phần của Arrakis.”
Cái thực thể khủng khiếp trong giọng nói của cậu không cho phép ai tranh cãi. “Mẹ và hương dược,” Paul nói. “Hương dược làm thay đổi bất kỳ ai ăn nó nhiều quá, nhưng nhờ mẹ, con có thể đưa sự thay đổi này vào ý thức. Con không để nó lại trong vô thức nơi sự nhiễu loạn của nó có thể bị che mờ đi. Con có thể nhìn thấy nó.” “Paul, con...” “Con nhìn thấy nó!” cậu nhắc lại. Nàng nghe thấy sự điên cuồng trong giọng con mà không biết phải làm gì.
Nhưng cậu lại nói, và nàng nghe thấy sự điều khiển cứng rắn trở về với cậu: “Chúng ta bị đánh bẫy ở đây.” Chúng ta bị đánh bẫy ở đây, nàng đồng ý. Nàng thừa nhận sự thật trong lời con. Không sức ép nào từ phía Bene Gesserit, không thủ đoạn hay mưu mẹo nào có thể nhổ bật họ thoát hẳn Arrakis: hương dược là chất gây nghiện. Khi tâm trí nàng còn chưa kịp ý thức về điều này thì cơ thể nàng đã nhận ra nó từ lâu rồi. Vậy chúng ta sống nốt cuộc đời mình ở
đây, trên hành tinh địa ngục này, nàng nghĩ. Nơi này được chuẩn bị sẵn cho chúng ta, nếu chúng ta có thể tránh khỏi bọn Harkonnen. Và không còn nghi ngờ gì về con đường của ta: con lừa cái đang bảo vệ một dòng dõi huyết thống quan trọng cho Kế hoạch Bene Gesserit. “Con phải kể cho mẹ nghe về giấc mơ thức tỉnh của con,” Paul nói. (Lúc này giọng cậu xúc động cao độ.) “Để chắc chắn mẹ thừa nhận điều con nói, điều đầu tiên con nói với mẹ là con biết mẹ sẽ sinh một bé gái, em gái con, trên Arrakis này.”
Jessica tì tay xuống nền lều, dựa lưng vào bức tường vải bập bồng để xoa dịu nỗi sợ hãi vừa nhói lên. Nàng biết mình chưa để lộ dấu hiệu gì cho thấy đã mang thai. Chỉ có sự huấn luyện Bene Gesserit mới giúp nàng nhận ra những dấu hiệu mờ nhạt đầu tiên trong cơ thể, biết rằng cái bào thai mới chỉ được vài tuần. “Chỉ để phụng sự,” Jessica thì thầm, bám chặt vào câu khẩu hiệu của Bene Gesserit: “Chúng ta sống chỉ để phụng sự.” “Chúng ta sẽ tìm thấy nơi cư ngụ giữa những người Fremen,” Paul nói, “Nơi mà Missionari Protectiva của mẹ đã mua
cho chúng ta một nơi ẩn náu.” Họ đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta một con đường trong sa mạc, Jessica tự nhủ. Nhưng làm thế nào mà thằng bé biết về Missionari Protectiva? Nàng nhận thấy càng ngày càng khó kìm nén nỗi sợ trước sự khác thường đến choáng ngợp của Paul. Cậu quan sát dáng hình u tối của Jessica, nhìn thấy nỗi sợ hãi và mọi phản ứng của nàng bằng nhận thức mới của mình, như thể mẹ được vẽ lên trong ánh sáng chói lòa. Cậu bắt đầu cảm thấy thương hại mẹ. “Mọi chuyện có thể xảy ra ở đây, con
không thể bắt đầu kể cho mẹ được,” cậu nói. “Thậm chí con không thể bắt đầu nói với chính mình, mặc dù con vừa nhìn thấy chúng. Cái cảm giác về tương lai này - dường như con không điều khiển được nó. Chuyện này chỉ vừa mới xảy ra. Ở cái tương lai gần nhất - cứ cho là một năm - con có thể nhìn thấy vài... một con đường rộng như đại lộ Trung tâm ở Caladan. Có vài nơi con không nhìn thấy... những nơi bị che phủ... như thể chúng ẩn đằng sau một quả đồi,” (và cậu lại nghĩ về bề mặt chiếc khăn đang bay) “... và có những đường phân nhánh...” Cậu rơi vào im lặng khi ký ức về việc nhìn thấy đó choán đầy trong cậu. Không
giấc mơ tiên tri nào, không sự từng trải cuộc sống nào chuẩn bị đủ cho cậu có thể tiếp nhận cái toàn thể tính khi những tấm màn che phủ kia bị xé toạc để lộ ra thời gian trần trụi. Nhớ lại những điều mình vừa trải qua, cậu nhận ra cái mục đích kinh khủng của chính mình - sức ép của cuộc đời cậu trải dài như một cái bong bóng đang phồng ra... thời gian lùi lại trước khi nó... Jessica lần tìm bộ điều khiển phím sáng của căn lều, kích hoạt nó. Ánh sáng xanh lờ mờ đẩy lùi những cái
bóng, làm dịu nỗi sợ hãi của nàng. Nàng nhìn khuôn mặt Paul, đôi mắt cậu - cái nhìn chằm chằm vào nội tâm. Nàng biết trước đây mình đã thấy cái nhìn như thế ở đâu: được vẽ trong những bộ hồ sơ về các thảm họa - trên những gương mặt trẻ thơ vừa trải qua sự đói khát hoặc bị tổn thương ghê gớm. Đôi mắt giống như hai cái hố, miệng như một đường thẳng, má hõm vào. Đó là cái nhìn của nhận thức kinh khủng, nàng nghĩ, của một người buộc phải biết về cái chết của chính mình. Cậu bé thực sự không còn trẻ con nữa.
Ý nghĩa nằm dưới những lời cậu nói bắt đầu xâm nhập tâm trí nàng, gạt mọi điều khác sang một bên. Paul có thể nhìn thấy phía trước, nhìn thấy con đường thoát thân cho hai mẹ con. “Có một con đường tránh được bọn Harkonnen,” nàng nói. “Bọn Harkonnen!” cậu nhếnh mép khinh bỉ. “Tống cái bọn méo mó ấy ra khỏi đầu mẹ đi.” Cậu nhìn mẹ chằm chằm, quan sát đường nét khuôn mặt mẹ dưới ánh sáng của phím sáng. Những đường nét làm lộ tâm trạng nàng. Nàng nói: “Con không nên nhắc đến
người khác như những người thiếu...” “Đừng quá tin chắc là mẹ biết vạch ra giới hạn ở đâu,” cậu nói. “Chúng ta mang theo quá khứ. Và, thưa mẹ của con, có một điều mẹ không biết và nên biết - chúng ta là Harkonnen.” Tâm trí nàng làm một chuyện kinh khủng: nó xóa sạch mọi thứ như thể nó cần khóa lại mọi cảm giác. Nhưng giọng Paul vẫn tiếp tục với nhịp độ không thể dao động, lôi kéo nàng theo nó. “Lần sau khi tìm thấy một chiếc gương, mẹ hãy quan sát khuôn mặt mình - còn bây giờ thì hãy quan sát khuôn mặt con
đi. Nếu mẹ không tự bịt mắt mình thì những dấu vết sờ sờ ra đó. Nhìn tay con xem, nhìn bộ xương của con xem. Nếu không có cái nào thuyết phục được mẹ, thì mẹ hãy ghi nhớ lời con. Con vừa đi vào tương lai, con vừa xem một hồ sơ, con vừa nhìn thấy một nơi, con có tất cả dữ liệu. Chúng ta là Harkonnen.” “Một... chi phản loạn của dòng họ,” nàng nói. “Là như thế phải không? Một người họ hàng Harkonnen đã...” “Mẹ chính là con gái của Nam tước,” cậu nói, và quan sát cách nàng ép tay vào miệng. “Thời trẻ Nam tước khá phóng túng, và một lần ông ta tự cho phép mình
bị quyến rũ. Nhưng đó là vì mục đích di truyền của Bene Gesserit, và bởi một trong những Bene Gesserit các người.” Cái kiểu cậu nói chữ các người đập vào nàng như một cái tát. Nhưng nó bắt tâm trí nàng phải hoạt động và nàng không thể phủ nhận lời cậu nói. Giờ đây rất nhiều đoạn kết còn để trống của ý nghĩa trong quá khứ nàng đã vươn ra và nối kết với nhau. Đứa con gái mà Bene Gesserit muốn, nó không phải để chấm dứt mối hận thù giữa Atreides với Harkonnen, mà là để cố định hệ số di truyền nào đó trong huyết thống của họ. Là cái gì? Nàng mò mẫm tìm câu trả lời.
