Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

phần chuyển nghĩa vụ dân sự này liệu

phần chuyển nghĩa vụ dân sự này liệu

phần chuyển nghĩa vụ dân sự này liệu có đăng ký với pháp luật chưa, vì chỉ mới là ý kiến của chồng bà Ba và việc chuyển nghĩa vụ dân sự áp dụng được không trong trường hợp này?”. GK.D: “Đây là một lỗi xuất phát từ một hành vi trái pháp luật. Không thể chuyển một lỗi do vi phạm sang cho người khác thành một nghĩa vụ được.”… Chó cắn người ta thì phải bồi thường. GK.E trở về vị trí của người ra đề, vừa cười vừa nói: “Đề đã cố đẩy hết các tình tiết có lỗi về phía bà Ba: không đi chích ngừa, chích ngừa không đủ liều… là cố ý gài cái bẫy thôi! Về mặt pháp luật, BLDS quy định rõ: Chủ sở hữu nuôi súc vật mà không bảo quản, để cắn người ta là đương nhiên có lỗi rồi, phải bồi thường thôi. Kế bên điều 629 (về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra) là điều 630 (bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra): Chó cắn thì phải bồi thường, cũng như cây của anh ngã trúng người ta thì anh phải bồi thường. Ở đây cũng không cần đặt vấn đề lỗi hay không lỗi của người chủ cây. Ông Anh làm mọi việc (chích thuốc, rửa ráy…) chính là để khắc phục hậu quả của hành vi trái pháp luật của mình (nuôi chó để chó cắn người khác gây hậu quả chết người). Việc khắc phục hậu quả chỉ làm giảm bớt trách nhiệm bồi thường chứ không thể làm miễn hết trách nhiệm bồi thường của ông Anh. Dù cho ông Anh đích thân chở bà Ba đi chích ngừa đủ theo lời dặn của bác sĩ mà vẫn chết thì ông Anh cũng vẫn phải bồi thường.

314 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Trừ trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại (như GK.D nói: chọc phá chó) thì người chủ súc vật mới không phải bồi thường, chứ đây là lỗi của vợ chồng bà Ba sau khi bà Ba đã bị chó cắn rồi”. GK.B và GK.K nhất trí với sự dứt khoát của GK.E và GK.D. Riêng GK.A vẫn bảo lưu quan điểm. Câu hỏi mấu chốt ở đây là gì? Theo bạn có thể có cách đặt câu hỏi mấu chốt khác không? B. Nhận xét 1. Các giám khảo lập luận bắt đầu từ câu hỏi rằng “Đầu tiên là bị chó cắn, sau đó tiêm phòng. Tiêm phòng không đầy đủ nên chết. Như vậy phải xét theo nguyên nhân nào là chủ yếu?”. Các lập luận đã xoáy vào cơ sở “tiêm không đủ – chết” coi đó là một quan hệ nhân quả. Từ đó dẫn đến cả bệnh viện, bác sĩ, thú y. Kết luận cuối cùng buộc ông Anh có trách nhiệm theo luật không làm hài lòng toàn thể hội đồng. 2. Nếu chúng ta phân tích nội vụ thì sẽ thấy các sự kiện quan trọng sau đây mà chúng ta gọi là khái quát hóa sự kiện (B5): i. Bà Ba bị con chó của ông Anh cắn – Ông Anh đã trả đủ chi phí để bà Ba tiêm năm mũi theo đúng như bác sĩ yêu cầu; ii. Chồng bà Ba nói với ông Anh đại ý là để tôi chở bà ấy đi cho, đừng có lo. iii. Bà Ba không đi chích đủ bị chết. Bạn chú ý xem tôi cắt bỏ những chi tiết không liên quan, lấy theo một gốc là bà Ba, như thế nào. Với câu hỏi mà GK.A đã nêu ra ta thấy sự kiện (ii) bị bỏ sót. Đây là sai sót quan trọng trong TDPL nên đã dẫn đến các sự lập luận và kết luận như đã thấy. Qua sự kiện (i) ta thấy ông Anh nhận trách nhiệm đầy đủ của chủ vật nuôi. Nếu không đủ là vì có sự kiện (ii) lời nói “đừng có lo” của chồng bà Ba. Cái chết của bà Ba có liên quan đến hai sự kiện trên và nó không liên quan đến bệnh viện hay bác sĩ như các giám khảo đã lập luận vì ông Ba thưa ông Anh đòi bồi thường. Tuy nhiên trước kia ông Ba đã giải trừ trách nhiệm cho ông Anh ở một mức độ nào đó khi nói “đừng có lo”. Vậy CHMC là: “Câu nói

Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 315 của ông Ba đã giải trừ trách nhiệm cho ông Anh đến mức nào, tất cả hay đa phần hay một phần?”. Lập luận như thế chúng ta không lạc đề và phù hợp với logic. Kết luận của GK.E không đúng vì đã bỏ sót sự kiện (ii). GK.A có cảm nhận đúng về trách nhiệm gắn cho ông Anh, nhưng không đưa ra được lập luận thuyết phục. Nếu giả sử bà B tiêm đủ mà chết thì sao, lúc ấy là trách nhiệm của bệnh viện chứ không phải của ông Anh. Nếu vụ này đưa ra tòa, mà tòa có CHMC như của ta ở đây thì tòa sẽ lý giải để ấn định phần trách nhiệm của ông Anh. Bản án của tòa – nếu ở các nước khác – sẽ trở thành án lệ vì nó giải quyết một trường hợp không được lường ra trong luật. Vụ 45 Chú bé trong đống rơm Đây là một vụ tiêu biểu cho thấy một vụ việc xảy ra thì sẽ có nhiều ý kiến nhận xét. Những người bình luận là những vị chức sắc tên tuổi nên tôi chọn bài này để trình bày cho các bạn và không có ý kiến. Bạn sẽ ủng hộ ý kiến nào? A. Trình bày Chiếc xe tải chạy qua đống rơm to, máy tuốt lúa đang phun rơm trên đường, lái xe (Hào) không biết có em nhỏ (Hoàng) nằm trong đó, xe chạy qua cán em chết… Các ý kiến 1. Ông Phó Chánh tòa Hình sự TAND tối cao: Không phải là sự kiện bất ngờ nhưng lái xe cũng phải bồi thường. Trước hết, để đánh giá một cách khách quan, toàn diện và xác định một cách chính xác trách nhiệm của những người có liên quan đến cái chết của cháu Hoàng, cần phải có đầy đủ các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập, đặc biệt với các vụ tai nạn giao thông thì sơ đồ hiện trường là tài liệu rất quan trọng để có thể xác định lỗi của người lái xe. Tuy nhiên, vấn đề mà bài báo đặt ra ở đây, theo chúng tôi, lại không nhằm vào việc xác định lỗi của lái xe mà lại là vấn đề liên quan đến các chế định pháp lý. Giả thuyết cứ coi

