Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

CHƯƠNG

CHƯƠNG

CHƯƠNG 1 Một số vụ Dưới đây là một số vụ để các bạn thực tập. Tôi có sửa đổi đôi chỗ cho phù hợp với mục đích của chúng ta ở đây. Bạn hãy đọc mỗi vụ và suy nghĩ theo các bước đã biết trong Phần Hai, tìm ra câu hỏi pháp lý cho mình, sau đó kiểm lại với đề nghị của tôi trong Chương hai Giải đáp đề nghị. Vụ 46 Tranh chấp trong hợp đồng li–xăng liên quan đến việc thanh toán phí Các bên: Nguyên đơn: Công ty Pháp Bị đơn: Công ty Mỹ Tóm tắt vụ việc Nguyên đơn (công ty Pháp) ký một hợp đồng với Bị đơn (công ty Mỹ) theo đó Nguyên đơn nhượng quyền sử dụng tên và nhãn hiệu hàng hóa của mình trong ba năm cho Bị đơn, để sử dụng trên những sản phẩm do công ty này sản xuất và được tiêu thụ sản phẩm trong phạm vi lãnh thổ Mỹ. Thông thường theo phương thức hoạt động này, Bị đơn phải trả (sáu tháng một lần) các khoản phí tương đương với một số phần trăm nhất định của doanh thu và một khoản tiền đảm bảo tối thiểu trong mọi trường hợp (tiếng chuyên môn gọi là “royalty”, phí nhượng quyền). Về điều này, hợp đồng quy định rằng việc không thanh toán các khoản phí vào ngày đáo hạn tương ứng sẽ dẫn đến việc hợp đồng tự động hủy bỏ và việc không tuân thủ một trong những điều khoản của hợp đồng bởi một trong các bên cũng dẫn

Một số vụ 327 đến những hậu quả tương tự, mà không làm ảnh hưởng đến quyền được bồi thường thiệt hại của bên kia. Thực tế, Bị đơn chỉ thanh toán một khoản tiền bảo đảm tối thiểu theo hợp đồng trong năm đầu tiên và đã quyết định chấm dứt hợp đồng. Nguyên đơn kiện Bị đơn ra trọng tài tại Bruxelle, Bỉ, yêu cầu Bị đơn thanh toán khoản bảo đảm tối thiểu còn lại vào ngày đáo hạn theo quy định của hợp đồng trong khoảng thời gian hai năm. Phán quyết của Trọng tài Trọng tài viên bác bỏ yêu cầu trên của Nguyên đơn với các lý do sau: • Trên thực tế, khiếu nại này là trái với ý chí của các bên thể hiện trong hợp đồng, và trái với tập quán cũng như phong tục nói chung trong hoạt động thương mại, và đặc biệt là trong quan hệ thương mại quốc tế. • Các điều khoản của hợp đồng nói trên là hoàn toàn rõ ràng và cụ thể, và các điều khoản của hợp đồng không bao gồm điều khoản hạn chế hay bảo lưu nào dù là nhỏ nhất về tính hợp pháp và tự động của việc hủy bỏ hợp đồng. Từ các lý do trên, Trọng tài quyết định Nguyên đơn không có quyền và căn cứ để khiếu nại đòi được trả những khoản phí theo hợp đồng sẽ đến hạn sau ngày hủy bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, Trọng tài viên cho rằng Nguyên đơn có quyền nhận khoản đền bù thiệt hại do Bị đơn vi phạm hợp đồng, với điều kiện đã cố gắng hết sức mình nhằm giới hạn mức độ thiệt hại của vi phạm hợp đồng gây ra vì lý do: Điều 10 của hợp đồng có quy định rõ ràng điều khoản bảo lưu về quyền được bồi thường này. Khoản bồi thường được xác định là khoản bảo đảm tối thiểu đến ngày X, bởi vậy Bị đơn đã gửi thư thông báo dự kiến khả năng tiếp tục quan hệ hợp đồng trong khoảng thời gian xác định và do đó Nguyên đơn đã không tìm cách để đặt lại các quan hệ hợp đồng mới với một hay nhiều công ty ở Mỹ khác để thay thế cho quan hệ hợp đồng với Bị đơn. Triển vọng về đàm phán và bàn bạc với Bị đơn không còn kể từ ngày X. Kể từ ngày X, Nguyên đơn lẽ ra phải nỗ lực thiết lập những quan hệ mới nhằm bù đắp những thiệt hại gây ra do chấm dứt hợp đồng với Bị đơn; Nguyên đơn đã không đưa ra một

