Vì Sao Bạn Ế_

hồi còn độc thân – nó luôn luôn rộng lớn và tuyệt

hồi còn độc thân – nó luôn luôn rộng lớn và tuyệt

hồi còn độc thân – nó luôn luôn rộng lớn và tuyệt đẹp. Tôi có thể than vãn rằng hồi đó đi du lịch một mình khổ sở thế nào – không có ai đứng đó trông hành lý trong khi tôi đi mua một cuốn tạp chí. Đúng là thế. Nhưng còn khoảng thời gian một tiếng ngồi ở quán cà phê espresso đáng yêu đó, nhìn những chiếc máy bay trên bầu trời. Tôi từng cảm thấy tồi tệ về những kỳ nghỉ cuối tuần và những ngày nghỉ lễ mà tôi chẳng có kế hoạch nào, nhưng khoảng thời gian tự do đó cho phép tôi dành cả hai ngày viết một truyện ngắn thể nghiệm hoặc đọc cuốn Tess of the d’Urbervilles (tạm dịch: Cô gái dòng họ d’Ubervilles). Tôi từng than phiền rằng mình đã mất quá nhiều thời gian để tìm kiếm người đặc biệt đó, nhưng lòng quyết tâm tìm kiếm giúp tôi gặp được nhiều người khác nữa. Điều đó nghĩa là lái xe ngang qua bang Wyoming cùng Suki và Jonathan, 3 đứa cùng há hốc mồm nhìn khung cảnh thay đổi từ núi non sang lãnh nguyên rồi tới đồng quê kiểu Anh sau mỗi 48 cây số. Điều đó nghĩa là nấu món gà quay cho câu lạc bộ sách nhân dịp sinh nhật thứ 37 của mình, Daphne và Kristin tất bật trong bếp cùng tôi trong khi những thành viên khác có mặt từ sớm. Điều đó nghĩa là đứng trên cầu vượt chờ tàu hỏa ở Virginia cùng Coleman và Janet lúc nửa đêm, cây cầu rung lên và gió hút lên trên khi tàu chạy ngang qua. Điều đó nghĩa là đổi căn hộ với Scout và sống ở Seattle một tháng, chỉ để xem mọi thứ thế nào. Điều đó nghĩa là khám phá ra những người tốt bụng ở Cleveland thân thiện một cách đáng ngạc nhiên khi bạn bước tới trước cửa nhà họ, tay cầm bìa kẹp hồ sơ, nhắc họ nhớ đi bỏ phiếu vào thứ Ba. Có rất nhiều cảm xúc bồn chồn khó chịu buộc tôi phải làm điều này – khao khát gặp gỡ đàn ông, chứng tỏ với mình rằng tôi là kiểu con gái độc thân hào nhoáng. Nhưng mặc dù những trải nghiệm đó thường sinh ra từ những điều khó chịu, chúng cũng là khoảng thời gian tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi. Khi còn độc thân, tôi đi ngang dọc khắp đất nước, cố gắng tìm kiếm cuộc sống thật của mình. Tại sao tôi lại không nhận ra rằng mình đã tới đích rồi?

126 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NHỮNG NGUỒN NÊN ĐỌC Brené Brown, Tiến sĩ có chứng chỉ Công tác xã hội, Daring Greatly: How the Courage to Be Vulnerable Transforms the Way We Live, Love, Parent and Lead (Sự liều lĩnh vĩ đại: Việc dũng cảm để tổn thương có thể thay đổi cách chúng ta sống, yêu thương và dạy dỗ con cái như thế nào), Gotham, 2012. Oliver Burkeman, The Antidote: Happiness for People Who Can’t Stand Positive Thinking (tạm dịch: Thuốc giải độc: Hạnh phúc cho những người không thể chịu nổi lối suy nghĩ tích cực), Faber and Faber, 2012. John T. Cacioppo và William Patrick, Loneliness: Human Nature and the Need for Social Connection (tạm dịch: Nỗi cô đơn: Bản chất con người và nhu cầu kết nối xã hội), Norton, 2008. Sasha Cagen, Quirkyalone: A Manifesto for Uncompromising Romantics (tạm dịch: Sống kỳ quặc một mình: Tuyên ngôn của kẻ lãng mạn nhưng không thỏa hiệp), HarperOne, 2006. Pema Chödrön, No Time to Lose: A Timely Guide to the Way of the Bodhisattva (tạm dịch: Không còn thời gian để mất: Hướng dẫn tuần tự về đạo lý Bodhisattva), Shambhala, 2007 và The Wisdom of No Escape (tạm dịch: Chân lý không trốn chạy), Shambhala, 1991. Gail Collins, When Everything Changed: The Amazing Journey of Women from 1960 to the Present (tạm dịch: Khi tất cả thay đổi: Hành trình tuyệt vời của phụ nữ từ năm 1960 tới nay), Little, Brown, 2009. Stephanie Coontz, Marriage, a History: How Love Conquered Marriage (tạm dịch: Lịch sử hôn nhân: Tình yêu đã xâm chiếm hôn nhân như thế nào?), Penguin, 2006 và A Strange Stirring: The Feminine Mystique and American Women at the Dawn of the 1960s (tạm dịch: Sự phấn khích lạ lùng: Vẻ thần bí của phụ nữ và phụ nữ Mỹ trong những buổi đầu của thập niên 1960), Basic, 2010. Mihaly Csikszentmihalyi, Flow: The Psychology of Optimal Experience (tạm dịch: Dòng chảy: Tâm lý trải nghiệm lý tưởng), Harper Perennial Modern

127 Classics, 2008. Bella DePaulo, Tiến sĩ, Singlism: What It Is, Why It Matters, and How to Stop It (tạm dịch: Chủ nghĩa độc thân: Nó là gì, có vai trò gì, làm cách nào để ngăn chặn nó), DoubleDoor, 2011 và Singled Out: How Singles Are Stereotyped, Stigmatized, and Ignored, and Still Live Happily Ever After (tạm dịch: Bị cách ly: Bằng cách nào mà những người độc thân phải chịu thành kiến, bị xúc phạm và xa lánh nhưng vẫn sống hạnh phúc), St.Martin’s Griffin, 2006. Barbara L. Fredrickson, Tiến sĩ, Love 2. 0: How Our Supreme Emotion Affects Everything We Feel, Think, Do and Become (tạm dịch: Tình yêu 2.0: Cảm xúc tối cao của chúng ta ảnh hưởng đến mọi thứ ta cảm thấy, suy nghĩ, hành động và trở thành như thế nào), Hudson Street Press, 2013. John M. Gottman, Tiến sĩ và Nan Silver, The Seven Principles for Making Marriage Work (tạm dịch: 7 nguyên tắc gìn giữ hạnh phúc hôn nhân), Three Rivers Press, 2000. Zoë Heller, What Was She Thinking? Notes on a Scandal (tạm dịch: Cô ta nghĩ gì thế? Những ghi chú về một vụ bê bối), Henry Holt, 2003. Betsy Israel, Bachelor Girl: The Secret History of Single Women in the Twentieth Century (tạm dịch: Cô gái độc thân: Lịch sử bí mật về những phụ nữ độc thân ở thế kỷ XX), William Morrow, 2002. Eric Klinenberg, Going Solo: The Extraordinary Rise and Surprising Appeal of Living Alone (tạm dịch: Sống một mình: Sự trỗi dậy khác thường và sức hấp dẫn đáng ngạc nhiên của việc sống độc thân), Penguin, 2012. Amir Levine, Bác sĩ y khoa và Rachel S. F. Heller, Thạc sĩ văn chương, Attached: The New Science of Adult Attachment (tạm dịch: Gắn bó: Khoa học mới về sự gắn bó của người trưởng thành), Tarcher Penguin, 2010. Rachel Machacek, The Science of Single (tạm dịch: Khoa học của sự độc thân), Riverhead, 2011. Samhita Mukhopadhyay, Outdated: Why Dating Is Ruining Your Love Life (tạm dịch: Lạc hậu: Tại sao việc hẹn hò lại đang hủy hoại cuộc sống tình cảm của bạn?), Seal, 2011. Kristin Neff, Tiến sĩ, Self-Compassion: Stop Beating Yourself Up and Leave Insecurity Behind (tạm dịch: Lòng trắc ẩn cho bản thân: Hãy ngừng dằn vặt mình

128 và bỏ lại sự bất an phía sau), William Morrow, 2011. Melanie Notkin, Savvy Auntie: The Ultimate Guide for Cool Aunts, Great￾Aunts, Godmothers, and All Women Who Love Kids (tạm dịch: Bà cô biết tuốt: Hướng dẫn dành cho những bà cô thật ngầu, thật vĩ đại, những bà mẹ đỡ đầu và tất cả phụ nữ yêu quý trẻ con), William Morrow, 2011. Tara Parker-Pope, For Better: How the Surprising Science of Happy Couples Can Help Your Marriage Succeed (tạm dịch: Sống tốt hơn: Những phát hiện khoa học đáng ngạc nhiên về các cặp đôi hạnh phúc có thể giúp bạn thành công trong cuộc sống hôn nhân như thế nào), Plume, 2011. Susan Piver, The Wisdom of a Broken Heart (tạm dịch: Chân lý của một trái tim tan vỡ), Free Press, 2010. Sara Elizabeth Richards, Motherhood, Rescheduled: The New Frontier of Egg Freezing and the Women Who Tried It (tạm dịch: Làm mẹ, tái sắp xếp: Giới hạn mới về đông lạnh trứng và những phụ nữ đã thử phương pháp này), Simon & Schuster, 2013. Mari Ruti, Tiến sĩ, The Case for Falling in Love? Why We Can’t Master the Madness of Love – and Why That’s the Best Part (tạm dịch: Hãy cứ yêu đi: Tại sao chúng ta không thể làm chủ được sự điên rồ của tình yêu – và tại sao đây là điều tuyệt vời nhất), Sourcebooks Casablanca, 2011. Chögyam Trungpa, The Sanity We Are Born With: A Buddhist Approach to Psychology (tạm dịch: Sự minh mẫn bẩm sinh: Cách tiếp cận của Phật giáo với Tâm lý học), Shambhala, 2005; Training the Mind and Cultivating Loving￾Kindness (tạm dịch: Huấn luyện tâm trí và bồi đắp sự yêu thương-tử tế), Shambhala Classics, 1993 và Shambhala: The Sacred Path of the Warrior (tạm dịch: Shambhala: Con đường thiêng liêng của chiến binh), Shambhala Classics, 1984. Christine B. Whelan, Tiến sĩ, Why Smart Men Marry Smart Women (tạm dịch: Tại sao đàn ông thông minh kết hôn với phụ nữ thông minh), Simon & Schuster, 2006 và Marry Smart: The Intelligent Woman’s Guide to True Love (tạm dịch: Kết hôn thông minh: Hướng dẫn về tình yêu đích thực dành cho phụ nữ thông minh), Simon & Schuster, 2009).

129 CÁC BÀI VIẾT VÀ NGHIÊN CỨU ĐÃ TRÍCH DẪN Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (ASRM), “Fertility Experts Issue New Report on Egg Freezing. ASRM Lifts Experimental Label from Technique” (tạm dịch: Các chuyên gia khoa sản công bố báo cáo mới về đông lạnh trứng. ARSM dỡ bỏ mác thử nghiệm với phương pháp này), ngày 22 tháng 10 năm 2012. Lisa Arnold và Christina Campbell, “The High Price of Being Single in America” (tạm dịch: Cái giá cao ngất phải trả khi sống độc thân ở Mỹ), TheAtlantic. com, ngày 14 tháng 1 năm 2013. Olivia Barker, “Singled Out by Society’s Stare” (tạm dịch: Bị gạt ra ngoài lề bởi cái nhìn của xã hội), USA Today, ngày 13 tháng 2 năm 2005. Oliver Burkeman, “The Power of Negative Thinking” (tạm dịch: Sức mạnh của suy nghĩ tiêu cực), New York Times, ngày 4 tháng 8 năm 2012. Cục Thống kê Lao động, “Spotlight on Statistics: Women at Work” (tạm dịch: Tập trung vào các số liệu: Những phụ nữ đang làm việc), tháng 3 năm 2011. Ewen Callaway, “Fathers Bequeath More Mutations as They Age” (tạm dịch: “Những ông bố truyền lại nhiều gen đột biến hơn khi về già), Nature, ngày 22 tháng 8 năm 2012. John T. Cacioppo, Stephanie Cacioppo, Gian C. Gonzaga, Elizabeth L. Ogburn và Tyler J. VanderWeele, “Marital Satisfaction and Break-ups Differ Across On￾line and Off-line Meeting Venues” (tạm dịch: Sự thỏa mãn với cuộc sống hôn nhân và chia tay là khác nhau giữa các tụ điểm gặp nhau trên mạng và ngoài đời thực), Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, tháng 6 năm 2013. Elizabeth Cohen, “Freezing Your Eggs: The Costs and Other Realities” (tạm dịch: Đông lạnh trứng: Chi phí và những sự thật khác), CNN, ngày 6 tháng 10 năm 2011. Paula England và Jonathan Bearak, “Women’s Education and Their Likelihood of Marriage: A Historic Reversal” (tạm dịch: Học vấn của phụ nữ và xác suất kết

130 hôn của họ: Xu hướng đảo ngược có vai trò lịch sử), Trang thông tin cho Hội đồng Gia đình đương đại Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 4 năm 2012. Naomi Gerstel và Natalia Sarkisian, “Marriage: The Good, the Bad, and the Greedy” (tạm dịch: Kết hôn: Người tốt, kẻ xấu và kẻ tham lam), Contexts, Fall 2006 và “Single and Unmarried Americans as Family and Community Members” (tạm dịch: Những người Mỹ độc thân với vai trò là thành viên của gia đình và xã hội), Trang thông tin cho Hội đồng Gia đình Đương đại Hoa Kỳ, ngày 15 tháng 9 năm 2011. Eric Klinenberg, “Solo Nation: American Consumers Stay Single” (tạm dịch: “Đất nước độc thân: Những người tiêu dùng Mỹ duy trì trạng thái độc thân), Fortune, ngày 25 tháng 1 năm 2012. Kristin Laurin, David Kille và Richard Eilbach, “The WayI Am Is the Way You Ought to Be” (tạm dịch: Tôi thế nào thì người khác cũng nên thế ấy), Psychological Science, ngày 26 tháng 6 năm 2013. Leslie Mann, “Women Say ‘I Do’ to Education, Then Marriage” (tạm dịch: Phụ nữ nói ‘Tôi đồng ý’ với giáo dục, sau đó là hôn nhân), Chicago Tribune, ngày 2 tháng 5 năm 2012. Melanie Notkin, “WhyI Choose Love Over Motherhood” (tạm dịch: Tại sao tôi đặt tình yêu lên trên việc làm mẹ), Huffington Post, ngày 21 tháng 8 năm 2012. Pew Research Social & Demographic Trends, “Barely Half of U.S Adults Are Married— A Record Low” (tạm dịch: Chỉ xấp xỉ một nửa người trưởng thành ở Mỹ đã kết hôn – Con số thấp kỷ lục), ngày 14 tháng 12 năm 2011. Michael J. Rosenfeld và Thomas J. Reuben, Searching for a Mate: The Rise of Internet as a Social Intermediary” (tạm dịch: Tìm kiếm bạn đời: Sự trỗi dậy của Internet với vai trò cầu nối xã hội), American Sociological Review, 2012. Dana Rotz, “Why Have Divorce Rates Fallen? The Role of Women’s Age at Marriage” (tạm dịch: “Tại sao tỷ lệ ly hôn giảm? Tuổi tác phụ nữ đóng vai trò như thế nào trong hôn nhân), ngày 20 tháng 12 năm 2011. David Sbarra, Adriel Boals, Ashley Mason, Grace Larson và Matthias Mehl, “Expressive Writing Can Impede Emotional Recovery Following Marital Separation” (tạm dịch: Thổ lộ tâm tình thông qua viết lách có thể làm chậm quá trình hồi phục cảm xúc sau khi ly hôn), Clinical Psychological Science, ngày 15 tháng 2 năm 2013.

131 Sue Shellenbarger, “Single and Stepping Off the Fast Track” (tạm dịch: Độc thân an nhàn), Wall Street Journal, ngày 23 tháng 5 năm 2012. Betsey Stevenson và Justin Wolfers, “Divorced from Reality” (tạm dịch: Ly hôn khỏi thực tế), New York Times, ngày 29 tháng 9 năm 2007.

132 CÁC TÀI LIỆU VỠ LÒNG VỀ PHẬT GIÁO Có rất nhiều nơi tuyệt vời để học thiền định hoặc nghiên cứu những nguyên tắc của Phật giáo – từ phòng tập yoga nơi bạn ở tới trung tâm Thiền. Tôi theo một nhánh Phật giáo Tây Tạng gọi là Shambhala và nhánh này có các trung tâm ở hầu hết thành phố lớn (Shambhala.org). Trung tâm thiền định Insight Meditation Center do Sharon Salzberg sáng lập cũng rất nổi tiếng (dharma.org).

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 49

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!

hồi còn độc thân – nó luôn luôn rộng lớn và tuyệt - Vì Sao Bạn Ế_ | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip