phần lãi tính theo lãi suất 0,2%/ngày trong ba năm qua, theo đúng Thông tư liên bộ 02/95 và Thông tư 13/99 của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Thương mại hướng dẫn cho các DNTN làm dịch vụ cầm đồ. Nhưng HĐXX không chấp nhận, vì cho rằng đây là hợp đồng cho vay, chỉ được tính lãi suất 1,65%/tháng (căn cứ theo Thông tư liên ngành 01 ngày 19/6/1997 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tài chính). Với mức lãi suất này, lại khấu trừ số tiền mà bà Loan đã đóng lãi cho bà Hơn trong năm 1997 nên buộc bà Hơn phải chấp nhận cho bà Loan trả 14 triệu đồng. Bà Hơn không chịu bản án này, làm đơn xin xử giám đốc thẩm. B. Cách làm Như đã đề cập, ở đây ta tìm cách giải quyết các câu hỏi đã được thảo luận. (B4) Ghi các chi tiết Ở đây vụ việc đặt ra hai vấn đề: (i) về người, thì ai là người bị hại (“NBH”), ai là người có liên quan (“NLQ”); (ii) về văn bản là hợp đồng giữa bà Loan với bà Hơn là hợp đồng cầm cố hay hợp đồng cho vay. Trong vấn đề 1, ta vẽ ra như sau về giao dịch. LOAN HƠN YẾN NHI QUÂN THẢO
Một số vụ khác để mở rộng 259 Và về quyết định của các phiên tòa thì có bảng sau. Sơ thẩm lần 1 Loan 30 tháng tù Hơn: NLQ Quân: NBH Bị kháng cáo Phúc thẩm lần 1 Hơn: NLQ Thảo: NBH Trả về sơ thẩm Sơ thẩm lần 2 Loan: 18 tháng tù Hơn: NLQ – được đền 14 triệu Thảo: NBH – được đền 22 triệu Trả lại xe cho Loan khi đền xong Phúc thẩm lần 2 Hơn: NBH Thảo: NLQ Tôi bỏ các ngày tháng coi như chi tiết không liên quan vì câu hỏi mà vụ việc đưa ra. Tại mỗi cấp tòa chỉ có hai người, người này là NBH thì người kia trở thành NLQ; vậy ta giải quyết xong một người thì cũng xong luôn cả hai người. Và lấy người bị hại là sự kiện mấu chốt. (B6) Tìm CHMC a. Khi hỏi “ai là người bị hại” thì luật sư không nên soi đèn đi tìm họ ngay mà phải suy luận trong đầu, rồi xem các sự kiện trong nội vụ để tìm ra câu hỏi và trả lời. Về mặt lý lẽ thuần túy, người bị hại phải là người có một cái gì đã, rồi cái đó bị mất, bị hỏng; nên họ mới thành người bị hại. Ở đây cái xe là đối tượng bị thiệt hại cho nên CHMC là: “(Ai..) đã có chiếc xe, và nay nó còn hay mất?”. Ta không hỏi “ai đã gây ra sự thiệt hại ấy vì nếu hỏi là đi lạc đề. CHMC trở thành thuốc thử, bạn đem câu đó ấn vào bất cứ người nào trong vụ trừ bà Loan thì sẽ có câu trả lời ngay: - Ấn vào bà Hơn ta sẽ có: “Bà Hơn đã có chiếc xe chưa và nay nó còn hay mất”. Câu trả lời là “Bà ấy đã có và nay nó không còn”. Vậy bà ấy là người bị thiệt hại. Ta xem sự kiện. Bà Loan đã cầm cái xe cho bà ấy, vì tình nghĩa bà ấy giữ giấy và để cho bà Loan dùng cái xe. Sau đó bà Loan bán cái xe cho bà Yến Nhi. - Ấn vào ông Quân: “Ông Quân đã có chiếc xe không và nó còn hay mất?”. Câu trả lời là ông ta đã có và ông ta bán nó cho người khác mà cuối cùng là ông Thảo. Vậy ông Quân không mất xe, không phải là người bị thiệt.
