hồi mẹ nó trở bệnh. “Mà con đã đi mổ chưa vậy?” Maureen hỏi. “Chưa nữa. Dạo này con bận quá.” Bà lấy những ngón tay khẳng khiu của mình chụp lấy chùm lông tay của nó và ghì cho đến khi nó la lên. “Earl à, con không thể cứ đi lòng vòng với một viên đạn dưới mông. Nó sẽ ảnh hưởng đến tướng mạo của con đó.” Tool kéo tay mình ra. “Con sẽ đi mổ sớm, con thề đó.” “Đó có thể là khoảnh khắc thay đổi đời con,” bà nói. “Họ gọi đó là sự thức tỉnh, hoặc chí ít là thanh tẩy.” Nó đoán hai từ vừa rồi là thuật ngữ chuyên môn về phẫu thuật gắp đạn ra khỏi người. Và nó hứa với Maureen sẽ lên lịch mổ ngay sau khi nghỉ công việc vệ sĩ.
“Cuối tuần này con quay lại,” nó hứa. Bà nhìn nó ấm áp. “Con có cầu nguyện không, Earl?” “Dạ cũng lâu rồi con chưa ạ,” nó thừa nhận. Mới có ba mươi năm chứ mấy. “Ừa, không sao.” “Thôi, con đi nha.” “Mỗi lúc niềm tin bị lung lay, ta đều nhìn lên bầu trời xanh cao rộng và chiêm nghiệm sự hiện hữu của Chúa. Hãy tưởng tượng mà xem, một con chim có thể bay ngàn dặm từ Manitoba đến Key West. Bay vào mỗi mùa đông!” Tool xoay người về phía TV. Một bầy bồ nông trắng như tuyết đang bay, cất cánh từ bề mặt gợn sóng của đầm lầy. Nó tưởng tượng thấy lũ chim như một bờ biển trắng đang vỡ ra thành từng mảnh và bay theo làn gió. “Một ngày nào đó, con phải tận mắt chứng kiến cảnh này,” Tool nói. Rồi cánh tay của Maureen tuột khỏi tay nó. Nghe hơi thở nặng nhọc kia, nó biết bà đã mệt quá mà thiếp đi. Nó chưa đi, mà ngồi lại xem cho hết chương trình rồi tắt TV. Lúc rời khỏi phòng, người y tá rảo bước theo và hỏi nó có thật là cháu của Maureen không. “Tôi chẳng thấy hai người có gì giống nhau cả,” y tá nói. “Vâng, tôi là cháu nuôi mà,” Tool nói. “Thế à. Và ở Hà Lan ông làm dược sĩ à?” “Không, là bác sĩ,” nó khẳng định. “À.” Con quỷ cái nhiễu sự, Tool thầm nghĩ rồi chui vào trong chiếc Grand Marquis. Tưởng dễ bẫy ông lắm à!
Cách đó mười lăm dặm, tại Trung tâm bảo tồn động vật hoang dã Loxahatchee, một người đàn ông chột mắt đang lột da xác con rái cá. Gã cao lớn, hai bàn tay to bè và làn da nâu như yên ngựa. Gã mặc quần yếm, mang giày quân đội, đội một chiếc mũ tắm màu đục và diện chiếc áo phông mòn thấy vải có in hình cái lưỡi thè ra dâm dục. Râu của gã bện lại, lấm tấm bạc, lại điểm thêm màu xanh của mớ bèo khô vương trên ấy. Gã trông cổ quái và tưng tửng, nhưng động tác lại thuần thục như quân nhân hoặc vận động viên. Trên thực tế, gã từng là cả hai. Con rái cá bị một kẻ săn trộm giết chết vài giờ trước đó. Kẻ đi săn không hề biết mình đang bị gã chột theo dõi. Gã dễ dàng tước vũ khí của y, lột y trần truồng, lấy cỏ dại cột cổ tay và mắt cá tên thợ săn rồi ném đương sự ngay miệng hang cá sấu. Ricca Spillman đã chứng kiến tất cả điều đó. Con nhỏ đang lạc trôi trong một trạng thái lơ mơ. Đã hai ngày rồi, vậy mà nó cũng không dám cả quyết là gã chột mắt kia có tồn tại thật không và phải chăng chính gã đã cứu mạng nó. Gã thông báo họ sẽ cùng chén con rái cá đã chết, chứ bỏ xác nó ngoài kia cho lũ diều hâu thì phí quá. Con nhỏ hỏi về số phận của tên săn trộm, gã đáp: “Nếu tụi cá sấu không thịt nó thì có thể tôi sẽ ra cắt dây trói và thả nó đi. Còn tùy vào thái độ của nó.” “Vậy còn tôi thì sao?” Gã không trả lời, lưỡi dao lóe sáng khi gã khéo léo lóc thịt con rái cá khỏi bộ lông dày ẩm ướt. Sau khi lột da con vật, gã nói: “Kể lại tôi nghe chuyện thằng bồ coi.”