Như thể nhìn thấu tâm trí nàng, Paul nói: “Họ nghĩ họ sắp túm được con. Nhưng con không phải cái họ trông đợi, và con đã tới trước thời điểm của con. Và họ không biết điều đó.” Jessica ép tay vào miệng. Mẹ Vĩ đại ơi! Thằng bé là Kwisatz Haderach! Nàng cảm thấy mình bị phơi ra trần trụi trước cậu, nhận ra cậu nhìn nàng bằng con mắt mà trước nó chẳng mấy điều có thể giấu giếm được. Và chính điều đó, nàng biết, là nguyên nhân sâu xa nỗi sợ của nàng.
“Mẹ đang nghĩ con là Kwisatz Haderach,” cậu nói. “Hãy gạt điều đó ra khỏi đầu mẹ đi. Con là một cái gì đó bất ngờ.” Ta phải cố báo chuyện này với một trong các trường, nàng nghĩ. Chỉ số cặp đôi có thể cho biết đã xảy ra chuyện gì. “Đến khi họ biết về con thì đã quá muộn rồi,” cậu nói. Nàng cố gắng chuyển hướng chú ý của cậu, hạ thấp tay xuống, nói: “Chúng ta sẽ tìm được một nơi ở giữa những người Fremen chứ?”
“Người Fremen có một câu châm ngôn mà họ tin là của Shai-hulud, Lão phụ Vĩnh hằng,” cậu tiếp. “Họ nói: ‘Hãy chuẩn bị để đánh giá đúng cái mà ngươi gặp.’ ” Và cậu nghĩ: Đúng thế, mẹ của con - giữa những người Fremen. Mắt mẹ sẽ chuyển thành màu xanh và mẹ sẽ có một cục chai cạnh chiếc mũi đáng yêu kéo dài từ cái ống lọc đến bộ sa phục của mẹ... và mẹ sẽ sinh em gái con: Thánh Alia Con Dao. “Nếu con không phải Kwisatz Haderach,” Jessica nói, “thì con là...”
“Mẹ không thể biết được,” cậu nói. “Mẹ sẽ không tin chừng nào mẹ chưa thấy nó.” Và cậu nghĩ: Ta là một hạt giống. Cậu bất ngờ nhận thấy mảnh đất mình rơi xuống mới màu mỡ làm sao, và, cùng với nhận thức này, cái mục đích kinh khủng choán đầy tâm trí cậu, len lỏi qua cái vùng trống rỗng ở trong đó, đe dọa làm cậu nghẹn lời vì đau buồn. Cậu đã nhìn thấy hai ngả chính dọc theo con đường phía trước - ở một ngả cậu đương đầu với tên quỷ già Nam tước và
nói: “Xin chào, ông ngoại.” Cậu phát ốm khi nghĩ về con đường này và điều gì đợi cậu trên đó. Ngả kia chứa đựng những vùng tăm tối xám xịt kéo dài ngoại trừ những đỉnh điểm bạo lực. Cậu đã nhìn thấy một thứ tôn giáo chiến binh ở đó, một ngọn lửa lan tràn vũ trụ với ngọn cờ xanh đen Atreides bay phất phới ở hàng đầu những đoàn quân cuồng tín say rượu hương dược. Gurney Halleck và vài thuộc hạ khác của cha cậu - một dúm người tội nghiệp - đi giữa đám chiến binh, tất cả bọn họ nổi bật bởi biểu tượng chim ưng lấy từ chiếc hòm đựng đầu lâu cha cậu.
“Con không thể đi vào đường này,” cậu lẩm bẩm. “Đó là điều mà những mụ phù thủy già ở ngôi trường của mẹ thực sự muốn.” “Mẹ không hiểu con, Paul ạ,” mẹ cậu nói. Cậu vẫn im lặng, đang suy nghĩ như cái hạt giống vốn chính là cậu, suy nghĩ bằng cái ý thức giống nòi mà cậu đã trải nghiệm lần đầu tiên như là cái mục đích kinh khủng. Cậu nhận thấy mình không còn căm thù Bene Gesserit hay Hoàng đế hay thậm chí là bọn Harkonnen nữa. Tất cả bọn họ đều bị cuốn hút vào nhu cầu của giống nòi họ, nhu cầu làm mới lại di
sản gen đang phân tán khắp nơi của mình, để lai ghép, trộn lẫn và ngâm dòng máu họ vào một nguồn gen mới dồi dào. Và giống nòi chỉ biết duy nhất một phương pháp đáng tin cậy để làm việc này - cái phương pháp cổ xưa, cái phương pháp chắc chắn, đã thử nghiệm thành công, vốn dễ dàng đánh thắng mọi thứ trên con đường của nó: thánh chiến. Chắc chắn ta không thể chọn con đường này, cậu nghĩ. Nhưng cậu lại nhìn thấy trong con mắt của tâm trí mình chiếc hòm đựng đầu lâu của cha cùng cảnh bạo lực với lá cờ hai màu đen xanh bay phất phới ở giữa.
Lo lắng khi thấy con im lắng, Jessica hắng giọng nói. “Vậy thì... người Fremen sẽ cho chúng ta chỗ trú ẩn?” Cậu ngước lên, đưa mắt ngang qua căn lều được soi chiếu bằng ánh sáng xanh, nhìn chằm chằm vào đường nét quý tộc bẩm sinh trên khuôn mặt mẹ. “Đúng thế,” cậu nói. “Đó là một trong những giải pháp.” Cậu gật đầu. “Đúng. Họ sẽ gọi con là... Muad’Dib, ‘Người Chỉ Đường’. Đúng... đó là cái tên họ sẽ dùng để gọi con.” Và cậu nhắm mắt, thầm nghĩ: Cha thân yêu, bây giờ con có thể khóc thương
cha được rồi. Rồi cậu cảm thấy những giọt nước mắt chảy xuống má.