328 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ bằng chứng nào dù nhỏ nhất về các nỗ lực này. Do đó, hoàn toàn hợp lý và công bằng khi cho rằng nếu như Nguyên đơn đã tiến hành những nỗ lực như vậy thì Nguyên đơn đã có thể giảm một nửa những thiệt hại gây ra do sự chấm dứt hợp đồng nói trên với Bị đơn. Cuối cùng, vấn đề phải bàn bạc đồng tiền nào sẽ được chọn là đồng tiền thanh toán. Vấn đề này, Trọng tài viên đã tuyên bố như sau: Xét rằng trong hợp đồng do hai bên ký kết, đồng đô la đã được sử dụng như đồng tiền thanh toán do vậy cũng phải là đồng tiền được sử dụng trong phán quyết, và thậm chí là đồng tiền sử dụng để bồi thường, bởi vì khoản này nhằm đền bù những tổn thất trên thị trường Mỹ. Vụ 47 Tranh chấp trong hợp đồng liên doanh Các bên: Nguyên đơn: Một công ty Trung Quốc. Bị đơn: Một công ty Pháp Tóm tắt vụ việc Ngày 16 tháng 5 năm 1992, Nguyên đơn, Bị đơn và hai bên khác ký Hợp đồng Liên doanh thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Thượng Hải chuyên sản xuất quần áo. Văn bản chấp thuận thành lập Liên doanh được ban hành ngày 21 tháng 6 năm 1992 và giấy phép kinh doanh được cấp vào ngày 02 tháng 6 năm 1992. Ngày 25 tháng 8 năm 1992, Liên doanh bắt đầu hoạt động. Ngày 15 tháng 10 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Liên doanh, một thành viên Hội đồng quản trị do Bị đơn chỉ định và một số người khác đến văn phòng kinh doanh của Liên doanh lấy đi giắc cắm điện thoại và tuyên bố Liên doanh ngừng hoạt động để tiến hành một số điều chỉnh. Họ cũng niêm phong két an toàn và ba ngăn kéo bên trái bàn làm việc của nhân viên phụ trách tài chính, giữ chìa khóa ô tô của Liên doanh và bằng lái xe của nhân viên lái xe. Sáng 16 tháng 10 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng quản trị cử đại diện đến ngân hàng để đóng tài khoản của Liên doanh nhưng đã bị ngân hàng từ chối. Ngày hôm sau, tài khoản của Liên doanh ở