Ricca kể lại chuyện của Chaz Perrone trong khi gã nhóm lửa. Thịt rái cá có cái mùi lạ quá, nhưng vì đói lả nên con nhỏ vẫn xơi tất. Gã kia thì ăn sạch sẽ mọi thứ trên chảo, còn nhai cả xương rôm rốp. Rồi gã đá đất tơi dập lửa, chùi tay dơ lên đít quần yếm và dùng chính bàn tay ấy bồng Ricca lên. “Chân cẳng sao rồi?” Gã hỏi và lê bước chậm chạp qua những bụi rậm. “Đỡ nhiều rồi. Mình đang đi đâu đây, Đại úy?” Gã đội mũ tắm đã yêu cầu cô gọi mình như vậy. “Có một cái trại khác ở gần đây,” gã bồng Ricca nhẹ hẫng như một cái gối bông. Con nhỏ hỏi: “Bao giờ tôi mới được về nhà?” “Giọng cô em nghe êm quá. Làm tôi muốn sà vào vòng tay cô ngủ một giấc.” “Ông sẽ dẫn tôi về đúng không? Làm ơn đi!” “Xin lỗi,” gã đáp, “nhưng tôi không thể đến gần đường quốc lộ. Đừng có hỏi tại sao, xe cộ làm tôi mất hứng.” Chỗ cắm trại tiếp là một khu đất trống nhỏ cạnh mấy cây cọ lùn. Gã đặt Ricca lên mặt đất, tiếp tục nhóm lửa, hâm cà phê. Từ một túi xách vải có ghi Bưu điện Hoa Kỳ, gã rút ra tập thơ. “Oliver Goldsmith,” gã nói. Ricca nhướn chân mày khó hiểu. Gã mở quyển sách ở trang đánh dấu, đặt lên đùi con nhỏ, nói: “Đọc lớn lên nào.” “Đọc hết luôn hả?” “Khổ đầu thôi.” Với niềm đam mê thơ ca dừng lại ở *Green Eggs and Ham*, nó lẩm
nhẩm đọc khổ đầu tiên: Khi cô gái đang yêu khờ dại Bỗng nhận ra mình bị dối lừa Làm sao mắt khỏi sa mưa Nước nào gột rửa tội tình trần ai Khi con nhỏ đọc lớn khổ thơ trên, gã đàn ông đội mũ tắm mỉm cười nhẫn nại. “Nghe đọc là biết không mê văn thơ gì rồi,” gã nói. “Ông nhà thơ này đang nói về tội tình gì vậy? Tôi không thấy tội lỗi gì, chỉ thấy bực bội…” “Cũng dễ hiểu. Vì thằng chó đẻ đã bắn cô.” “Và nó nói dối nữa. Về tất cả mọi thứ.” Rồi gã vớ lấy tập thơ và bỏ lại vào túi vải thô. Ricca nói: “Tôi khao khát muốn được trả thù. Ông sẽ giúp tôi chứ?” Người đàn ông gỡ con mắt thủy tinh ra khỏi hốc mắt, chùi nó bằng mép áo phông. Gã nghe thấy mấy tiếng súng nổ cách khoảng nửa dặm, liền lội nước qua đám cỏ cưa lẫn bùn phân, nửa chạy nửa bơi. Tới nơi thì kẻ cầm súng đã đi mất, chỉ còn lại cặp đèn hậu màu đỏ mờ dần phía triền đê. Ricca lúc ấy đang tuyệt vọng bám vào bụi hoa súng để không bị chìm. Gã chột tìm được vị trí của con nhỏ nhờ tiếng hớp không khí mỗi lần cô trồi được môi và mũi lên mặt nước. Dẫu cả người run rẩy và vết thương thì đang chảy máu, nó vẫn chống lại sự tiếp cận của gã, vì nghĩ gã là một con thú dữ trong đầm lầy. “Xin lỗi, nhưng tôi không giúp được. Tôi cũng đang gặp một vấn đề cá
nhân rất nghiêm trọng,” gã nói. “Ý ông là sao?” “Trước tiên, tôi cứ nghe bài Midnight Rambler của Eydie Gorme và Cat Stevens văng vẳng trong đầu mình, cả ngày lẫn đêm. Tôi biết đấy là một bài nhạc đồng quê rất hay, nhưng có lúc tôi muốn cắt phéng cuống họng của mình cho rồi. Chỉ cần một giờ đồng hồ lặng yên là quá đủ,” gã nói giọng đăm chiêu. Ricca hết dám mở miệng. Cái lỗ trống hoác nơi con mắt bị hư nom như một cái hang đen ngòm đáng sợ. “Nhưng ghê nhất là tôi cứ bị ảo giác gần như liên tục,” gã tiếp tục. “Thí dụ, tôi cho là ở ngoài đời cô không có gì giống Lady Bird Johnson.” “Là ai vậy?” Ricca hỏi. “Phu nhân của đời Tổng thống thứ 36. Chính ông ta đã buộc tôi phải tham chiến ở Việt Nam,” gã giải thích. “Với tôi, cô giống y hệt bà ấy. Nghe có vẻ vô lý, nhưng tôi quả thực thấy vậy. Cô rõ ràng trẻ hơn nhiều, có tàn nhang và tóc lại xoăn nữa. Vậy mà nhìn cô, tôi chỉ thấy Lady Bird.” “Ông biết mình cần gì không? Một bác sĩ.” Gã đàn ông chột mắt mỉm cười và Ricca ngỡ ngàng nhận ra trước khi trở nên điên loạn, người này hẳn phải rất đẹp trai. Vì ngay lúc này đây, con nhỏ còn nhìn thấy gã có chút quyến rũ. Gã nói: “Hẳn là tôi sắp chết.” “Không có đâu, Đại úy.” “Vào lúc khác, có lẽ tôi sẽ muốn tóm lấy cơ hội này,” gã nói, “cơ hội săn lùng gã bạn trai bạc bẽo của cô, lôi nó tới đây nói chuyện phải quấy. Tôi sẽ không trả thù kiểu sách vở, mà dạy cho nó thế nào là sinh tồn. Cô phải
hiểu, chỉ có một công thức để sống sót trên hành tinh này và những đứa như Chad…” “Chaz nha,” Ricca nói. “… sẽ vô dụng nếu như không có vớ sạch, chỉ nha khoa và máy điều hòa. Tên thợ săn hạ đẳng mà tôi bắt trói sáng nay còn có kỹ năng sống tốt hơn Chaz, đúng không?” Gã ngoáy tai. “Trời ơi cái giọng hát kinh khủng kia, nó không chịu dừng.” “Tôi có nghe gì đâu.” “Tuần trước là David Lee Roth và Sophie Tucker. Lũ cá trong kênh rạch này có lẽ đã nhiễm thủy ngân cả rồi,” gã rướn người và nhìn chằm chằm vào ngọn lửa ít lâu. “Cô nói thằng bồ làm việc ở đầm lầy này hả?” “Đúng rồi. Nó thử mức độ ô nhiễm của nước thải nông trại.” “Vậy mà tôi chưa bao giờ chạm mặt nó,” gã cười và lấy con mắt thủy tinh nhét lại vào hốc mắt. “Tôi chỉ có thể bồng cô đến phía kia của đầm lầy. Ở đó, một người bạn của tôi sẽ lái xe đưa cô về lại thành phố.” “Rồi sao nữa?” Ricca hỏi. “Còn tôi sẽ đi về phía tây,” gã đưa cho cô một tách cà phê. “Bữa trước đói quá, tôi đã ăn sạch một con rắn lục. Bình thường tôi có bao giờ đụng đến lũ bò sát đâu, nhưng bản năng thôi thúc mạnh mẽ quá. Tôi đã tóm lấy con vật bé nhỏ ấy và đột