phần vốn góp tại Công ty Thaco–Kia Đà Nẵng. Sau đó, các bên không thỏa thuận được về giá chuyển nhượng, và không thống nhất được toàn bộ các vấn đề liên quan nên thời gian thực hiện việc chuyển nhượng vốn góp bị kéo dài khiến hoạt động của Thaco–Kia Đà Nẵng ngưng trệ, gây thiệt hại về kinh tế đối với ông Hồ Đắc Tuấn.
280 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ngày 01/12/2011, ông Tuấn có đơn xin thay đổi nội dung khởi kiện: “Đề nghị quý Tòa giải quyết về việc chuyển nhượng vốn góp của hai bên: Tôi, Hồ Đắc Tuấn và Công ty Trường Hải theo các nguyên tắc và quy định của pháp luật”. Tòa kinh tế TAND Tp. Đà Nẵng đã triệu tập các bên để hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Ngày 09/5/2012, Tòa kinh tế TAND Tp. Đà Nẵng đưa ra xét xử vụ án “Tranh chấp về chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên Công ty”, Nguyên đơn: Ông Hồ Đắc Tuấn. Bị đơn Công ty Trường Hải. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, TAND Tp. Đà Nẵng đã ra bản án số 07/2012/KDTM–ST, tuyên án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu ông Hồ Đắc Tuấn thanh toán cho Công ty Trường Hải số tiền chuyển nhượng 50% vốn góp tương ứng 4,008 tỷ đồng do Công ty Trường Hải sở hữu sau khi đã khấu trừ các khoản liên quan. Sau khi tuyên án sơ thẩm, không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm. Các bên kháng cáo phúc thẩm. Ngày 27/8/2012, TAND tối cao tại Tp. Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ tranh chấp chuyển nhượng vốn góp giữa ông Hồ Đắc Tuấn và Công ty Trường Hải. Sau tiến hành các thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuyên án chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hồ Đắc Tuấn, điều chỉnh một số nội dung của bản án sơ thẩm, buộc Công ty Trường Hải thực hiện các thủ tục chuyển nhượng vốn góp cho ông Hồ Đắc Tuấn với giá trị chuyển nhượng làm tròn 5.459 tỷ đồng. