyện này vì một mục đích tối quan trọng - vàbiết rõ mục đích của cháu!” Nỗi tức giận trong Rabban lên tiếng: “Nhưng bác đã tiêu diệt tên phản bội, Yueh! Tối qua khi đến đây cháu thấy người ta đang mang xác ông ấy ra ngoài.” Rabban chằm chằm nhìn ông bác, đột nhiên cảm thấy lo sợ khi nghe những từ ngữ mình vừa thốt ra.
Nhưng Nam tước mỉm cười. “Ta rất cẩn thận với những thứ vũ khí nguy hiểm,” ngài nói. “Bác sĩ Yueh là một tên phản bội. Hắn đã trao Công tước cho ta.” Nam tước dồn sức mạnh vào giọng nói. “Ta mua chuộc được một tên bác sĩ của trường Suk! Trường Nội tại! Cháu rõ không, cậu bé? Nhưng đó là một loại vũ khí ghê gớm không thể vứt lăn vứt lóc được. Chẳng phải ngẫu nhiên mà ta tiêu diệt hắn.” “Thế Hoàng đế có biết chuyện bác mua chuộc một tay bác sĩ Suk không?” Một câu hỏi sắc sảo, Nam tước nghĩ. Liệu ta có đánh giá sai về thằng cháu
này? “Hoàng đế vẫn chưa biết,” Nam tước nói. “Nhưng quân Sardaukar chắc chắn sẽ bẩm báo chuyện này với ông ta. Tuy nhiên, trước khi điều đó xảy ra ta sẽ chuyển báo cáo của chính ta tới tay Hoàng đế thông qua các kênh của công ty CHOAM. Ta sẽ giải thích rằng ta đã may mắn phát hiện ra một bác sĩ giả vờ đạt tới Tối thượng Y pháp. Một bác sĩ giả mạo, cháu hiểu không? Bởi mọi người biết rõ họ không thể chống lại Tối thượng Y pháp của một trường Suk, việc này sẽ được chấp nhận.” “À, thì ra thế, cháu hiểu,” Rabban thì
thầm. Còn Nam tước nghĩ: Quả thực, tao hy vọng là mày hiểu. Tao hy vọng mày hiểu tầm quan trọng sống còn của việc giữ kín chuyện này. Nam tước chợt băn khoăn. Tại sao ta làm chuyện đó? Tại sao ta lại khoe khoang với thằng cháu ngốc nghếch này - thằng cháu mà ta phải lợi dụng và loại bỏ? Nam tước cảm thấy giận chính mình. Ngài cảm thấy đã để lộ bí mật. “Phải giữ kín chuyện này,” Rabban nói. “Cháu hiểu.” Nam tước thở dài. “Lần này, ta cho cháu
chỉ thị khác về Arrakis, cháu ạ. Khi cháu cai trị nơi này lần trước, ta còn kìm chặt cháu. Lần này, ta chỉ có một yêu cầu.” “Là gì ạ, thưa Chúa công?” “Thu nhập.” “Thu nhập?” “Rabban, cháu có biết chúng ta đã tiêu tốn bao nhiêu để mang theo một lực lượng quân đội đông như thế chống lại Atreides? Thậm chí liệu cháu có ý niệm mơ hồ nào về mức phí Hiệp hội đòi hỏi để vận chuyển binh lính cho chúng ta không?”