nhiên tôi thấy gương mặt của Henry Kissinger đang nhìn mình, còn lè lưỡi vào mặt mình nữa. Kissinger chết tiệt!” Ricca Spillman cũng chưa từng nghe đến cái tên này nốt, nhưng con nhỏ vẫn lịch sự hỏi: “Vậy ông làm gì với nó?” “Tôi nhai đầu nó, tất nhiên,” gã nói, “và nướng giòn bộ vảy của nó trong dầu cải. Ý là tôi đang trải qua một giai đoạn tồi tệ trong cuộc sống. Tôi
thực sự không thể ở gần cao tốc, hay đám đông, mà nói chung là loài người. Tôi cầu mong Chúa sẽ giúp cô, chứ tôi là không giúp được rồi đó.” Ricca nói: “Cũng được. Vậy tôi sẽ tự tìm cách.” Nó tự hỏi câu chuyện con rắn có phải là một bài học thần bí nào đó không. Cứ như thể đọc được ý nghĩ của con nhỏ, gã nói: “Hãy đi theo tiếng lòng của mình, cưng à. Đơn giản vậy thôi.” “Tôi đang cố đây.” Dập lửa xong, người ẩn sĩ xốc con nhỏ lên và băng qua đầm lầy. Một tiếng đồng hồ đi bộ dưới cái nắng chang chang, nhưng gã tuyệt không hổn hển một chặp nào cho đến khi tới được bờ đê. Một con Jeep dính đầy bùn đã đậu sẵn trên mặt đường. Một người đàn ông trẻ hơn đang chờ sau vô lăng. Anh ta đội mũ len sát đầu, đeo kính râm, nhìn khẩn trương, căng thẳng. Đại úy hôn lên trán Ricca và bảo con nhỏ phải cẩn thận với cái chân bị bắn. Con nhỏ hôn trả lại và nói: “Cám ơn đã cứu mạng.” Người đàn ông chột mắt chào kiểu nhà binh: “Đấy là vinh dự của tôi, thưa bà Johnson.”
Tiến sĩ Charles Regis Perrone ngồi sau vô lăng chiếc Hummer, con xe lắc lư xuống triền đê với tốc độ nhanh khủng khiếp. Cứ chốc chốc nó lại thò đầu ra ngó lên bầu trời ken đặc trực thăng. Đó là cảnh tượng quái đản nhất mà nó từng thấy, trực thăng vần vũ trên trời Everglades cứ như đám chuồn chuồn khổng lồ sặc sỡ. Chaz có cảm giác mình như nhân vật mà Ray Liotta đóng trong GoodFellas, chạy vòng quanh như một gã mất trí với súng ống đầy mình, tự hỏi chiếc trực thăng đuổi theo mình là thật hay tưởng tượng. Chỉ có điều trong phim, cảnh rượt đuổi diễn ra trên nền nhạc của Harry Nilsson, còn ở đây thì Papa Thorogood đang gầm gừ bên tai, hỏi rốt cục nó yêu ai. Đấy là một bản nhạc lý tưởng để vừa nghe vừa lái xe, nhưng giờ Chaz không còn tinh thần thưởng nhạc. Nó đang trên đường ra thực địa để tiếp tục lấy mẫu nước và tâm trạng đang rất kích động. Nó đang cố tìm một lời giải thích khả dĩ cho sự hiện diện của đám trực thăng này: màu xanh dương, xanh lá, đỏ, trắng và một chiếc màu xanh dương nữa… Có lẽ một thợ săn hoặc một ngư dân nào đó bị mất tích, Chaz nghĩ. Nhưng mấy chiếc này đâu phải kiểu trực thăng cứu hộ - chúng rõ ràng là