Quyển Hai: MUAD’DIB Khi Hoàng đế Padishah cha ta biết tin Công tước Leto đã chết và chết như thế nào, ông nổi cơn thịnh nộ trước nay chưa từng thấy. Ông đổ lỗi cho mẹ ta và cái hiệp ước buộc ông đặt một Bene Gesserit lên ngai vàng. Ông đổ lỗi cho Hiệp hội và tên quỷ già Nam tước. Ông đổ lỗi cho mọi người xung quanh ông, thậm chí không ngoại trừ cả ta, vì ông nói ta là một mụ phù thủy như hết thảy các mụ phù thủy khác. Và khi ta cố an ủi ông, khi ta nói chuyện đó được thi hành theo đúng quy luật tự bảo tồn cổ
xưa, cái quy luật mà đến cả những người cai trị từ thời xa xưa nhất cũng phải trung thành, thì ông cười ta khinh bỉ và hỏi ta có nghĩ ông là kẻ yếu đuối không. Vậy là ta nhận ra cơn giận dữ của ông bị khuấy động không phải bởi mối quan tâm đến cái chết của Công tước mà bởi điều cái chết đó muốn nhắn nhủ với tất cả hoàng tộc. Khi nhìn lại sự việc, ta nghĩ có thể cha ta cũng phần nào có năng lực tiên tri, bởi vì nhất định dòng dõi của ông và của Muad’Dib có cùng một tổ tiên. - “Trong Gia tộc cha ta” của Công chúa Irulan
“Giờ thì Harkonnen sẽ giết Harkonnen,” Paul thì thầm. Cậu đã thức giấc ngay trước khi bóng đêm đổ xuống, ngồi dậy trong căn lều kín mít tối om. Trong khi nói, cậu nghe thấy tiếng cựa quậy mơ hồ của mẹ vọng ra từ bức tường đối diện, chỗ mẹ dựa vào ngủ. Paul liếc nhìn chiếc máy dò ở bên cạnh trên nền lều, quan sát bộ phím được chiếu sáng nhờ những ống phốt pho. “Trời sắp tối rồi,” mẹ cậu nói. “Sao con không bỏ những mảnh ngăn ánh sáng của căn lều ra?” Paul nhận ra hơi thở của mẹ đã khác đi
vài nhịp, rằng mẹ đã nằm im lặng trong bóng tối cho đến khi chắc chắn cậu đã thức giấc. “Bỏ những mảnh đó ra cũng chẳng ích gì,” cậu nói. “Vừa có một cơn bão. Cát bao phủ lều. Con sẽ dọn dẹp để chúng ta sớm ra khỏi đây.” “Vẫn không có dấu hiệu gì của Duncan à?” “Không.” Paul lơ đãng cọ vào ấn Công tước trên ngón tay cái, toàn thân cậu run lên vì cơn giận dữ đột ngột đối với cái tinh chất của
hành tinh này, nó đã giúp bọn chúng giết cha cậu. “Mẹ nghe thấy bão bắt đầu nổi lên,” Jessica nói. Sự trống rỗng, không đòi hỏi trong lời của nàng giúp cậu trấn tĩnh phần nào. Tâm trí cậu tập trung vào cơn bão khi cậu nhìn thấy nó bắt đầu nổi lên qua tấm vách trong suốt của căn lều - những dòng cát nhỏ giọt lạnh lẽo tạt qua vùng trũng, sau đó những dòng nhỏ và đuôi cát tạo thành những luống cày trên nền trời. Cậu nhìn lên đỉnh khối đá, thấy nó thay đổi hình dạng dưới luồng gió, biến thành một cái nêm thấp có màu vàng đậm như pho
mát. Một dòng cát màu cà ri mờ đục luồn qua cái khe hình phễu tuôn vào khu vực trũng chỗ họ dựng lều, làm tối sầm cả bầu trời, sau đó che phủ toàn bộ ánh sáng khi chiếc lều bị cát vùi lấp. Rồi phần trước căn lều kêu cót két khi hứng chịu áp lực - im lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng khò khè yếu ớt như ống bễ phát ra từ cái ống thông hơi của họ đang bơm không khí từ trên bề mặt xuống. “Thử lại máy thu xem,” Jessica nói. “Không dùng được,” cậu nói. Cậu tìm ống dẫn nước của bộ sa phục
trong chiếc kẹp nằm ở cổ, hút một ngụm ấm áp vào miệng, và nghĩ rằng ở đây cậu thực sự bắt đầu sống đúng theo cách của dân Arrakeen - sống nhờ hơi ẩm tái chế từ chính hơi thở và cơ thể mình. Nước nhạt thếch chán ngắt, nhưng làm dịu cổ họng. Jessica nghe tiếng Paul uống nước, cảm thấy sự trơn mượt của bộ sa phục bám vào cơ thể, nhưng nàng từ chối chấp nhận cơn khát của mình. Việc chấp nhận cơn khát sẽ buộc nàng ý thức đầy đủ về những nhu cầu khủng khiếp ở Arrakis, nơi họ phải bảo vệ ngay cả những lượng hơi ẩm cực nhỏ, dành dụm vài giọt hơi ẩm trong những chiếc túi hứng của căn
lều, bực bội khi lãng phí một hơi thở ra ngoài không khí. Buông mình trôi vào giấc ngủ thì dễ hơn nhiều. Nhưng nàng đã có một giấc mơ trong giấc ngủ ngày, và rùng mình khi nhớ về nó. Trong mơ, nàng giữ đôi bàn tay bên dưới dòng cát nơi một cái tên đã được viết ra: Công tước Leto Atreides. Cái tên mờ đi theo cát và nàng di chuyển để khôi phục nó, nhưng chữ cái cuối cùng chưa kịp bắt đầu thì chữ đầu tiên đã bị lấp mất. Cát không ngừng trôi.
Giấc mơ của nàng biến thành tiếng kêu khóc: càng lúc càng to. Tiếng kêu khóc kỳ cục đó - một phần tâm trí nàng nhận ra âm thanh này là giọng nói của chính nàng khi nàng còn bé tí, chỉ lớn hơn đứa bé sơ sinh một chút. Một người đàn bà không nhìn thấy rõ trong trí nhớ đang rời đi. Người mẹ mà ta không được biết, Jessica nghĩ. Người Bene Gesserit đã sinh ra ta và trao ta cho các Nữ tu vì bà được lệnh phải làm thế. Liệu bà có vui mừng khi thoát khỏi một đứa trẻ Harkonnen không? “Nơi để tấn công bọn họ là trong hương
dược,” Paul nói. Sao thằng bé lại có thể nghĩ về việc tấn công tại một thời điểm như lúc này? Nàng tự hỏi. “Cả một hành tinh chứa đầy hương dược,” nàng nói, “con có thể tấn công bọn chúng bằng cách nào đây?” Nàng nghe cậu cựa quậy, nghe thấy tiếng chiếc ba lô bị kéo lê trên nền lều. “Trên Caladan là sức mạnh của biển và sức mạnh không trung,” cậu nói. “Ở đây, đó là sức mạnh sa mạc. Người Fremen chính là chìa khóa.”
Giọng cậu phát ra gần chiếc van bịt cửa. Bằng sự huấn luyện Bene Gesserit, nàng cảm thấy trong giọng cậu có sự gay gắt nhưng không cương quyết đối với nàng. Suốt đời nó đã được huấn luyện phải căm thù Harkonnen, nàng nghĩ. Giờ đây, nó nhận ra nó là Harkonnen... vì ta. Thằng bé biết quá ít về ta! Ta là người đàn bà duy nhất của Công tước. Ta chấp nhận sự sống và những giá trị của nó thậm chí bất chấp mệnh lệnh Bene Gesserit. Phím sáng của căn lều bừng sáng dưới tay Paul, tỏa ánh xanh rực rỡ tràn ngập
vùng không gian hình vòm của căn lều. Paul cúi xuống cái van bịt cửa, điều chỉnh mũ trùm đầu bộ sa phục để thích ứng với vùng sa mạc trống - trán được bịt kín, miệng gắn bộ lọc đâu vào đó, phích cắm vào mũi được điều chỉnh. Chỉ có đôi mắt đen là để hở: một khoảng hẹp của khuôn mặt hướng về phía nàng một lần rồi quay đi. “Mẹ hãy tự bảo vệ mình để con mở cửa,” cậu nói, giọng nghe không rõ dưới bộ lọc. Jessica đưa bộ lọc lên miệng, bắt đầu điều chỉnh chiếc mũ khi thấy Paul mở miếng bịt căn lều.
