phần lớn thời gian trong ngày của họ thật ra chính là những bài tập thể dục? Trừ khi có một cuộc đời vô cùng may mắn, nếu không thì hẳn là bạn đã biết dọn dẹp một căn nhà từ trên xuống dưới là một việc vất vả đến dường nào (đó là lý do không mấy ai trong số chúng ta thật sự làm được chuyện này). Vậy bạn hãy tưởng tượng sẽ mệt mỏi thế nào nếu bạn phải dành vài ngày một tuần để khom lưng lau chùi, bưng bê đồ đạc và hút bụi hơn mười lăm phòng khách sạn, bao gồm cả phòng tắm. Các nhân viên vệ sinh khách sạn này không nhìn nhận công việc của mình như những bài tập thể dục chính thức, vì họ không mướt mồ hôi hoàn thành những công việc này trong phòng gym hoặc trên đường bơi. Nhưng trên thực tế, cường độ vận động hằng ngày của họ vượt xa cường độ vận động tối thiểu mà các bác sĩ khuyến nghị mọi người thực hiện để có một cuộc sống khỏe mạnh. Crum đã chia các nhân viên này thành hai nhóm. Cả hai nhóm đều nhận được các bản mô tả lợi ích của việc tập thể dục, nhưng chỉ có một nhóm được biết họ đã đáp ứng đủ yêu cầu vận động hằng ngày. Đó là toàn bộ sự can thiệp mà Giáo sư Crum đã thực hiện.
105 Bốn tuần sau khi nhận được sự can thiệp về nhận thức đó và không có bất kỳ thay đổi nào khác trong lối sống, những người phụ nữ trong nhóm “biết thông tin” đã hạ được chỉ số huyết áp của họ xuống một cách đáng kể so với nhóm “không biết thông tin”. Họ cũng giảm được vài ký cân nặng, cải thiện tỷ lệ mỡ trong cơ thể cũng như tỷ lệ giữa eo và hông. Một điều chỉnh nhỏ trong cách nhìn nhận vấn đề đã tạo nên một sự khác biệt rất lớn. * Khi mới bắt đầu được đào tạo để trở thành nhà trị liệu tâm lý lâm sàng, tôi đã làm việc như một bác sĩ thực tập tại một phòng khám thuộc trường đại học ở Melbourne, Australia. Khoảng một tuần một lần, tôi sẽ thảo luận những ca bệnh khó nhất mà tôi gặp với Mike, một đàn anh và cũng là bác sĩ hướng dẫn của tôi. Ban đầu, các ca bệnh của tôi có vẻ rất phức tạp và các nguồn lực tôi có để xử lý các ca đó thì lại vô cùng thiếu thốn, đến nỗi tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực. Một số ca bệnh của tôi là những người đã tới lui phòng khám rất nhiều lần trong nhiều năm liền mà không có cải thiện gì rõ ràng. Thành thật mà nói, sau vài tuần thực tập trong hoàn cảnh như vậy, tôi đã nghĩ mọi việc mà tôi được yêu cầu làm đều vô nghĩa và tôi không thể giúp được ai cả. Sau đó, tôi gặp Carlos; và sau cuộc gặp gỡ đó tôi đã bị thuyết phục rằng mình không thể giúp được gì! Ở tuổi ba mươi bảy, Carlos đã nghỉ việc chín năm và ly hôn tám năm. Trong buổi nói chuyện đầu tiên tôi đã có thể ngửi được mùi rượu trong hơi thở của anh. “Tôi bị trầm cảm từ rất lâu rồi”, Carlos nói với tôi. Anh tin chắc có cái gì đó đã vụn vỡ bên trong mình và anh dùng rượu để tự hàn gắn nó nhưng thật ra chỉ càng khiến vấn đề trở nên tệ hơn. Tôi nhớ mình đã nói với Mike trong cuộc thảo luận chiều hôm đó: “Tôi không nghĩ tôi có thể giúp gì được cho bệnh nhân này. Anh ấy đã trầm cảm gần như cả cuộc đời mình. Anh ấy không có bất cứ sự hỗ trợ nào. Anh ấy không phải là kiểu người sẽ đến buổi trị liệu đúng hẹn, và ngay cả khi có đến thì anh ấy vẫn không bỏ rượu! Tôi không thấy có cơ may nào cho việc anh ấy sẽ thay đổi cả”. Mike cười và nói với tôi rằng tôi đang tiếp cận các vấn đề của Carlos với “lối tư duy bảo thủ”. Nhờ những nỗ lực của nhà tâm lý học Carol Dweck thuộc Đại học Stanford và quyển sách Mindset (tạm dịch: Tư duy) của