Một số vụ 329 Chi nhánh Thượng Hải của Ngân hàng Đầu tư Trung Quốc đã bị đóng. Vì vậy mọi hoạt động của Liên doanh bị ngừng lại. Nguyên đơn kiện Bị đơn vi phạm hợp đồng và gây thiệt hại 960.000 Nhân dân tệ cho Liên doanh. Theo điều 43 của Hợp đồng Liên doanh, bất kỳ bên nào cản trở việc thực hiện các điều khoản hợp đồng và các phụ lục kèm theo sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng. Điều 54 của Điều lệ Liên doanh quy định Nguyên đơn được hưởng lợi nhuận từ hoạt động của Liên doanh theo tỷ lệ góp vốn điều lệ của Liên doanh, tức 15% lãi thu được của Liên doanh. Vì vậy, hành vi của Bị đơn gây thiệt hại cho Nguyên đơn 144.000 nhân dân tệ. Nguyên đơn đã kiện Bị đơn ra Văn phòng Thượng Hải của Ủy ban trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc (CIETAC) theo điều 46 của Hợp đồng liên doanh yêu cầu: • Bị đơn phải bồi thường cho Nguyên đơn 144.000 nhân dân tệ. • Phí trọng tài do Bị đơn chịu. • Bị đơn phải trả 3.700 nhân dân tệ chi phí pháp lý. Bị đơn lập luận rằng Phòng kinh doanh của Liên doanh thực tế đã được tổng giám đốc và một thành viên Hội đồng quản trị thành lập một cách bất hợp pháp. Tổng giám đốc và thành viên đó đều do Nguyên đơn chỉ định. Việc thành lập Phòng kinh doanh không chỉ vi phạm Hợp đồng liên doanh, Điều lệ Liên doanh mà còn vi phạm các bộ luật và quy định thương mại và công nghiệp của Trung Quốc. Hơn nữa, hành động của Chủ tịch Hội đồng quản trị Liên doanh (do chính Nguyên đơn chỉ định) vào ngày 15 tháng 10 năm 1992 và những ngày sau đó không phải chỉ là hành động đơn phương của Bị đơn. Hành động này được tiến hành theo quyết định chung của năm thành viên Hội đồng quản trị. Những hành vi này của họ gây tổn thất cho Liên doanh nhưng đã được thực hiện và được Hội đồng quản trị phê chuẩn sau đó bằng quyết định ngày 21 tháng 10 năm 1992. Phán quyết của Trọng tài Phòng kinh doanh của Liên doanh là một bộ phận nội tại chứ không phải là một chi nhánh của Liên doanh. Theo Quy định về quản lý thương mại và công nghiệp và ý kiến của Sở thương mại và công nghiệp Thượng Hải, không cần thẩm tra, phê chuẩn và cũng không cần đăng ký với Sở thương mại công nghiệp địa phương khi thành lập một phòng ban của Liên doanh.

330 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Hành động của Chủ tịch Hội đồng quản trị do Nguyên đơn chỉ định vào ngày 15 tháng 10 năm 1992 và những ngày sau đó không được toàn bộ Hội đồng quản trị thông qua, mà chỉ được sự đồng ý của một số thành viên Hội đồng quản trị. Sau đó, hành động đã được thông qua bằng một nghị quyết của Hội đồng quản trị vào ngày 21 tháng 10 năm 1992 nhưng chỉ có vài thành viên Hội đồng quản trị tham dự cuộc họp. Vì hành động đã không được toàn bộ thành viên Hội đồng quản trị thông qua nên nó hoàn toàn trái với các điều khoản trong Hợp đồng liên doanh và Điều lệ Liên doanh. Trong thời hạn từ 28 tháng 8 năm 1992 (khi Liên doanh bắt đầu hoạt động) cho đến ngày bắt đầu tố tụng trọng tài, Liên doanh chưa chính thức sản xuất hay ký kết hợp đồng với bất kỳ khách hàng nào. Vì vậy yêu cầu của Nguyên đơn đòi bồi thường 144.000 nhân dân tệ không có đủ chứng cứ và đã bị Ủy ban trọng tài bác. Xét thấy cả Nguyên đơn và Bị đơn đều không yêu cầu hủy Hợp đồng liên doanh, Ủy ban trọng tài đề nghị cả Nguyên đơn và Bị đơn và hai bên kia tuân thủ các điều khoản của Hợp đồng liên doanh, Điều lệ Liên doanh, Luật Liên doanh với nước ngoài của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quy định về việc thi hành Luật Liên doanh với nước ngoài của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả các vấn đề của Liên doanh phải được xem xét và quyết định bởi Hội đồng quản trị Liên doanh. Nếu tranh chấp phát sinh thì phải báo cáo cho cơ quan chính phủ có liên quan hoặc tốt nhất nên giải quyết thông qua tư vấn hay hòa giải của bên thứ ba. Phí trọng tài sẽ do cả Nguyên đơn và Bị đơn trả. Nguyên đơn trả 35% phí trọng tài và

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 126

Đang tải bình luận...