Cát rít lên chói tai khi cậu mở van bịt cửa và những hạt cát kêu xì xì chảy tràn vào lều trước khi cậu có thể ngăn lại bằng dụng cụ nén cát. Một cái hố to dần lên trong bức tường cát khi dụng cụ nén gom cát lại. Cậu trườn ra ngoài, và tai nàng dõi theo quá trình cậu tiến lên bề mặt cát. Chúng ta sẽ tìm thấy cái gì ngoài đó? nàng tự hỏi. Quân đoàn Harkonnen và Sardaukar là những mối nguy chúng ta có thể nghĩ tới. Nhưng còn những mối nguy nào mà chúng ta không biết đây? Nàng nghĩ về cái dụng cụ nén cát và
những thiết bị kỳ lạ khác trong ba lô. Mỗi món đồ trong những thứ dụng cụ đó đột nhiên hiện rõ trong tâm trí nàng như dấu hiệu của những mối hiểm nguy bí ẩn. Sau đó nàng cảm thấy một luồng gió nóng từ cát trên bề mặt phả vào hai má, chỗ bị lộ ra phía trên bộ lọc. “Đưa ba lô lên đây.” Đó là giọng Paul, nghe nhỏ và thận trọng. Nàng di chuyển theo lời Paul, lắng nghe tiếng nước óc ách trong hai chiếc bình khi nàng đẩy mạnh chiếc ba lô ngang nền căn lều. Nàng nhìn lên, thấy hình dáng Paul nổi bật dưới những vì sao.
“Con ở đây,” cậu nói và với tay xuống, kéo chiếc ba lô lên bề mặt. Lúc này nàng chỉ nhìn thấy một vòng tròn sao. Chúng giống như những đầu vũ khí phát sáng nhắm vào nàng. Một vệt sao băng bay ngang qua vùng tối trên đầu. Đối với nàng những ngôi sao băng đó giống như lời cảnh báo, giống những đường vằn vện trên mình con hổ, giống các thanh màu tối tỏa ánh dạ quang làm máu nàng như sánh lại. Và nàng cảm thấy sự giá lạnh của cái giải thưởng trao cho ai lấy được đầu hai mẹ con. “Nhanh lên,” Paul nói. “Con muốn gấp
lều lại.” Một cơn mưa cát từ bề mặt đổ xuống tay trái nàng. Tay ta có thể giữ được bao nhiêu cát? nàng tự hỏi. “Có cần con giúp không?” Paul hỏi. “Không.” Nàng nuốt khan, trượt vào trong hốc, cảm thấy cát tĩnh điện lạo xạo dưới tay. Paul với xuống, nắm lấy cánh tay mẹ. Nàng đứng bên cạnh con trên một vùng sa mạc bằng phẳng phơi mình dưới ánh sao, chăm chú nhìn xung quanh. Cát gần như lấp đầy vùng trũng nơi họ trú ẩn, chỉ
chừa ra một đường viền mờ mờ của khối đá bao quanh. Nàng thăm dò vùng bóng tối xa hơn bằng những giác quan được huấn luyện. Có tiếng động của những loài thú nhỏ. Những con chim. Cát đổ ập xuống và có tiếng kêu yếu ớt của những loài sinh vật ở trong cát. Paul gấp gọn lều, đặt trở lại vào phía trên chiếc hốc. Ánh sao thế chỗ bóng đêm chỉ vừa đủ để khiến mỗi cái bóng đều có vẻ đầy hung
hiểm. Nàng nhìn những vùng bóng tối. Màu đen là trí nhớ mù lòa, nàng nghĩ. Ta lắng nghe tiếng sủa của bầy chó săn, nghe tiếng la hét của những người săn đuổi tổ tiên ta trong một quá khứ xa xưa đến nỗi chỉ những tế bào nguyên thủy nhất của ta là còn nhớ được. Đôi tai lắng nghe. Lỗ mũi đánh hơi. Ngay sau đó, Paul đến đứng cạnh mẹ rồi nói: “Duncan nói với con rằng nếu bị bắt, anh ấy có thể chịu đựng... lâu chừng này. Chúng ta phải rời khỏi đây ngay.” Cậu đeo ba lô lên vai, đi đến mép thấp của vùng trũng, trèo lên một cái gờ nhìn xuống sa mạc trơ trụi.
Jessica tự động theo sau, nhận thấy bây giờ nàng đang sống trong quỹ đạo của con trai. Đến bây giờ, nỗi thương tiếc của ta nặng hơn cả cát của nhiều biển cả, nàng nghĩ. Cái thế giới này đã rút cạn của ta mọi thứ ngoại trừ cái mục đích cổ xưa nhất: cuộc sống của ngày mai. Bây giờ ta sống vì Công tước bé nhỏ và đứa con gái chưa chào đời. Nàng cảm thấy cát kéo chân nàng lại khi trèo lên đứng cạnh Paul. Cậu nhìn về phía Bắc qua dãy đá lớn,
quan sát một vách núi dựng đứng ở đằng xa. Hình bóng vách núi đằng xa trông như một chiến hạm cổ xưa trên biển cả nổi bật dưới những vì sao. Tiếng rít dài của nó cất lên trên một làn sóng vô hình với những âm tiết của cái ăng ten bu mê rang, những ống khói cong về phía sau theo hình cung, phần đuôi chiến hạm trồi lên có hình pi. Một ánh sáng màu cam bùng lên trên vách đá và một đường màu tía rực rỡ cắt xuống phía ánh sáng cam. Thêm một đường màu tía khác!
Thêm một ánh sáng màu cam bùng lên! Trông giống như một trận thủy chiến thời xưa, giống ánh lửa đạn pháo, và họ nhìn chằm chằm vào đó. “Những cột lửa,” Paul thì thầm. Một vòng tròn mắt đỏ nhô lên trên vách đá phía xa. Những vạch màu tía tạo thành đường viền trên bầu trời. “Vòi phụt lửa và súng laze,” Jessica nói. Mặt trăng đầu tiên đỏ ửng màu phấn hoa của Arrakis nhô lên trên đường chân trời
phía trái và họ nhìn thấy ở đó có vệt bão - một dải chuyển động trên sa mạc. “Chắc đó là những tàu Harkonnen đang săn lùng chúng ta,” Paul nói. “Cái kiểu chúng cắt sa mạc ra từng mảnh... như thể chúng muốn nghiền nát cho bằng được bất cứ thứ gì ở đó... giống như mẹ nghiền nát một tổ côn trùng.” “Hoặc một sào huyệt Atreides,” Jessica nói. “Chúng ta phải kiếm chỗ ẩn nấp,” Paul nói. “Chúng ta sẽ đi về phía Nam và men theo đá. Nếu bọn chúng bắt gặp hai mẹ con ta trong vùng trống...” Cậu quay
người, xốc lại ba lô trên vai. “Bọn chúng sẽ giết chết bất cứ thứ gì chuyển động.” Cậu vừa bước thêm một bước dọc theo gờ đá thì, ngay lúc đó, nghe thấy tiếng xì xì khe khẽ của những con tàu đang lướt đi, nhìn thấy những cái bóng tàu tối sẫm bên trên họ.