260 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ - Ấn vào ông Thảo, ta thấy ông ấy đã có chiếc xe và hiện còn giữ chiếc xe, vậy là không phải là người bị hại. Nội vụ không cho biết là ông Thảo còn giữ chiếc xe hay không; nhưng tòa sơ thẩm lần hai cho ông ta được đền 22 triệu thì chắc là chiếc xe đã bị thu. Chiếc xe bị thu có lẽ vì là chiếc xe bị tranh chấp, và vì bà Loan đã xin cấp phó bản thẻ chủ quyền trong khi bà Hơn vẫn giữ bản chính. Nhưng dẫu sao ông Thảo vẫn còn giữ chiếc xe cho đến ngày nó bị thu và được đền thì ông ta không phải là người bị hại. Khi mua xe, ông Thảo mua xe có nguồn gốc là từ bà Loan rồi qua vài người nữa do đó ông ta không mua xe bị ăn cắp. Bà Hơn mới là người bị hại như tòa phúc thẩm lần thứ hai phán quyết. Vậy ông Thảo, ông Quân là người có quyền lợi liên quan. Điều khiến ta lúng túng khi hỏi ai là người bị thiệt hại là vì không đưa ra câu hỏi mấu chốt theo cách TDPL. b. Sang đến vấn đề thứ hai hợp đồng cầm cố hay hợp đồng cho vay thì CHMC là “Khi bà Loan vay bà Hơn, thì lúc đó bà Hơn là người cho vay hay là người cầm đồ?” CHPT “Bà Loan khi giao xe cho bà Hơn thì có biết bà Hơn là tiệm cầm đồ không?” Câu trả lời thấy ngay là Bà Hơn là người cầm đồ và bà Loan biết bà Hơn như thế. Tòa không thể thay đổi sự giao kết giữa hai người và không thể nói là bà Loan bị lừa để không biết bà Hơn là chủ tiệm cầm đồ. Tiệm cầm đó có quy chế hoạt động riêng. Khác với tổ chức tín dụng. Bà Hơn xin giám đốc thẩm là đúng. Nếu là luật sư của bà Hơn bạn chỉ cần cầm giấy phép do Ngân hàng nhà nước cấp cho bà Hơn là chứng minh được ngành nghề cầm đồ của bà ấy. Vụ 32 Lao động A. Trình bày Công ty John và Smith là hai công ty nước ngoài thành lập ở Singapore. Năm 1990, công ty John lập văn phòng đại diện ở Việt Nam. Đến năm 1992, John liên doanh với một công ty ở Việt Nam tên là Hòa và lập công ty liên
Một số vụ khác để mở rộng 261 doanh John Hòa. Năm 1995, ở nước ngoài John và Smith hợp nhất, thành John Smith, và công ty liên doanh ở Việt Nam của John trở thành John Hòa Smith. Năm 1998, John và Smith lập một công ty 100% vốn nước ngoài theo Luật đầu tư Việt Nam lấy tên là JS. Ông Hòa là người Việt Nam, năm nay 60 tuổi, có vợ và hai con, trong những năm từ 1990 đến tháng 12/1997 ông lần lượt làm cho Văn phòng đại diện của công ty John, sau đó làm cho công ty liên doanh John Hòa và rồi làm cho John Hòa Smith. Sau đó từ năm 1998 – 2000 thì làm cho công ty JS và rồi xin nghỉ. Ông Hòa đến bạn hỏi có được trợ cấp thôi việc từ năm 1990 tới 2000 không? Ai sẽ phải trả trợ cấp thôi việc. B. Cách làm (B2) Ông Hòa có được trợ cấp thôi việc từ năm 1990 đến năm 2000 không? Và ai trả? Bạn ghi nhận ngay ở trên khi trình bày vụ việc, thì câu hỏi sau cùng là: ai – tức là công ty nào – phải trả trợ cấp thôi việc? Ở đây tôi đặt ông Hòa làm chủ thể vì ông ấy là người đến hỏi mình. (B4 và B5) Ghi các chi tiết theo cách phân loại Ở đây ông Hòa đã làm việc qua nhiều công ty, bạn phải hình dung trong đầu mình tính chất pháp lý mà luật Việt Nam quy định cho mỗi loại hình kinh doanh mà ông Hòa đã từng làm việc. Nếu không hình dung ra được thì phải vẽ ra như thế này. Bạn nhớ bạn có thể vẽ cách khác vì đó là cái mà nó hiện ra trong đầu của bạn. Năm Ở Singapore Ở Việt Nam John – Smith 1990 John Lập VPĐD 1992 John Lập CTLD John Hòa 1995 John + Smith CTLD John Hòa Smith 1998 John + Smith 100% JS Ta thấy ông Hòa đã lần lượt làm qua bốn đơn vị khác nhau. VPĐD có quy chế lương bổng riêng. Mỗi công ty sau đó là một thực thể riêng biệt, cái nọ không dính với cái kia về mặt trách nhiệm dẫu chúng có chung những
262 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ người bỏ vốn. Ông Hòa là nhân viên của các đơn vị kia chứ không có một liên quan về lao động đối với các người bỏ vốn, nhất là với công ty John, mà thực sự là ông làm từ đầu cho đến ngày nghỉ. Để trả lời câu hỏi là ông Hòa có được trợ cấp thôi việc từ năm 1990 đến năm 2000 không và ai trả thì ta phải phân biệt tính chất của từng đơn vị mà ông Hòa đã làm. Tiền trợ cấp của ông trong thời gian trên phải chia ra hai kỳ: làm với VPĐD và làm với các công ty; vì quy chế trả lương giữa VPĐD và của công ty khác nhau (VPĐD phải trả qua một trung gian). Khi thôi việc ở VPĐD để chuyển sang CTLD Hòa thì ông hưởng tiền thâm niên của VPĐD. Do đó khi chuyển sang CTLD Hòa thì ông không có thâm niên gì lấy từ VPĐD sang. Khi ông ta chuyển từ công ty nọ sang công ty kia thì tùy vào sự dàn xếp của các công ty với nhau về tình trạng của ông. Nếu công ty mới khi nhận ông Hòa nói rằng thâm niên đã làm với công ty cũ được tính cho công ty mới thì đến năm 2000 khi ông thôi công ty JS thì JS trả ông ta tiền thâm niên từ 1992 đến 2000. Nếu khi chuyển từ công ty này sang công ty khác mà nơi mới không chấp nhận thâm niên của ông Hòa thì nơi cũ phải trả trước khi chuyển ông ta đi, coi như là cho ông nghỉ việc. Trong trường hợp sau, ông hưởng thâm niên của từng công ty mà ông thôi việc. Khi thân chủ hỏi bạn như thế này là bạn tư vấn. Bạn cần biết về luật công ty, VPĐD và tính chất tách biệt về trách nhiệm của chúng với nhau và với các cổ đông. Nếu bạn vẽ ra thì dễ thấy vấn đề. Vụ 33 Đầu tư nước ngoài Đây là vụ tư vấn, không có CHMC. Bài này chỉ cách bạn phân tích vấn đề để trả lời cho thân chủ. A. Trình bày A là một công ty ở nước ngoài, họ có một hợp đồng với công ty B là một doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam cho thuê thiết bị (lease) trong vòng 20 năm. Tuy nhiên, sau khi cho thuê được 10 năm thì công ty A chuyển nhượng hợp đồng cho thuê thiết bị của mình sang cho một công ty khác làC cũng ở ngoài Việt Nam. Công tyC đang là chủ của D một công ty 100% vốn nước
Một số vụ khác để mở rộng 263 ngoài tại Việt Nam, vàC muốn dùng thiết bị đang cho B thuê trong 10 năm còn lại để tăng vốn cho D. Thân chủC hỏi bạn D có được quyền tăng vốn với số thiết bị đã qua sử dụng hiện đang có tại Việt Nam không? Có những vấn đề gì có liên quan đến ý định này? B. Cách làm (B5) Khái quát hóa: Ngoài Việt Nam Tại Việt Nam A B thuê thiết bị của A A chuyển HĐ thuê của B choC C có D ở VN C Muốn chuyển thiết bị ở B làm vốn thêm cho D Bạn thấy tôi bỏ những chi tiết không liên quan tới nội dung câu hỏi. Để trả lời vụ này, bạn phải biết về thuế nhập khẩu đối với thiết bị cho thuê; về việc chuyển vốn từ ngoài vào cho công ty có vốn nước ngoài và về nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng. Tôi trả lời trên cơ sở bạn đã biết các luật ấy. Phân tích: a. Với câu hỏiC có được tăng vốn cho D với số thiết bị của B đang thuê không? CHMC là: Vốn mà công ty D nhận vào để nói là tăng vốn thì theo luật phải được chuyển cho D như thế nào? Hỏi như thế vì D là công ty có vốn đầu tư củaC ở Việt Nam, loại công ty này chỉ có thể tăng vốn theo hai cách: từ ngoài chuyển vào hoặc tăng vốn từ lợi nhuận giữ lại. Ở đây thiết bị mà B đang thuê đã là thiết bị ở Việt Nam rồi nên nó không nằm trong hai cách được phép làm của D. b. Số thiết bị mà B thuê được nhập theo chế độ tạm nhập tái xuất. Nó được miễn thuế, nhưng trên thực tế thuế nhập khẩu đã được trả rồi, khi nào xuất ra thì thuế được hoàn lại theo số năm đã sử dụng thiết bị. Vậy để cho phù hợp với luật điều chỉnh D về việc tăng vốn, số thiết bị phải được chuyển ra khỏi Việt Nam. Trên giấy tờ là như thế, nhưng thực sự là B trả thuế nhập khẩu để biến chúng thành nhập vào Việt Nam. D không trả được vì trước kia B nhập và hồ sơ của họ nằm ở hải
264 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ quan. Số thuế là bao nhiêu thì còn do hải quan định. Ở đây có vấn đề là thiết bị máy móc được mua từ vốn của công ty, hay để làm vốn cho công ty, thì chúng được miễn thuế nhập khẩu. Thành ra có khi B và D cùng đến hải quan để bàn bạc về chuyện bù trừ thuế giữa hai bên. Tuy nhiên chỉ với điều kiện là D đã được cấp phép tăng vốn bằng một giấy phép hay chứng nhận đầu tư điều chỉnh. c. Hàng mà B đã thuê 10 năm nay được chuyển cho D sẽ được coi là hàng đã qua sử dụng. Tuy nhiên khi chúng được mang vào Việt Nam lúc đầu còn mới thành ra B và D lại phải đến Bộ Khoa học Công nghệ để lấy ý kiến của Bộ về việc này. Khi bạn làm công việc này là tư vấn, dù làm như vậy có thể bạn không phải đặt ra CHMC nhưng vẫn phải suy nghĩ theo sự hợp lý và trong sự quy định của luật pháp. Ở đây bạn cần hiểu nguyên lý nằm dưới các quy định luật pháp, tại sao lại có điều khoản ấy. Vụ 34 Xe thuê mua Vụ này là một đề thi của Trường đào tạo các chức danh tư pháp, tôi có sửa đổi đi chút ít vì mục đích ở đây khác với nhà trường. Đây là một vụ tư vấn, chưa ra tòa, nên nguyên đơn, bị đơn chưa có; tuy nhiên vẫn có trọng tâm của vụ việc mà mình phải nhìn ra để định cách thức hành động theo yêu cầu của khách hàng. A. Trình bày Ngày 26/6/2000, Công ty cho thuê tài chính Petexim (một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; trụ sở chính 29 Lê Duẩn, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh) ký hợp đồng thuê mua với Công ty TNHH sản xuất và thương mại Cát Tường (một công ty TNHH được thành lập theo Luật Doanh nghiệp; trụ sở đặt tại 32/2 đường Thống Nhất, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh). Hợp đồng có các điều khoản chi tiết theo mẫu của bên cho thuê, trong đó có một số nội dung đáng lưu ý sau:
Một số vụ khác để mở rộng 265 1. Công ty cho thuê tài chính Petexim (sau đây gọi là bên cho thuê) cho công ty TNHH sản xuất và thương mại Cát Tường (sau đây gọi là bên thuê) thuê mua một chiếc xe ô tô 5 chỗ ngồi hiệu Mitsubishi Lancer đời 2000 có biển số đăng ký 51 LD–2951 trị giá 360.000.000 đồng. 2. Thời hạn thuê mua là 36 tháng. Tiền thuê mua được thanh toán làm 36 kỳ tương ứng với 36 tháng. Mỗi kỳ thanh toán 10.000.000 vào ngày mùng 5 hằng tháng. Lịch thanh toán cụ thể theo phụ lục đính kèm hợp đồng. 3. Trong thời gian thực hiện hợp đồng thì chiếc xe trên vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê. Khi bên thuê đã thanh toán đầy đủ tiền thuê của 36 kỳ thì bên cho thuê sẽ thực hiện thủ tục sang tên chiếc xe cho bên thuê. 4. Bên nào vi phạm hợp đồng sẽ bị phạt 12% giá trị hợp đồng. 5. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, nếu các bên không tự thương lượng được với nhau sẽ được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông và phán quyết của trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên. Trường hợp Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông không giải quyết thì sẽ kiện tại Tòa án theo sự chỉ định của bên cho thuê. Thực hiện hợp đồng, ngày 29/6/2000, hai bên đã tiến hành giao nhận chiếc xe nói trên. Sau khi nhận xe, bên thuê thanh toán được 11 kỳ theo thỏa thuận. Từ kỳ thứ 12 trở đi thì bên thuê không tiếp tục thanh toán tiền thuê. Việc ký hợp đồng thuê mua xe ô tô là hoàn toàn xuất phát từ lợi ích cá nhân của ông Nguyễn Quốc Hưng, một thành viên góp vốn điều lệ và là giám đốc của công ty Cát Tường. Ông Nguyễn Quốc Hưng chỉ lấy danh nghĩa công ty để ký hợp đồng thuê mua mà thôi. Bản thân hợp đồng thuê mua cũng do ông Hưng ký. Chiếc xe ô tô là tài sản thuê mua không được sử dụng cho hoạt động kinh doanh của công ty mà ông Hưng dùng cho các mục đích cá nhân. Tiền thuê mua được ông Hưng trực tiếp thanh toán hằng tháng từ tiền riêng của mình. Hơn nữa, từ tháng 5/2001, ông Nguyễn Quốc Hưng đã bị Hội đồng thành viên của công ty TNHH sản xuất và thương mại Cát Tường khai trừ khỏi công ty; mọi quyền lợi và nghĩa vụ của ông Hưng với tư cách là thành viên công ty đã được công ty giải quyết xong.
266 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Trên thực tế, chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Lancer đời 2000 có biển số đăng ký 51LD–2961 nói trên do bà Đỗ Thị Phượng sử dụng. Bà Đỗ Thị Phượng nói rằng ông Nguyễn Quốc Hưng đã thế chấp chiếc xe cho bà để vay số tiền 24.500 USD. Bà Phượng còn đưa cho luật sư xem “Giấy mượn tiền” do ông Nguyễn Quốc Hưng ký. Nội dung của giấy mượn tiền như sau: “Tôi tên Nguyễn Quốc Hưng, chứng minh thư số 02251455 làm giấy này để vay mượn của bà Đỗ Thị Phượng, chứng minh thư số 15478349 số tiền là 24.500 USD với lãi suất 4% tháng. Để làm tin, tôi xin cầm cố chiếc xe ô tô màu trắng hiệu Mitsubishi Lancer đời 2000 có biển số đăng ký 51 LD–296”. “Giấy mượn tiền” có chữ ký của bà Phượng và ông Hưng. Trả lời công văn yêu cầu trả chiếc xe ô tô, bà Phượng nói rằng bà sẵn sàng trả lại chiếc xe ô tô nói trên khi ông Nguyễn Quốc Hưng đã trả đầy đủ tiền vay cho bà; trường hợp ngược lại bà sẽ giữ chiếc xe để cấn trừ nợ của ông Hưng. Công ty cho thuê tài chính Petexim yêu cầu luật sư tư vấn để khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền. Luật sư tư vấn cho công ty thuê tài chính Petexim khởi kiện ở đâu? Đương sự trong vụ kiện nói trên được xác định như thế nào? Theo anh (chị) hướng giải quyết tranh chấp nói trên như thế nào? Tại sao? B. Cách làm Như đã nói ở trên, ta phải nhìn ra trọng tâm của vụ việc để định cách thức hành động theo yêu cầu của khách hàng. Công việc quan trọng là nhìn ra sự kiện mấu chốt. (B4) Cắt bỏ các chi tiết không liên quan để nhìn ra trọng tâm vụ việc. Sau khi đã nghe nội vụ với rất nhiều chi tiết thì bạn cắt các chi tiết không liên quan đi và chỉ còn giữ những sự kiện quan trọng hay chính trong đầu mình để suy nghĩ. Cắt bỏ cho gọn và đúng là tài phân tích của luật sư. Sau khi nghe như trên, tôi chỉ giữ những sự kiện sau: - Một xe hơi được Petexim cho Cát Tường thuê mua, 36 tháng, mới trả tiền 11/36 kỳ thì ngưng. - Xe do Hưng dùng, tự trả tiền. Xe đã bị thế chấp cho một người khác để vay nợ, nợ chưa trả. Nhớ là thuê mua để biết người cho thuê vẫn còn quyền sở hữu. Xe hiện bị thế chấp.