316 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ như là đã có đủ căn cứ xác định lái xe Hào không có lỗi gây ra cái chết cho cháu Hoàng thì đây là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật Hình sự? Có phải là “sự kiện bất ngờ” không? Vấn đề trách nhiệm dân sự sẽ đặt ra như thế nào? Chúng tôi đồng tình với các ý kiến xác định trường hợp này không phải là sự kiện bất ngờ, bởi theo lý luận cũng như thực tế xét xử, nó không “rơi” vào hai trường hợp được coi là sự kiện bất ngờ là: (i) không thể thấy trước hậu quả hoặc (ii) không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi. Cả hai trường hợp không thấy trước được hậu quả hoặc không buộc phải thấy trước thì khi hậu quả xảy ra, người gây thiệt hại cũng phải biết là đã gây thiệt hại. Theo nội dung vụ án thì sau khi cho xe chạy qua đống rơm, lái xe không hề biết mình đã cán chết người nên càng không phải là sự kiện bất ngờ. Vậy, cái chết của cháu Hoàng và hành vi của lái xe Hào là một sự kiện pháp lý gì, do ngành luật nào quy định? Chúng tôi cho rằng không nên cố đi tìm một chế định pháp lý nào đó được quy định trong Bộ Luật Hình sự để “ấn” sự kiện thực tế vào mà chỉ cần xác định trường hợp gây thiệt hại này, người gây thiệt hại không có lỗi là đủ. Thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp không thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đã được quy định trong Bộ Luật Hình sự, như tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng hoặc sự kiện bất ngờ, nhưng vì người có hành vi gây thiệt hại không có lỗi nên cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì nó thiếu một yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm. Không có lỗi thì cũng không thể đặt vấn đề trách nhiệm đối với người gây thiệt hại dù đó là trách nhiệm gì: hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, vì các loại trách nhiệm này đều phải dựa trên cơ sở lỗi. Khoản 3 Điều 627 LDS quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi” nhưng vẫn trừ hai trường hợp: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị hại và thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm a, b khoản 3 điều 627 LDS). Cho đến nay, chưa có một giải thích chính thức nào về trường hợp bất khả kháng nhưng qua thực tiễn xét xử các vụ án gây tai nạn giao thông, chúng tôi thấy chủ sở hữu hoặc người

Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 317 được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại nếu như người bị hại có lỗi hoàn toàn, dù đó là lỗi cố ý hay vô ý. Nếu không giải quyết như vậy sẽ mâu thuẫn với lý luận về cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó cũng có thể hiểu người gây thiệt hại không có lỗi là một trường hợp bất khả kháng. 2. Ông Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hành chính – Hình sự, Bộ Tư pháp: Lỗi hoàn toàn thuộc về phía bị hại. Chúng tôi khẳng định đây là sự kiện bất ngờ, vì tình huống này lái xe không thể thấy trước và cũng không buộc phải thấy trước. Chúng tôi đi công tác về địa phương cũng từng chứng kiến cảnh tuốt lúa bên đường, bụi ghê gớm. Bụi như thế thì khả năng người lái xe có thể nhìn thấy đứa trẻ từ xa rất khó xảy ra. Theo bài báo thì anh lái xe đã dừng lại, quay kính xe lên rồi mới đi tiếp. Chắc chắn lúc ấy anh lái xe phải không thấy người nào trên đống rơm thì mới cho xe đi tiếp. Pháp luật không đòi hỏi và không thể buộc người lái xe thấy bất cứ đống rơm nào trên đường cũng phải dừng lại, xóc lên xem có gì trong đó không rồi mới chạy qua. Lái xe cũng không thể tránh sang bên vì vướng cái cột điện bên đường và đi qua rồi cũng không biết đã chẹt (cán) chết người. Các ý kiến dẫn Khoản 3 Điều 627 Bộ Luật Dân sự để cho rằng người lái xe dù không có lỗi cũng phải bồi thường là chưa chính xác. Điều này quy định: Chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại trừ trường hợp hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Ở đây, đứa trẻ đã tự ý chui vào đống rơm choán trên mặt đường có xe cộ qua lại mà bị chết nên lỗi hoàn toàn là do đứa trẻ ấy. Do đó, người lái xe không phải bồi thường. 3. Luật gia HTT: Đó là sự kiện bất ngờ – Cần chỉnh sửa Bộ Luật Dân sự. Tôi hoàn toàn đồng ý đây là trường hợp điển hình về khái niệm sự kiện bất ngờ. Trong bài viết, tác giả không hề nói người lái xe có nhìn thấy những đứa trẻ đang chơi đùa. Như vậy, khi chỉ nhìn thấy đống rơm cao choán gần hết mặt đường thì việc cho xe trườn qua để chạy tiếp là rất bình thường (ở nông thôn, xe cán qua đống rơm, đống lúa diễn ra như cơm bữa và người lái xe

318 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ chỉ quan tâm đến việc xe có qua được hay không…). Người lái xe không thể thấy trước và cũng không buộc phải thấy trước trong đống rơm có một đứa bé. Chính vì thế, anh ấy không có lỗi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của mình gây ra (nhất là khi đứa bé lại nằm ở bánh sau xe). Còn về việc thông báo hiệu bằng còi, đèn trước khi cho xe chuyển bánh…, theo tôi chỉ là những vi phạm hành chính và nếu cần thì chỉ có thể xử phạt hành chính ngýời lái xe theo Nghị ðịnh 36/CP. Riêng về việc bồi thường, tôi xin khẳng định: Người lái xe vẫn phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi (vì điều 627 Bộ Luật Dân sự có loại trừ một số trường hợp nhưng trong đó không có trường hợp cụ thể này). Tuy vậy, tôi lại băn khoăn: theo điều 617 thì khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình… Quy định như vậy có thể suy diễn: Không có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường? Mà nếu vậy thì trái với điều 627 rồi. Theo tôi, nên ghi thêm vào điều 621: Quy định này không áp dụng trong trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. 4. Luật gia MV Thú thật tôi không hiểu hết ý ông ĐVQ trong bài viết đăng trên số báo vừa rồi, song tôi nghĩ: về nguyên tắc, khi giải quyết một vụ án cụ thể, ta phải áp dụng pháp luật hiện hành; chứ không thể vận dụng “thực tế xét xử” hay theo “lý luận”, nếu thực tế xét xử đó và lý luận đó không phù hợp pháp luật. Cụ thể như trong vụ án này, khoản 3 điều 627 LDS đã quy định rõ “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi, trừ (…)”. Vậy thì khi anh sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô–tô) dù anh không có lỗi đi nữa mà lỡ gây ra thiệt hại cho người khác thì anh phải bồi thường. Chứ anh không được quyền bảo rằng “theo thực tế xét xử”, “theo lý luận” nào đó để chối bỏ nghĩa vụ phải bồi thường của anh. Tại sao pháp luật đã quy định rõ ràng như vậy mà anh không áp dụng, để đi tìm cách vận dụng cái thực tế trái pháp luật, cái lý thuyết không được nêu thành luật? Phải chăng đó là kiểu tùy tiện như một vị có trách nhiệm của ngành Tòa án đã từng giải trình trước Quốc hội: “Về dân sự, muốn xử sao cũng được”!

Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 319 Ý kiến của ông Phó Chánh án Tòa Dân sự TAND Tối cao và Luật gia HTT cũng đã đồng tình với việc áp dụng khoản 3 điều 627 trong trường hợp này, buộc lái xe phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra dù anh ta không có lỗi. Nhưng luật giaT. lại cho việc lái xe cán chết em bé trong đống rơm là “sự kiện bất ngờ” vì “lái xe trườn qua đống rơm để chạy tiếp là rất bình thường”, “không buộc người lái xe phải thấy trước trong đống rơm có một đứa bé”; “còn việc không báo hiệu bằng còi trước khi cho xe chuyển bánh chỉ là vi phạm hành chính, nếu cần có thể xử phạt hành chính người lái xe theo theo Nghị định 36/CP” … Tôi hoàn toàn không đồng ý với ý kiến của ông T. là chỉ có thể xử phạt hành chính người lái xe. Bởi, từ trước đến nay, các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Giao thông Đường bộ (Nghị định số 49/CP ngày 26/7/1995 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 78/1998/NĐ–CP ngày 26/9/1998 và mới đây được thay thế bằng Nghị định số 39/2001/NĐ–CP ngày 13/7/2001 của Chính phủ – không phải Nghị định 36/CP như ông T. đã nêu) đều không hề quy định hành vi “không báo hiệu bằng còi trước khi cho xe chuyển bánh” là vi phạm hành chính và bị xử phạt hành chính, thì làm sao phạt được? Hơn nữa, ông T. đã cho rằng trường hợp đó là “sự kiện bất ngờ” rồi, thì làm sao xử phạt hành chính được? Có phải về nguyên tắc trong trường hợp này “không buộc người lái xe phải thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội” không? – Xin thưa, chính Nhà nước đã thấy rõ việc dừng xe, cho xe chuyển bánh mà không báo hiệu trước sẽ gây nguy hiểm, gây thiệt hại cho người và xe khác trên đường, nên Nhà nước mới quy định trong quy tắc giao thông đường bộ rằng “lái xe trước khi cho xe chuyển bánh phải báo hiệu bằng còi…” (khoản a điều 32 Điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 và khoản 2 điều 32 Nghị định số 36/2001/NĐ–CP ngày 10/7/2001 của Chính phủ). Điều luật đó buộc ai cũng phải biết, buộc người lái xe nào cũng phải biết và chấp hành. Vậy thì không thể nói “Việc cho xe chuyển bánh không bóp còi, cán lên đống rơm để đi qua là chuyện bình thường” cũng như không thể nói trong trường hợp này, lái xe “không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại của hành vi đó”. Tuy “không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước hậu quả đó” thì anh ta có lỗi vô ý cẩu thả rồi.