Một lần cha nói với ta rằng lòng tôn trọng sự thật đang tiến gần tới chỗ trở thành nền tảng của mọi giáo lý. “Không điều gì có thể hiện ra từ con số không,” Người nói. Đây là suy nghĩ thâm sâu nếu người ta hiểu được “sự thật” có thể không ổn định đến thế nào. - trích “Đàm luận với Muad’Dib” của Công chúa Irulan “Tôi luôn luôn tự hào vì mình có thể nhìn nhận vấn đề theo đúng bản chất của chúng,” Thufir Hawat nói. “Đó là một lời nguyền khi trở thành Mentat. Anh
không thể ngừng phân tích dữ liệu.” Khi ông nói, gương mặt già nua thô kệch có vẻ điềm tĩnh trong ánh sáng lờ mờ trước lúc rạng đông. Đôi môi nhuốm màu sapho mím lại thành một đường thẳng với những nếp nhăn tỏa ra phía trên. Một người mặc áo choàng im lặng ngồi chồm hỗm trên cát đối diện Hawat, hình như lời Hawat nói không làm ông ta nhúc nhích. Hai người ngồi xổm bên dưới vòm đá trông xuống một vùng đất thấp rộng lớn. Bình minh đang lan rộng trên những vách núi lởm chởm phía bên kia lòng chảo,
phủ màu hồng lên mọi vật. Bên dưới vòm đá không khí rất lạnh, một cái lạnh khô thấu xương còn lại từ ban đêm. Ngay trước lúc bình minh vừa có một cơn gió ấm áp nhưng bây giờ thì gió cũng lạnh rồi. Hawat có thể nghe thấy từ phía sau tiếng răng đánh vào nhau lập cập của những chiến binh còn lại trong đội quân của ông. Người đàn ông ngồi xổm đối diện Hawat là một người Fremen đã vượt qua vùng đất thấp trong tia sáng đầu tiên của bình minh giả tạo, lướt nhanh trên cát, lẫn vào những đụn cát, gần như không để ai nhìn thấy chuyển động của ông ta.
Người Fremen chĩa một ngón tay xuống dải cát ở giữa họ, vẽ một hình lên trên. Trông hình vẽ giống chiếc bát có một mũi tên từ trong bay ra. “Có rất nhiều đội tuần tra của bọn Harkonnen,” ông ta nói. Ông ta nhấc ngón tay, chỉ lên phía những vách núi mà Hawat và đám thuộc hạ đã đi xuống. Hawat gật đầu. Rất nhiều đội tuần tra. Đúng thế. Nhưng ông vẫn không hiểu người Fremen này muốn gì và việc này làm ông khổ sở. Người ta cho rằng sự huấn luyện Mentat trao cho một người khả năng hiểu rõ
những động cơ. Đây là đêm tồi tệ nhất trong đời Hawat. Ông đang ở Tsimpo, một thị trấn đồn trú, một khu đệm cho thành phố thủ đô trước đây - Carthag, thì bắt đầu nhận được những bản báo cáo về cuộc tấn công. Đầu tiên, ông nghĩ: Đó là một cuộc đột kích. Bọn Harkonnen đang thử nghiệm. Nhưng báo cáo nối tiếp báo cáo - ngày càng dồn dập hơn. Hai quân đoàn đổ bộ vào Carthag. Năm quân đoàn - năm mươi lữ đoàn! - tấn công căn cứ chính của Công tước tại
Arrakeen. Một quân đoàn ở Arsunt. Hai chiến đoàn ở Đá Vụn. Sau đó các báo cáo ngày càng chi tiết hơn - có quân Sardaukar của Hoàng đế trong lực lượng tấn công - có khả năng là hai quân đoàn Sardaukar. Và có thể thấy rõ bọn xâm lược biết chính xác phải gửi bao nhiêu quân đến đâu. Chính xác! Thật là tính toán như thần. Cơn thịnh nộ điên cuồng của Hawat đã dâng lên tới mức đe dọa chức năng ôn hòa của năng lực Mentat. Quy mô của
cuộc tấn công giáng vào tâm trí ông như một cú đòn thô bạo giáng vào thể xác ông. Lúc này, trốn dưới một đống đá sa mạc, ông gật đầu với chính mình, quấn chặt chiếc áo choàng nát tươm, bị chém rách tả tơi quanh mình như để né tránh những cái bóng lạnh lẽo. Quy mô của cuộc tấn công. Ông vẫn luôn cho rằng kẻ thù sẽ thuê ngắn hạn một chiếc tàu hàng của Hiệp hội để tiến hành những cuộc đột kích thăm dò. Đó là nước cờ thí tốt khá thông thường trong kiểu chiến tranh Gia tộc với
Gia tộc này. Các tàu hàng đều đặn hạ và cất cánh trên Arrakis để vận chuyển hương dược cho Gia tộc Atreides. Hawat đã tiên liệu các biện pháp chống trả những cuộc đột kích hú họa từ những con tàu chở hương dược giả mạo. Nếu chúng có thực sự tấn công thì cùng lắm cũng chỉ mười lữ đoàn. Nhưng đã có tới hơn hai nghìn tàu chiến hạ cánh xuống Arrakis ở lần thông kê cuối cùng - không chỉ có tàu hàng mà cả tàu chiến, tàu do thám, tàu thiết giáp, tàu nghiền, tàu chở quân, tàu trút... Có nhiều hơn một trăm lữ đoàn - những mười quân đoàn!
Toàn bộ thu nhập từ hương dược của Arrakis trong năm mươi năm có thể chỉ đủ để trả giá cho một sự liều lĩnh đến thế. Có thể lắm chứ. Ta đã đánh giá quá thấp những gì tên Nam tước sẵn sàng bỏ ra cho cuộc tấn công, Hawat nghĩ. Ta đã làm Công tước thất vọng. Lại còn chuyện tên phản bội nữa. Ta sẽ sống đủ lâu để nhìn thấy mụ ta bị bóp cổ! ông nghĩ. Lẽ ra ta nên giết mụ
phù thủy Bene Gesserit đó ngay khi có cơ hội. Trong tâm trí ông không còn gì nghi ngờ về danh tính kẻ phản bội - Lệnh bà Jessica. Mụ ta khớp với tất cả những sự việc xảy ra. “Gurney Halleck, thuộc hạ của ông, và một nhóm trong đội quân của ông ta vẫn an toàn cùng với những người bạn buôn lậu của chúng ta,” người Fremen nói. “Tốt.” Vậy là Gurney sẽ thoát khỏi cái hành tinh địa ngục này. Chúng ta sẽ không chết hết.