bà, nhiều người đã biết đến khái niệm tư duy bảo thủ và tư duy cầu tiến. Những người có tư duy bảo thủ ủng hộ lý thuyết “thực thể” và tin rằng các phẩm chất quan trọng như trí thông minh và tính cách là những đặc điểm cố định không thể thay đổi. Những người có tư duy cầu tiến thì tin rằng những phẩm chất cơ bản này là “có thể uốn nắn” và có thể được cải thiện thông qua quá trình học tập và nỗ lực. Tùy vào từng vấn đề mà bạn sẽ có tư duy bảo thủ hoặc tư duy cầu tiến. Chẳng hạn, bạn có thể “bảo thủ” khi nói về kỹ năng tính toán của mình (“Tôi không giỏi với các con số”) nhưng “cầu
106 tiến” khi nói đến các kỹ năng xã hội (“Tôi chỉ cần tìm hiểu thêm về các đồng nghiệp mới là sẽ ổn thôi”). Các nghiên cứu cho thấy niềm tin về khả năng thay đổi có thể tác động sâu sắc đến hành vi. So với những đứa trẻ tin rằng trí thông minh có thể được cải thiện bằng cách chăm chỉ học tập, những đứa trẻ tin rằng trí thông minh của chúng là không thể thay đổi thường có thành tích học tập kém hơn trong những môn mà chúng thấy khó tiếp thu. Xét cho cùng, những người sẵn sàng thay đổi, tin bản thân có thể đạt được kết quả tốt hơn và tin những nỗ lực của mình là có ý nghĩa thường có ý thức chủ động trong nỗ lực thể hiện năng lực bản thân và sẵn sàng đương đầu với thử thách. Vì vậy, trở ngại hoặc thất bại không khiến họ chán nản đến mức bỏ cuộc, mà thay vào đó, họ có thể kiên trì ngay cả khi đang nản lòng. Chúng ta cũng biết rằng tư duy của một người có thể phát triển và thay đổi. Phụ huynh nào khen ngợi thành tích của con bằng cách nói “Con đã học hành rất chăm chỉ!” sẽ thúc đẩy tư duy cầu tiến của trẻ. Ngược lại, cha mẹ nào nói: “Nhìn điểm A của con kìa! Con là một thiên tài!” sẽ khiến trẻ có khuynh hướng hình thành tư duy bảo thủ. Nếu một đứa trẻ tin rằng thành công phụ thuộc vào trí thông minh bẩm sinh và trí thông minh là cố định, bé thường có khuynh hướng nghĩ mình không thể làm được gì khi mọi chuyện trở nên khó khăn hơn và bé sẽ thấy mình học không giỏi môn ngoại ngữ hoặc số học. Tuy nhiên, Dweck cũng lưu ý một điều quan trọng là đừng nhầm lẫn tư duy cầu tiến với việc nỗ lực nhiều hơn. Nếu một đứa trẻ dành hàng giờ để chăm chỉ học hành nhưng vẫn không cải thiện được điểm số hoặc không thể tiếp thu tốt kiến thức của môn học thì đó là lúc các bậc phụ huynh cần xem xét các chiến lược khác. Cha mẹ cũng không nên chỉ dừng lại ở việc đơn giản là khen ngợi nỗ lực của trẻ. Nếu con của bạn không vượt qua được bài kiểm tra lịch sử thì câu nói “Con đã cố gắng rồi!” có thể làm cho trẻ cảm thấy được an ủi nhưng sẽ không giúp trẻ cải thiện thành tích. Thay vào đó, theo Dweck thì các bậc phụ huynh nên “nói về những nỗ lực mà trẻ đã làm được và những việc mà trẻ có thể tiếp tục cố gắng trong lần sau”. Trong một nghiên cứu ở Mỹ gần đây, các nhà nghiên cứu đã tự hỏi liệu họ có thể cải thiện tỷ lệ thành công của hai trăm sinh viên trường cao đẳng cộng đồng chưa nắm vững kiến thức toán học cơ bản thời trung học hay không. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những sinh viên cao đẳng cộng đồng có trình độ toán học chưa đạt chuẩn phải đối mặt với rất nhiều trở ngại khi cố gắng bắt kịp chương trình học, đặc biệt là nếu họ hy vọng được chuyển tiếp sang hệ đại học bốn năm. Nhưng nếu bị xếp vào lớp phụ đạo môn toán thì những sinh viên này có thể cảm thấy mình hoàn toàn không có hy vọng cải thiện thành tích môn toán.
107 Như một