“Hẳn là đắt phải không?” “Đắt!” Nam tước vung cánh tay múp míp về phía Rabban. “Nếu cháu vắt kiệt Arrakis trong vòng sáu mươi năm thì số tiền thu được cũng chỉ đủ hoàn lại cho chúng ta mà thôi!” Rabban mở miệng rồi ngậm lại mà không nói gì. “Đắt ư,” Nam tước chế nhạo. “Sự độc quyền vận chuyển trong không gian của cái Hiệp hội đáng nguyền rủa đó có lẽ đã
làm chúng ta phá sản nếu ta không lên kế hoạch chuẩn bị cho mức phí tổn này từ rất lâu rồi. Cháu nên biết, Rabban ạ, rằng chúng taphải chịu toàn bộ gánh nặng này. Thậm chí chúng ta còn phải trả phí vận chuyển quân Sardaukar nữa.” Và không phải lần đầu tiên, Nam tước tự hỏi liệu có bao giờ người ta có thể lách qua được Hiệp hội không. Bọn chúng thật quỷ quyệt - ban đầu chỉ đòi một mức phí đủ cho người ta không phản đối, đợi đến khi đã nắm chắc họ trong tay thì chúng có thể thoải mái ép họ phải trả tiền, trả hoài, trả mãi. Bọn chúng luôn luôn đòi mức phí cắt cổ
trong những công việc mạo hiểm liên quan đến quân đội. “Để bù vào rủi ro,” những tay đại diện ngọt xớt của Hiệp hội giải thích như vậy. Và cứ ta gài được một mật vụ vào cơ cấu Ngân hàng Hiệp hội để làm chó canh thì chúng lại gài hai mật vụ vào hệ thống của ta. Thật không thể chịu nổi! “Vậy thì thu nhập,” Rabban nói. Nam tước hạ cánh tay xuống, nắm lại thành quả đấm. “Cháu phải vắt kiệt.” “Và cháu có thể làm bất cứ điều gì cháu muốn miễn là vắt kiệt được Arrakis?”
“Bất cứ điều gì.” “Thế còn những khẩu pháo bác đưa vào,” Rabban nói. “Cháu có thể...” “Ta đang chuyển chúng đi,” Nam tước nói. “Nhưng bác...” “Cháu không cần những đồ chơi như thế. Pháo là một cách tân đặc biệt mà giờ không còn hữu ích nữa. Chúng ta cần kim loại. Pháo không chống lại được tấm chắn, Rabban ạ. Nó chỉ là thứ gây bất ngờ thôi. Có thể đoán trước được quân
của Công tước sẽ rút lui vào những hang đá trên cái hành tinh đáng tởm này. Pháo của chúng ta chỉ nhốt chúng lại thôi.” “Bọn Fremen không dùng tấm chắn.” “Nếu muốn cháu có thể giữ lại vài khẩu súng laze.” “Vâng, thưa Chúa công. Và cháu được tự do hành động.” “Miễn là cháu vắt kiệt cái hành tinh này.” Rabban cười hả hê. “Cháu hiểu thấu đáo rồi, thưa Chúa công.”
“Cháu chẳng hiểu cái gì thấu đáo cả,” Nam tước càu nhàu. “Chúng ta hãy làm sáng tỏ chuyện đó ngay từ ban đầu. Cái mà cháuphải hiểu thấu đáo là thi hành mệnh lệnh của ta như thế nào. Cháu có bao giờ chợt nảy ra ý nghĩ là có ít nhất năm triệu người trên cái hành tinh này không?” “Thế Chúa công quên rằng cháu từng là Quan nhiếp chính siridar ở đây rồi à? Và nếu Chúa công tha thứ cho cháu, thì cháu xin được nói là số lượng ước đoán của Người có lẽ hơi thấp đấy. Để tính được số dân rải rác giữa các sink và pan như kiểu họ sống ở đây thì khó đấy. Và nếu bác xét đến người Fremen...”
“Bọn Fremen không đáng để xét!” “Thứ lỗi cho cháu, thưa Chúa công, nhưng quân Sardaukar lại nghĩ khác.” Nam tước ngập ngừng, nhìn chằm chằm thằng cháu. “Cháu biết chuyện gì à?” “Khi cháu đến đây vào tối qua thì Chúa công đã đi nghỉ rồi. Cháu... à, đã mạn phép tiếp xúc với vài tên phụ tá từ... ừm, trước đó. Bọn chúng đóng vai trò là quân thám báo cho quân Sardaukar. Bọn chúng báo cáo rằng một toán người Fremen đã phục kích quân Sardaukar tại một nơi nào đó nằm ở phía Đông Nam căn cứ này
và tiêu diệt hoàn toàn bọn chúng.” “Tiêu diệt hoàn toàn quân Sardaukar ư?” “Vâng, thưa Chúa công.” “Không thể nào!” Rabban nhún vai. “Người Fremen đánh thắng quân Sardaukar,” Nam tước chế nhạo. “Cháu chỉ thuật lại những gì họ báo cáo với cháu,” Rabban nói. “Nghe nói nhóm người Fremen này đã bắt được tên Thufir Hawat đáng gờm của Công tước.”