Hawat liếc đám thuộc hạ ở đằng sau. Mới đêm qua ông hãy còn ba trăm thuộc hạ giỏi nhất. Giờ thì số đó chỉ còn lại hai mươi người, một nửa bị thương. Lúc này vài người đã ngủ, người đứng, kẻ dựa vào vách đá, kẻ nằm ườn trên cát dưới tảng đá. Chiếc tàu cuối cùng của họ, chiếc tàu họ đã sử dụng như thiết bị hiệu ứng đất chở những người bị thương, thì đã hỏng từ trước rạng đông. Họ đã cắt nó ra bằng súng laze rồi giấu các mảnh vỡ đi, sau đó thì lên đường đến nơi ẩn trốn tại rìa vùng trũng này. Hawat chỉ biết đại khái về vị trí của họ - cách Arrakeen khoảng hai trăm ki lô mét về phía Đông Nam. Những con đường
giao thông chính giữa các cộng đồng sietch ở Tường Chắn nằm đâu đó phía Nam họ. Người Fremen đối diện Hawat lật mũ trùm đầu và mũ sa phục ra đằng sau để lộ mái tóc và chòm râu màu cát. Tóc ông ta chải hất ra sau, phô ra cái trán cao và hẹp. Ông ta có đôi mắt toàn màu xanh do chế độ ăn nhiều hương dược, đôi mắt khiến người đối diện khó đoán được suy nghĩ hay cảm xúc của ông ta. Một bên râu và ria mép bị vấy bẩn, tóc ở đó rối lại do sức ép của cái ống hứng cong từ các phích cắm mũi dẫn ra. Người đàn ông tháo các phích cắm, điều
chỉnh lại. Ông ta xoa lên vết sẹo cạnh mũi. “Nếu tối nay ông đi qua sink ở đây,” người Fremen nói, “ông không được dùng những tấm chắn bảo vệ. Có một chỗ nứt trong bức tường...” Ông ta xoay người bằng gót chân, chỉ về phía Nam. “... ở đó, có cát lộ thiên chảy xuống erg. Những tấm chắn bảo vệ sẽ thu hút một...”, ông ta ngập ngừng, “... con sâu cát. Bọn sâu cát không thường tới đây, nhưng cứ kích hoạt tấm chắn là sẽ có con mò đến.” Ông ta nói sâu cát, Hawat nghĩ. Ông ta định nói về một điều khác. Là cái gì?
Ông ta muốn nói gì với chúng ta? Hawat thở dài. Ông không thể nhớ nổi mình đã bao giờ mệt mỏi thế này chưa. Cơ bắp ông mệt lử đến nỗi những viên thuốc trợ lực cũng không thể làm chúng thư giãn. Lũ Sardaukar đáng nguyền rủa! Với nỗi cay đắng tự buộc tội mình, ông đối mặt với ý nghĩ về những tên lính cuồng tín và sự phản bội của Đế quốc mà bọn chúng là hiện thân. Cách đánh giá dữ liệu kiểu Mentat của ông nói với ông rằng ông chẳng có mấy cơ hội trưng
những bằng chứng về sự phản bội này ra trước Hội đồng Cấp cao Landsraad, nơi công lý có thể được thực thi. “Ông có muốn đến chỗ những người buôn lậu không?” người Fremen hỏi. “Có thể đến đó sao?” “Đường đến đó rất dài.” “Người Fremen không thích nói từ không,” một lần Idaho đã nói với ông như thế. Hawat nói: “Ông vẫn chưa cho tôi biết liệu người của ông có giúp được những
người bị thương của tôi hay không.” “Họ bị thương.” Lần nào cũng cái câu trả lời chết tiệt ấy! “Chúng tôi biết họ bị thương!” Hawat cáu kỉnh. “Chuyện đó không...” “Yên lặng đi nào, ông bạn,” người Fremen cảnh cáo. “Những người bị thương của ông nói gì? Trong bọn họ, ai có thể nhận ra nhóm của ông thiếu nước không?” “Chúng ta không bàn về nước,” Hawat
nói. “Chúng ta...” “Tôi không thể hiểu sự do dự của ông,” người Fremen nói. “Họ là bạn ông, thành viên trong nhóm của ông. Ông có nước không?” “Không đủ.” Người Fremen chỉ vào quân phục của Hawat, làn da lộ ra dưới lớp áo. “Ông bị mắc kẹt trong sietch mà không mang theo sa phục. Ông phải đưa ra một quyết định nước, ông bạn ạ.” “Chúng tôi có thể thuê ông giúp không?”
Người Fremen nhún vai. “Ông không có nước.” Ông ta liếc nhóm người đằng sau Hawat. “Ông sẽ dành cho tôi mấy người trong số người bị thương của ông?” Hawat im lặng, nhìn ông ta chằm chằm. Là một Mentat, ông có thể thấy sự giao tiếp giữa họ thật lệch pha. Ở đây những âm thanh trong lời nói không được kết nối theo một thể thức bình thường. “Tôi là Thufir Hawat,” ông nói. “Tôi có thể phát ngôn thay Công tước. Bây giờ tôi sẽ đưa ra cam kết dành cho sự giúp đỡ của ông. Tôi muốn một hình thức giúp đỡ hạn chế, bảo tồn lực lượng của tôi chỉ cần trong khoảng thời gian đủ dài để tôi
giết một kẻ phản bội, mụ ta nghĩ không ai báo thù mụ được.” “Ông muốn tôi đứng về phía ông trong một mối thù truyền kiếp?” “Cái mối thù truyền kiếp đó tôi sẽ tự tay xử lý. Tôi muốn được rảnh trách nhiệm với những người bị thương để có thể giải quyết chuyện này.” Người Fremen giận dữ. “Ông có thể chịu trách nhiệm về những người bị thương của mình như thế nào đây? Họ chịu trách nhiệm về chính mình. Chúng ta đang bàn về chuyện nước, Thufir Hawat. Phải chăng ông muốn tôi miễn cho ông việc tự
mình quyết định?” Người đàn ông đặt tay lên vũ khí giấu dưới áo choàng. Hawat căng thẳng, băn khoăn: Có sự phản bội nào ở đây không? “Ông sợ gì?” người Fremen hỏi. Bọn người này và cái tính thẳng thắn đến mức khiến người ta phải bối rối của họ! Hawat nói thận trọng: “Người ta treo giải thưởng cho cái đầu của tôi.” “Ái chà chà.” Người Fremen bỏ tay ra khỏi vũ khí. “Ông nghĩ chúng tôi có sự
tham nhũng của đế quốc La Mã phương Đông. Ông không hiểu chúng tôi. Bọn Harkonnen không có đủ nước để mua dù chỉ một đứa bé nhỏ nhất của chúng tôi đâu.” Nhưng bọn chúng có tiền thuê Hiệp hội vận chuyển hơn hai nghìn tàu chiến, Hawat nghĩ. Và cái mức giá đó vẫn làm ông choáng váng. “Cả hai chúng ta đều chiến đấu chống bọn Harkonnen,” Hawat nói. “Chẳng lẽ chúng ta không nên chia sẻ những vấn đề và cách giải quyết vấn đề đang tranh luận sao?”
“Chúng ta đang chia sẻ đây,” người Fremen nói. “Tôi vừa trông thấy ông đánh nhau với bọn Harkonnen. Ông giỏi lắm. Có nhiều lúc tôi sẽ rất cảm kích nếu có được cánh tay của ông ở bên cạnh.” “Hãy nói cánh tay của tôi có thể giúp ông ở đâu,” Hawat nói. “Ai biết được?” người Fremen hỏi. “Quân đội Harkonnen có mặt khắp nơi. Nhưng ông vẫn chưa đưa ra quyết định nước hoặc trao nó cho những người bị thương.” Ta phải thận trọng, Hawat tự nhủ. Ở đây có điều gì đó ta chưa hiểu.
Hawat nói: “Ông sẽ chỉ cho tôi con đường của ông, con đường Arrakeen chứ?” “Suy nghĩ của người lạ,” người Fremen nói, giọng toát lên vẻ chế nhạo. Ông ta chỉ về phía Tây Bắc bên kia đỉnh núi. “Tối qua chúng tôi đã theo dõi ông đi qua vùng cát.” Ông ta hạ cánh tay xuống. “Ông để quân của mình đi trên bề mặt trơn trượt của những đụn cát. Thật tệ. Ông không có sa phục, không có nước. Ông sẽ không trụ lâu được.” “Tới những con đường ở Arrakis không dễ dàng,” Hawat nói.
“Đúng thế. Nhưng chúng ta vừa giết bọn Harkonnen.” “Ông làm gì với những người bị thương của mình?” Hawat hỏi. “Chẳng lẽ một người không biết khi nào anh ta đáng được cứu ư?” người Fremen hỏi. “Những người bị thương của ông biết ông không có nước.” Ông ta nghiêng đầu, ngước sang một bên nhìn chếch vào Hawat. “Rõ ràng đây là thời điểm ra quyết định nước. Cả những người bị thương lẫn người không bị thương phải hướng về tương lai cả nhóm.”
Tương lai cả nhóm, Hawat nghĩ. Nhóm người Atreides. Có một ý nghĩa ở trong đó. Ông buộc mình hỏi câu hỏi mà ông đang trốn tránh. “Ông có tin gì về Công tước hay con trai ngài không” Đôi mắt màu-xanh-trong-màu-xanh nhìn chằm chằm vào Hawat. “Tin gì?” “Số phận của họ!” Hawat cáu kỉnh. “Mọi người đều chung một số phận,” người Fremen nói. “Người ta nói Công tước của ông đã tiếp nhận số phận ngài. Còn Lisan al-Gaib con trai ngài thì nằm
trong tay Liet. Liet không nói gì cả.” Ta đã biết câu trả lời mà không cần hỏi, Hawat nghĩ. Ông liếc đám thuộc hạ ở phía sau. Lúc này tất cả bọn họ đều thức. Họ đã lắng nghe. Họ đang nhìn chằm chằm qua dải cát với nét mặt cho thấy họ hiểu rất rõ: không có đường cho họ quay trở về Caladan, còn bây giờ thì Arrakis cũng không còn nữa. Hawat quay lại người Fremen. “Ông có biết tin gì về Duncan Idaho không?” “Anh ta đang ở trong ngôi nhà lớn khi
tấm chắn bảo vệ bị ngắt,” người Fremen nói. “Tôi chỉ nghe được có vậy... không hơn.” Mụ ta đã ngắt tấm chắn bảo vệ và cho bọn Harkonnen vào, ông nghĩ. Ta là người luôn ngồi quay lưng ra cửa. Làm sao mụ có thể làm chuyện đó khi nó cũng có nghĩa là chống lại chính con của mình? Nhưng... ai mà biết một mụ phù thủy Bene Gesserit suy nghĩ thế nào chứ... nếu người ta có thể gọi đó là suy nghĩ? Hawat cố nuốt nước bọt trong cổ họng khô khốc. “Khi nào ông sẽ biết tin tức về thằng bé?”
“Chúng tôi không biết gì nhiều về những chuyện xảy ra ở Arrakeen,” người Fremen nói. Ông ta nhún vai. “Ai biết được?” “Ông có cách nào tìm ra không?” “Có thể.” Người Fremen xoa xoa chiếc sẹo cạnh mũi. “Hãy cho tôi biết, Thufir Hawat, ông có kiến thức về những vũ khí hạng nặng bọn Harkonnen đã sử dụng chứ?” Trọng pháo, Hawat cay đắng nghĩ. Ai mà đoán được bọn chúng lại sử dụng pháo trong thời đại tấm chắn này cơ chứ?
“Ông muốn nói loại pháo chúng đã sử dụng làm lính của chúng tôi mắc kẹt ở trong hang,” Hawat nói. “Tôi có kiến thức... lý thuyết về những vũ khí nổ như thế.” “Bất cứ kẻ nào rút lui vào một cái hang chỉ có một lối vào thì đều đáng chết,” người Fremen nói. “Tại sao ông hỏi về những vũ khí hạng nặng?” “Liet muốn có chúng.” Liệu đó có phải điều ông ta muốn tìm
hiểu từ bọn ta? Hawat băn khoăn. Ông nói: “Có phải ông đến đây để tìm kiếm thông tin về những khẩu súng lớn?” “Liet muốn có một trong các vũ khí hạng nặng.” “Thì các anh cứ đi mà lấy một cái,” Hawat châm chọc. “Có chứ,” người Fremen nói. “Chúng tôi lấy một cái rồi. Chúng tôi giấu nó ở nơi mà Stilgar có thể nghiên cứu cho Liet và Liet có thể đích thân xem xét nó nếu ông ấy muốn. Nhưng tôi không nghĩ là ông ấy sẽ muốn xem: vũ khí này không phải thứ tốt. Kiểu dáng tồi đối với Arrakis.”
“Các anh... lấy một cái rồi?” Hawat hỏi. “Một trận chiến thật tuyệt,” người Fremen nói. “Chúng tôi chỉ mất hai thuộc hạ nhưng lại làm hơn một trăm người bọn chúng phải đổ nước.” Quanh khẩu pháo nào cũng có bọn Sardaukar, Hawat thầm nghĩ. Cái gã điên xứ sa mạc này nói ráo hoảnh về chuyện chỉ mất hai thuộc hạ trong cuộc chiến với bọn Sardaukar! “Giá như không có những kẻ khác chiến đấu bên cạnh bọn Harkonnen thì chúng tôi đã không mất hai người,” người
Fremen nói. “Vài tên trong số chúng là những chiến binh cừ khôi.” Một thuộc hạ của Hawat khập khiễng tiến lên, nhìn xuống người Fremen đang ngồi xổm trên cát. “Ông đang nói về quân Sardaukar phải không?” “Ông ta đang nói về quân Sardaukar,” Hawat nói. “Sardaukar!” người Fremen nói, dường như trong giọng toát lên niềm vui sướng. “Chà chà, thì ra bọn chúng là Sardaukar! Đây thực sự là một đêm tuyệt vời. Sardaukar. Quân đoàn nào vậy? Ông có biết không?”
“Chúng tôi... không biết,” Hawat nói. “Sardaukar,” người Fremen trầm ngâm. “Tuy nhiên bọn chúng mặc trang phục Harkonnen. Điều đó không lạ sao?” “Hoàng đế không muốn người ta biết ngài đang chống lại một Đại Gia tộc,” Hawat nói. “Nhưng ông biết bọn chúng là Sardaukar.” “Tôi là ai chứ?” Hawat chua chát hỏi. “Ông là Thufir Hawat,” ông ta nói thản
nhiên. “Được rồi, sớm muộn gì chúng tôi cũng sẽ biết thôi. Chúng tôi vừa gửi ba tên tù binh Sardaukar cho người của Liet thẩm tra.” Sĩ quan phụ tá của Hawat nói chậm rãi, vẻ hoài nghi lộ rõ trong từng lời: “Ông... bắt được quân Sardaukar?” “Chỉ ba tên thôi,” người Fremen nói. “Bọn chúng đánh nhau cũng cừ.” Giá như chúng ta có thời gian để liên kết với những người Fremen này, Hawat nghĩ. Đó là một lời than vãn chua chát trong đầu ông. Mẹ Vĩ đại ơi, giá như chúng ta có thể huấn luyện và
trang bị vũ khí cho họ thì chúng ta đã có một lực lượng chiến binh cừ khôi đến cỡ nào! “Có lẽ ông đang trì hoãn vì lo lắng cho Lisan al-Gaib,” người Fremen nói. “Nếu cậu bé thực sự là Lisan al-Gaib thì không gì có thể hại cậu ta. Đừng mất công suy nghĩ về một vấn đề chưa được chứng minh.” “Tôi phục vụ... Lisan al-Gaib,” Hawat nói. “An toàn tính mạng của Người là mối quan tâm của tôi. Tôi nguyện xả thân mình vì điều đó.” “Ông nguyện xả thân vì nước của Lisan
al-Gaib?” Hawat liếc sang tay sĩ quan phụ tá, anh ta vẫn đang nhìn chằm chằm vào người Fremen, rồi ông hướng về phía dáng người đang ngồi xổm. “Vì nước của Người, đúng thế.” “Ông muốn quay trở về Arrakeen, đến nơi có nước của Người?” “Đến... đúng thế, đến nơi có nước của Người.” “Tại sao ông không nói ngay từ đầu đó là một vấn đề nước?” Người Fremen đứng lên, gắn chặt phích cắm vào mũi.