320 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Còn ông nói “đứa bé đã tự ý chui vào đống rơm choán trên mặt đường có xe cộ qua lại mà bị chết” là “lỗi cố ý của người bị thiệt hại” tôi càng hết sức bất ngờ! Nó cố ý chui vào đống rơm, chứ đâu phải nó cố ý tìm cái chết? Hai việc này hoàn toàn khác nhau. Trong vụ tai nạn này, đứa bé có lỗi vô ý thôi. Chừng nào nó biết xe chạy qua mà nó vẫn chui đầu vào bánh xe cho chết (nó tự tử chẳng hạn) hay biết xe cán chết mà nó vẫn nằm đó cho xe cán thì đứa bé mới có lỗi cố ý, và chừng đó người lái xe mới không phải bồi thường… 5. Luật gia HTT: Phải xác định rõ đâu là nguyên nhân. Tôi tiếp tục khẳng định đó là sự kiện bất ngờ. Người lái xe không thể thấy trước và không buộc phải thấy trước trong đống rơm có một đứa bé. Chi tiết đứa bé bị cán bởi bánh sau xe càng khẳng định người lái xe không hề có lỗi. Riêng về việc không báo hiệu bằng còi, đèn trước khi cho xe chuyển bánh…, tôi xin nói lại cho rõ: nếu việc này bị coi là vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn giao thông đường bộ thì nó cũng chỉ là những hành vi vi phạm hành chính mà thôi. Khi đó, việc xử phạt cũng phải được căn cứ vào Nghị định số 49/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ (hoặc theo Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001 và Nghị định số 39/CP ngày 13/7/2001 của Chính phủ). Cuối cùng, tôi xin lưu ý nhỏ: muốn truy cứu trách nhiệm hình sự của một người lái xe trong một vụ tai nạn giao thông thì cần phải xác định cho đúng những lỗi nào của người đó là nguyên nhân gây nên tai nạn. Hành vi không báo hiệu nêu trên, nhất là khi nó xảy ra ở khu vực không đông dân cư, không có bóng người và trẻ em nô đùa xung quanh… (theo như bài báo trước đây đã nêu), hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây nên cái chết của đứa bé. 6. Nhận xét của tác giả bài báo Có phải là sự kiện bất ngờ Về vấn đề này có thể gom thành 3 dạng ý kiến: Dạng ý kiến thứ nhất khẳng định trường hợp này là sự kiện bất ngờ: Lý lẽ chủ yếu là trong trường hợp này, người lái xe không thể thấy trước và không buộc phải thấy trước hậu quả gây chết người khi cho xe trườn qua đống rơm. Nói cụ thể hơn, như Luật gia HTT, là người lái xe không thể thấy trước và cũng không bị buộc phải thấy trước trong đống rơm có một đứa bé; việc cho xe trườn qua đống rơm để chạy tiếp ở đây là rất bình thường,

Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 321 chuyện này ở nông thôn diễn ra như cơm bữa và người lái xe chỉ quan tâm đến việc xe có qua được hay không… Ông Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hành chính, Bộ Tư pháp, cũng nhấn mạnh: Pháp luật không đòi hỏi và không thể buộc lái xe thấy bất cứ đống rơm nào trên đường cũng phải dừng lại, xốc lên xem có gì trong đó hay không rồi mới chạy qua. Và chắc chắn là người lái xe phải không thấy người nào trên đống rơm thì mới cho xe đi tiếp. Dạng ý kiến thứ hai trái ngược với dạng ý kiến trên: Luật sư PĐT và Luật gia MV đều xác định không thể coi đây là sự kiện bất ngờ. Người lái xe trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm hình sự do đã có lỗi, vì không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải làm. Những nghĩa vụ đó là: Trước khi cho xe chuyển bánh hoặc đỗ, phải kịp thời báo hiệu bằng còi, đèn hoặc bằng tay cho người trên đường biết; phải luôn luôn chú ý đến tình trạng mặt đường và các chướng ngại vật trên đường để đề phòng mọi nguy hiểm có thể xảy ra… Nhiều ý kiến khác theo “trường phái” này cũng phân tích thêm: Người lái xe phải biết phía sau, bên trong đống rơm to tướng như vậy tiềm tàng những mối nguy hiểm cho mình và cho người khác. Anh ta đã có lỗi vô ý do cẩu thả. Tranh cãi qua lại, các ý kiến thuộc “trường phái sự kiện bất ngờ” phản bác: Việc người lái xe vi phạm nghĩa vụ phải báo hiệu, phải chú ý tình trạng mặt đường, chướng ngại vật… không thể coi là lỗi để xử lý hình sự anh ta. Các vi phạm này chỉ có thể xử lý hành chính; thực tế cũng có khả năng dù người lái xe thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ ấy, cái chết của cháu bé vẫn không thể loại trừ… Ý kiến thuộc “trường phái có lỗi” thì kiên quyết bảo vệ quan điểm: Pháp luật đã quy định nghĩa vụ, người lái xe nào cũng phải biết và chấp hành. Người lái xe trong trường hợp này đã không làm đủ nghĩa vụ tức là có lỗi, là vi phạm pháp luật. Cũng có một dạng ý kiến trung dung – có thể là sự kiện bất ngờ nhưng cũng có thể không phải: Luật sư NMT cho rằng cần xem xét thêm trách nhiệm của những người có mặt tại hiện trường và tìm hiểu thêm xem người lái xe trước đó có thấy mấy đứa trẻ chơi đùa rồi sau đó không thấy nữa hay không… Những người

322 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ có mặt bên máy tuốt lúa thấy mấy đứa trẻ chơi đùa bên đống rơm, khi xe đến, lẽ ra họ phải báo cho người lái xe biết. Trường hợp người lái xe không được ai báo cho biết và không thấy việc chơi đùa của những đứa trẻ thì anh ta không có lỗi. Lỗi và trách nhiệm bồi thường Bàn thêm về vấn đề lỗi, một yếu tố cấu thành tội phạm và là cơ sở xác định trách nhiệm dân sự, Ông Phó Chánh án Tòa hình sự TAND Tối cao, đi xa hơn về mặt lý luận: Không nên cứng nhắc trong việc áp dụng pháp luật theo kiểu nếu không có lỗi tức là sự kiện bất ngờ. Nhiều tình huống người có hành vi gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự… lại không thuộc vào một chế định đã có tên gọi sẵn được quy định trong luật. Vấn đề phải được giải quyết trên cơ sở xác định lỗi. Không có lỗi thì không thể đặt vấn đề trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự… Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các ý kiến thuộc trường phái xác định người lái xe có lỗi, đương nhiên dẫn đến hệ quả: người lái xe chẳng những bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn có nghĩa vụ bồi thường. Dạng ý kiến thứ hai xác định đây là dạng lỗi hỗn hợp: Cả đứa bé, gia đình đứa bé, chủ máy tuốt lúa và người lái xe đều có lỗi. Ông Phó Chánh án Tòa dân sự TAND Tối cao, xác định chủ xe hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng xe và người chủ máy tuốt lúa phải liên đới bồi thường thiệt hại. Do xe cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ, nhiều ý kiến thống nhất áp dụng khoản 3 điều 627 Bộ Luật Dân sự buộc chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường cả khi không có lỗi. Tuy nhiên, một số ý kiến cũng vận dụng điều 627 Bộ Luật Dân sự xác định trong trường hợp này, người lái xe được loại trừ trách nhiệm bồi thường. Ông ĐVQ cho rằng có thể coi đó là trường hợp bất khả kháng, ông NQV cho đó là trường hợp hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Ở đây phát sinh vấn đề “chỏi” nhau trong quy định giữa các điều của Bộ Luật Dân sự. Một số điều (điều 209, điều 621) xác định nguyên tắc có lỗi (vô ý hoặc cố ý) gây thiệt hại mới phải bồi thường; lỗi đến đâu bồi thường đến đó (theo phần tương ứng với mức độ lỗi của mình)… nhưng điều 627 lại quy định biệt lệ: Không có lỗi cũng phải bồi thường. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu, cách vận dụng trong thực tiễn.

Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 323 Tóm lại, sự đời luôn rắc rối, người ta có nhiều cách đặt vấn đề và giải quyết khác nhau. Luật pháp không thực sự giải quyết các rắc rối trong đời mà chính là sự nhân nhượng nhau giữa các bên. TỔNG KẾT PHẦN HAI Để tổng kết, tôi xin nhắc lại một số khó khăn mà bạn cần phải vượt qua để TDPL nhanh và sắc bén. 1. Thuật ngữ pháp lý trang trọng mà bạn đã quen dùng phải được chuyển đổi để thành ngắn, gọn rõ khi đưa vào đầu lúc TDPL. Thế nhưng khi nói hay viết thì vẫn phải dùng lại các thuật ngữ kia. 2. Sau khi xác định quan hệ pháp luật, thì biết tư cách của các bên, trong đó thân chủ của mình là ai, bên nào, thì không đắm chìm trong quan hệ pháp luật, địa vị pháp lý nữa mà tập trung suy nghĩ của mình vào tư cách của thân chủ mình; khi nhắm vào thân chủ mình thì sẽ liên tưởng đến tư cách của đối phương. Tư cách bao gồm quyền lợi và nghĩa vụ của chủ thể. Những thứ đó do ngành luật điều chỉnh ấn định; cho nên không sợ suy nghĩ theo tư cách thì bỏ qua luật! 3. Không vì yêu cầu “sự thật khách quan, đầy đủ và toàn diện” mà nhìn cả hai bên trong nội vụ để hỏi “còn bên kia thì sao, mình có còn công bằng như luật đòi hỏi không”. Đấy là việc của thẩm phán. Luật sư đứng về một bên, là thân chủ của mình, và TDPL là sẽ đạt yêu cầu kia. Trước mặt thẩm phán luôn luôn có hai bên, nên họ phải nhìn theo quan hệ pháp luật và “khách quan, toàn diện, đầy đủ”. Luật sư không nên áp dụng nguyên tắc đó. Muốn có sự công bằng thì phải có luật sư bên kia. Tòa án xem xét lý lẽ của hai bên để ra một bản án công bằng. Luật sư được thân chủ trả tiền thì theo lẽ … công bằng phải “ăn cây nào rào cây ấy”. 4. Khi TDPL có nhiều cách thì cách nào giúp bạn làm, nhanh, đúng và khi trình bày được nhiều người ủng hộ, nhất là thẩm phán, thì đó là cách hay nhất. Các bạn nhớ là đối với luật sư chân lý là cái gì được nhiều người ủng hộ nhất vào một lúc nào đó và ở một nơi nào đó. Giữ các điều trên trong đầu khi TDPL và lúc hành nghề. Bây giờ bạn sẽ thử sức mình trong

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 125

Đang tải bình luận...