“Chà chà!” Nam tước gật đầu, mỉm cười. “Cháu tin lời họ,” Rabban nói. “Bác không biết bọn Fremen phiền toái thế nào đâu.” “Có thể, nhưng nhóm người này không phải người Fremen như mấy tay phụ tá của cháu thường thấy. Chắc bọn chúng là quân Atreides do Hawat huấn luyện và giả trang thành người Fremen. Đó là câu trả lời hợp lý duy nhất!” Một lần nữa, Rabban nhún vai. “À thì,
quân Sardaukar nghĩ bọn chúng là người Fremen. Quân Sardaukar đã bắt đầu chiến dịch truy quét tất cả người Fremen rồi.” “Tuyệt!” “Nhưng...” “Chuyện đó sẽ khiến bọn Sardaukar bận rộn. Và chúng ta sẽ sớm giành được Hawat thôi. Ta biết như thế! Ta có thể cảm thấy như thế! Hà, rồi cũng đến cái ngày này! Quân Sardaukar thì săn lùng vài nhúm người sa mạc vô dụng trong khi chúng ta giành được chiến lợi phẩm thực sự!”
“Bẩm Chúa công...” Rabban ngập ngừng, cau mày. “Cháu luôn luôn cảm thấy chúng ta đánh giá thấp người Fremen, cả về số lượng và về...” “Bỏ qua bọn chúng đi, cậu bé! Chúng chỉ là một đám ô hợp. Thị trấn, thành phố và làng mạc đông dân mới là mối quan tâm của chúng ta. Có rất đông dân ở đó, nhỉ?” “Rất đông, thưa Chúa công.” “Họ làm ta lo lắng, Rabban ạ.” “Làm bác lo lắng ư?”
“Ồ... chín mươi phần trăm bọn họ không làm ta bận tâm. Nhưng luôn có một số rất ít... các Tiểu Gia tộc và những bọn kiểu vậy, những kẻ đầy tham vọng có thể cố làm một chuyện nguy hiểm. Nếu một trong bọn chúng thoát khỏi Arrakis với một câu chuyện chẳng mấy hay ho về những điều xảy ra ở đây thì ta sẽ không hài lòng chút nào. Liệu cháu có biết ta sẽ không hài lòng đến mức nào không?” Rabban nuốt nước bọt. “Cháu phải tính ngay đến việc bắt ở mỗi Tiểu Gia tộc một con tin,” Nam tước nói. “Trong chừng mực bất cứ ai ngoài
Arrakis đều phải biết, đây là một cuộc chiến đường đường chính chính giữa Gia tộc này với Gia tộc nọ. Quân Sardaukar không dính dáng vào chuyện này, cháu hiểu chứ? Công tước đã được miễn tội chết và bị lưu đày, nhưng ông ta đã chết trong một tai nạn đáng tiếc trước khi kịp thi hành hình phạt. Mặc dù ông ta sắp thi hành. Chuyện là như thế. Và với bất cứ lời đồn nào rằng có quân Sardaukar ở đây, người ta sẽ phải cười vào nó.” “Vì Hoàng đế muốn như thế,” Rabban nói. “Vì Hoàng đế muốn như thế.”
“Thế còn những tay buôn lậu?” “Chẳng ai tin bọn buôn lậu, Rabban ạ. Bọn chúng được dung túng, nhưng không được tin tưởng. Dù sao đi nữa, cháu hãy rải của đút lót trong vùng này... và tiến hành những biện pháp khác mà ta chắc là cháu có thể nghĩ ra.” “Vâng, thưa Chúa công.” “Vậy thì, Rabban này, có hai thứ cần lưu ý ở Arrakis: thu nhập và nắm đấm tàn nhẫn. Ở đây cháu không được thể hiện lòng nhân từ. Hãy nghĩ về bọn người đần độn này đúng như bản chất của chúng - bọn nô lệ luôn ganh tị với chủ và chỉ chờ
cơ hội làm phản. Cháu không được đối xử với chúng bằng lòng nhân từ và trắc ẩn dù chỉ một chút xíu.” “Người ta có thể tiêu diệt toàn bộ một hành tinh không?” Rabban hỏi. “Tiêu diệt ư?” Nam tước quay ngoắt đầu ngạc nhiên. “Ai nói gì về chuyện tiêu diệt sao?” “À, cháu đoán là bác sẽ đưa vào một kho dự trữ mới và...” “Ta nói là vắt kiệt, cháu à, không phải tiêu diệt. Đừng lãng phí số dân đó, mà chỉ lái họ vào sự phục tùng tuyệt đối
thôi. Cháu phải là con thú ăn thịt, cậu bé ạ.” Ngài mỉm cười, trên khuôn mặt phì nộn có má lúm đồng tiền hiện lên một nét trẻ thơ. “Một con thú ăn thịt không bao giờ dừng lại. Không có lòng nhân từ. Không bao giờ dừng lại. Lòng nhân từ chỉ là thứ hão huyền. Nó có thể bị đánh bại bởi cái dạ dày réo ùng ục trong cơn đói, hay cái cổ họng khô khốc gào thét trong cơn khát. Cháu phải luôn luôn ở trong tình trạng đói và khát.” Nam tước vuốt ve những chỗ phúng phính phì nộn của ngài bên dưới những sợi dây treo. “Giống như ta vậy.” “Cháu hiểu, thưa Chúa công.”