Một số vụ khác để mở rộng 267 (B6) Tôi giữ sự kiện mấu chốt là chiếc xe và đưa ra CHMC: Xe thuê mua mà bị đem thế chấp thì chủ xe (không thế chấp) có lấy lại được không? Hỏi như thế bạn thấy hai người ngay: (i) xe thuê mua mà đem đi thế chấp (bên thế chấp); (ii) nhận thế chấp một xe thuê mua (bên nhận thế chấp). Vậy cả hai người đều sai. Tức là chủ xe lấy lại được. Bạn coi đây là CHMC cũng được, vì nó do chính bạn chọn, bạn đặt tên; tuy nhiên phải gọi đúng tính chất, nếu không thì nhầm lẫn phụ thành chính. (B7) CHPT1: Làm sao lấy lại? Trả lời: bắt người thuê mua trả lại xe. CHPT 2: Ai thuê mua? Công ty Cát Tường hay ông Hưng? Bạn thấy là trong khi đi tìm câu trả lời thì ta vẫn đặt câu hỏi liên tục. Ta không để ý đến bà Phượng bây giờ vì đang nghĩ đến cái xe ở giai đoạn thuê mua. Có câu hỏi ta sẽ trả lời. Cát Tường ký với Petexim. Cát Tường chịu trách nhiệm. Chuyện ông Hưng dùng riêng và lấy tiền túi trả Petexim không cần biết; cứ dựa trên hợp đồng thuê mua. Đưa giải pháp: a. Bạn đề nghị Petexim thưa Cát Tường đòi lại xe hay đòi trả hết tiền thuê. Cát Tường đòi ông Hưng sau. Khi xe bị đòi lại thì sẽ có vụ tranh chấp giữa ông Hưng với bà Phượng. Nhưng đối với Cát Tường và Petexim thì bà Phượng khó lòng thách thức vì bà đã nhận thế chấp một xe thuê mua. Bà ta đã không xem xét đủ kỹ khi nhận thế chấp chiếc xe. b. Về câu hỏi khởi kiện ở đâu, thì hợp đồng ghi nơi giải quyết tranh chấp ở Trọng tài quốc tế ở Hồng Kông. Vậy đầu tiên là phải đưa tranh chấp ra nơi đó; vì theo điều 6 Luật trọng tài 2010 tòa sẽ từ chối xét xử. Sau khi không xong ở Hồng Kông mà muốn đưa ra tại tòa án Việt Nam, thì việc đó vẫn còn tùy quyền quyết định của tòa. Tất nhiên đây là đề thi nên câu hỏi đặt ra như vậy. Trên thực tế, sau này làm luật sư, bạn nhớ phải để giải quyết tại Việt Nam vì điều 24 Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và trước đó nữa thì hai bên là pháp nhân Việt Nam phải giải quyết tranh chấp tại Việt Nam; hơn nữa nếu là luật sư của Petexim bạn phải ghi xét xử tại Việt Nam vì khả năng vi phạm hợp đồng sẽ là bên thuê mua và kê biên tài sản họ ở Việt Nam dễ hơn so với ở nước ngoài.
268 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Sau khi đã suy nghĩ và đưa ra giải pháp như thế, bây giờ trả lời thân chủ, bạn sẽ viết hay nói theo như những chi tiết trong vụ, từ ngữ cũng như thế. Tất cả những gì tôi nói ở trên là những điều bạn suy nghĩ. Vụ 35 Thanh lý hợp đồng dịch vụ thiết kế Đây là vụ tư vấn. Nó giúp bạn biết cách phân tích. A. Trình bày Công ty số 1 (CT1) thuê Công ty A (CTA) thiết kế nội thất bằng một hợp đồng giá 200 triệu VNĐ và CT1 đã trả 90% tiền hợp đồng cho CTA. Tiếp theo CT1 chuyển công trình thiết kế kia cho Công ty 2 (CT2), thay vì lấy tiền mặt thì CT1 mua cổ