Hawat hất đầu ra hiệu cho sĩ quan phụ tá quay lại chỗ đám quân. Viên sĩ quan mệt mỏi nhún vai tuân lệnh. Hawat nghe thấy trong đám thuộc hạ có tiếng rì rầm bàn tán. Người Fremen nói: “Luôn có một con đường đi đến nước.” Đằng sau Hawat, một thuộc hạ chửi thề. Viên sĩ quan gọi: “Thufir! Arkie chết rồi.” Người Fremen đặt một nắm tay lên tai. “Giao kèo nước! Đó là một dấu hiệu!”
Ông ta chăm chú nhìn Hawat. “Chúng tôi có một nơi tiếp nhận nước ở gần đây. Tôi gọi người của mình nhé?” Viên sĩ quan quay lại đứng cạnh Hawat rồi nói: “Thufir ạ, có hai thuộc hạ để vợ lại Arrakeen. Họ... ồ, ông biết chuyện đó là như thế nào tại một thời điểm như lúc này đấy.” Người Fremen vẫn để nắm tay ở tai. “Đây có phải một giao kèo nước không Thufir Hawat?” ông ta hỏi. Đầu óc Hawat làm việc liên tục như đang chạy đua. Lúc này ông đã cảm nhận được cái ngụ ý trong lời nói của người
Fremen, nhưng ông sợ đám thuộc hạ mệt mỏi đứng dưới vòm đá sẽ phản ứng khi họ hiểu ra ngụ ý này. “Một giao kèo nước,” Hawat nói. “Hãy để người của chúng tôi tham gia,” người Fremen nói, hạ thấp nắm tay xuống. Như thể đó là một tín hiệu, có bốn người vừa trượt vừa thả người xuống từ những tảng đá phía trên đầu họ. Họ lao xuống dưới vòm đá, cuộn người chết vào một chiếc áo choàng rộng thùng thình, kéo anh ta lên rồi bắt đầu vác cái xác chạy dọc theo bức tường đá về bên phải. Bụi
cuốn mù mịt theo những bước chạy của họ. Sự việc kết thúc trước khi đám thuộc hạ mệt mỏi của Hawat kịp trấn tĩnh. Nhóm người đó chạy một vòng trên vách đá, mang theo cái xác thõng xuống như cái bao bọc trong chiếc áo choàng. Một thuộc hạ của Hawat kêu lên: “Bọn họ mang Arkie đi đâu thế? Anh ta...” “Họ mang anh ta đi... chôn,” Hawat nói. “Người Fremen không chôn người chết!” anh ta quát lên. “Đừng có cố lừa bịp chúng tôi, Thufir. Chúng tôi biết họ đang
làm cái gì. Arkie là người của...” “Thiên đường chắc chắn dành cho người nào hy sinh vì phục vụ Lisan al-Gaib,” người Fremen nói. “Nếu các anh đang phục vụ chính Lisan al-Gaib như các anh vừa nói, thì tại sao phải cất tiếng khóc thương? Ký ức về người hy sinh cho mục đích cao cả này sẽ sống mãi chừng nào trí nhớ của con người còn tồn tại.” Nhưng đám thuộc hạ của Hawat vẫn tiến lên, khuôn mặt giận dữ. Một người lính đoạt được khẩu súng laze. Anh ta bắt đầu rút súng ra. “Đứng nguyên tại chỗ!” Hawat quát. Ông
cố nén nỗi mệt mỏi đang siết chặt các cơ bắp. “Những người này kính trọng người chết của chúng ta. Tập quán khác nhau nhưng ý nghĩa giống nhau.” “Bọn họ sẽ lọc xác Arkie ra để lấy nước,” người lính cầm súng gầm gừ. “Có phải thuộc hạ của ông muốn tham dự buổi lễ?” người Fremen hỏi. Thậm chí ông ta không nhìn ra vấn đề, Hawat nghĩ. Cái ngây thơ của người Fremen thật đáng sợ. “Bọn họ lo lắng cho người bạn đáng kính,” Hawat nói.
“Chúng tôi sẽ đối xử với bạn các người bằng lòng tôn kính như đối xử với chính người của chúng tôi,” người Fremen nói. “Đây là giao kèo nước. Chúng tôi hiểu những nghi thức này. Xương thịt của một người là của chính anh ta; còn nước thì thuộc về bộ tộc anh ta.” Hawat vội nói khi người lính cầm súng tiến thêm bước nữa. “Bây giờ thì ông sẽ giúp đỡ những người bị thương chứ?” “Điều đã cam kết thì chẳng ai thắc mắc,” người Fremen nói. “Chúng tôi sẽ làm cho các vị điều mà một bộ tộc làm cho thành viên của chính họ. Đầu tiên, chúng
tôi phải cho các vị mặc quần áo thích hợp và chăm lo những nhu cầu thiết yếu.” Người lính cầm khẩu súng laze ngập ngừng. Viên sĩ quan phụ tá của Hawat nói: “Chúng ta mua sự giúp đỡ của họ bằng... nước của Arkie phải không?” “Không phải mua,” Hawat nói. “Chúng ta gia nhập những người này.” “Tập quán khác nhau,” một thuộc hạ lẩm bẩm. Hawat thở phào nhẹ nhõm.
“Và họ sẽ giúp chúng ta đến Arrakeen chứ?” “Chúng tôi sẽ giết bọn Harkonnen,” người Fremen nói. Ông ta cười toe toét. “Và cả quân Sardaukar nữa.” Ông ta lùi lại, khum tay thành hình chén bên cạnh hai tai và nghiêng đầu về đằng sau lắng nghe. Ngay sau đó, ông ta hạ thấp tay xuống rồi nói: “Có tàu đến. Hãy trốn dưới tảng đá kia, ngồi yên đó.” Hawat ra hiệu và đám thuộc hạ tuân lệnh. Người Fremen nắm lấy cánh tay Hawat, ép ông quay lại phía sau với những
người khác. “Chúng tôi sẽ đánh trận này,” ông ta nói. Ông ta lần xuống dưới chiếc áo choàng, rút ra một chiếc lồng nhỏ, lấy ra một con vật. Hawat nhận ra một con dơi nhỏ xíu. Con dơi quay đầu lại, và Hawat nhìn thấy một đôi mắt màu-xanh-trong-màu-xanh. Người Fremen vuốt ve con dơi, nựng nịu nó, hát khe khẽ với nó. Ông ta uốn cong đầu con vật lên trên, cho một giọt nước bọt từ miệng ông rơi xuống cái miệng đang chĩa lên của nó. Con dơi giang cánh nhưng vẫn đậu trên bàn tay để mở của người Fremen. Ông ta lấy một chiếc ống bé xíu, gài vào bên đầu con dơi rồi nói liên tục một