Rabban đảo mắt sang trái rồi sang phải. “Vậy thì mọi chuyện đã sáng tỏ, phải không cháu?” “Trừ một điều, thưa bác: nhà hành tinh học, Kynes.” “À, ừ, Kynes.” “Ông ta là thuộc hạ của Hoàng đế, thưa Chúa công. Ông ta có thể đến và đi khi ông ta muốn. Ông ta rất thân thiết với người Fremen... đã cưới một người Fremen.” “Kynes sẽ chết lúc hoàng hôn ngày mai.”
“Giết một tay sai của Hoàng gia là việc nguy hiểm, thưa bác.” “Cháu nghĩ như thế nào khi ta đi xa đến mức này nhanh đến thế?” Nam tước hỏi. Giọng ngài khẽ khàng, đầy những tính từ không được diễn thành lời: “Bên cạnh đó, cháu không cần phải sợ Kynes sẽ rời Arrakis. Cháu quên rằng ông ta là người nghiện hương dược à.” “Tất nhiên rồi!” “Kẻ nào đã biết thì chẳng làm gì gây nguy hiểm đến nguồn dự trữ của chúng đâu,” Nam tước nói. “Chắc chắn Kynes
phải biết.” “Cháu quên mất,” Rabban nói. Họ nhìn nhau chằm chằm, im lặng. Ngay sau đó, Nam tước nói: “Nhân đây, cháu hãy coi việc làm ra nguồn hàng cho chính ta là một trong những mối quan tâm cần ưu tiên hàng đầu. Ta có nguồn dự trữ kha khá những món bí mật, nhưng cuộc đột kích cảm tử của bọn lính Công tước đã lấy đi gần hết những thứ chúng ta dự trữ để bán.” Rabban gật đầu. “Vâng, thưa Chúa công.”
Nam tước tươi tỉnh hẳn lên. “Nào, sáng mai cháu hãy tập hợp những tên còn lại trong tổ chức tại đây và hãy nói với họ: Hoàng đế Padishah Uy nghi của chúng ta giao cho ta nhiệm vụ chiếm lấy hành tinh này và chấm dứt tất cả bàn cãi.” “Cháu hiểu, thưa Chúa công.” “Lần này thì ta chắc là cháu hiểu. Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn vào ngày mai. Bây giờ, hãy để ta ngủ tiếp.” Nam tước ngắt tấm chắn cửa, dõi theo người cháu cho đến khi anh ta khuất khỏi tầm nhìn.
Đúng là đầu rỗng tuếch, Nam tước nghĩ. Đầu óc ngu si tứ chi phát triển. Người dân sẽ chỉ còn là đống bầy nhầy đẫm máu khi nó đã dùng xong bọn họ rồi. Đến lúc đó, khi ta cử Feyd-Rautha tới cởi bỏ gánh nặng cho bọn họ, họ sẽ tung hô vị cứu tinh của mình. FeydRautha yêu quý. Feyd-Rautha nhân từ, con người giàu lòng trắc ẩn cứu họ thoát khỏi tên bạo chúa. Feyd-Rautha, một vị cứu tinh xứng đáng để mọi người đi theo và chết vì Người. Lúc đó thằng bé sẽ biết phải đàn áp bằng cách không trừng phạt như thế nào. Ta chắc chắn nó đúng là người chúng ta cần. Nó sẽ học được. Và một thằng bé đáng
y ê un h ưt h ế. Q u ảt h ực l àt h ằn g b é r ất đán g y ê u.
Ở tuổi mười lăm, Người đã học được sự im lặng. - trích “Chuyện thuở thiếu thời của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Trong khi đánh vật với các bộ phận điều khiển của chiếc tàu chim, Paul dần dần nhận thức được mình đang phân loại những lực đan bện vào nhau của cơn bão, trí tuệ còn hơn cả Mentat của cậu tính toán dựa trên những chi tiết cực nhỏ. Cậu cảm nhận được những vùng hoạt động của bụi, những đám bụi cuồn cuộn, sự trộn lẫn những luồng khí xoáy, một
con lốc xoáy ngẫu nhiên. Buồng lái con tàu là một căn buồng giận dữ được chiếu rọi bởi ánh sáng xanh lục của bảng điều khiển. Dòng chảy màu nâu vàng của bụi cát bên ngoài có vẻ như chỗ nào cũng giống chỗ nào, song giác quan nội tại của cậu bắt đầu nhìn xuyên qua bức màn bụi đó. Ta phải tìm ra đúng con lốc xoáy, cậu nghĩ. Từ nãy đến giờ cũng khá lâu rồi, cậu đã cảm thấy sức mạnh của cơn bão đang giảm dần, nhưng nó vẫn làm họ rung chuyển. Cậu chờ một luồng khí xoáy
khác. Cơn lốc xoáy bắt đầu như một đám cuồn cuộn đột khởi khiến toàn bộ con tàu rung lên cành cạch. Paul cưỡng lại mọi nỗi sợ để nghiêng tàu về bên trái. Jessica nhìn thấy động tác điêu luyện đó trên quả cầu chỉ độ cao. “Paul!” nàng thét lên. Cơn lốc xoáy khiến họ quay mòng mòng, tròng trành, chao đảo. Nó nhấc bổng con tàu lên như một mẩu vỏ bào trên mạch nước phun, bắn con tàu phọt ra ngoài - một hạt bụi có cánh lọt thỏm trong lòng
đám bụi xoáy tròn được ánh trăng thứ hai soi sáng. Paul nhìn xuống, trông thấy cột gió nóng hiện rõ hình thù nhờ bụi vừa mới nuốt chửng họ, trông thấy cơn bão đang tàn kéo về phía xa như một con sông cạn kéo vào sa mạc - cái chuyển động màu xám dưới ánh trăng càng lúc càng nhỏ dần trong khi họ cưỡi trên dòng khí đi lên. “Mình thoát khỏi nó rồi,” Jessica thì thầm. Paul vừa xoay tàu tránh bụi bằng động tác chúi xuống nhịp nhàng vừa quan sát bầu trời đêm.
“Chúng ta thoát khỏi chúng rồi,” cậu nói. Jessica cảm thấy tim đập thình thịch. Nàng buộc mình phải bình tĩnh, nhìn về phía cơn bão đang yếu dần. Cảm giác về thời gian của nàng cho biết họ đã bay trong khối hỗn hợp các lực cơ bản đó suốt gần bốn tiếng đồng hồ, nhưng một phần tâm trí nàng thì ước tính quãng thời gian đó lâu bằng cả đời người. Nàng thấy mình như được sinh ra lần nữa. Nó giống như lời kinh vậy, nàng nghĩ. Chúng ta đã đối mặt nó và không cưỡng lại. Cơn bão đã đi ngang qua chúng ta và quanh chúng ta. Nó đã qua,
còn chúng ta thì ở lại. “Con không thích âm thanh phát ra từ chuyển động của cánh tàu,” Paul nói. “Chỗ đấy có hỏng hóc gì đó rồi.” Cậu cảm thấy cái âm thanh kèn kẹt khó nghe, cảm thấy sự tổn thương của con tàu qua đôi tay cậu đặt trên bàn điều khiển. Họ đã ra khỏi cơn bão, nhưng vẫn chưa vào trọn vẹn trong phạm vi thị kiến tiên tri của cậu. Thế nhưng họ đã thoát, và Paul cảm thấy chính mình run rẩy khi tiến đến gần một sự khải thị. Cậu rùng mình.
Cảm giác đó đầy sức hút nhưng cũng thật đáng sợ, và cậu nhận ra mình đang chìm đắm trong câu hỏi điều gì đã gây nên cái nhận thức khiến cậu run rẩy đó. Cậu cảm thấy một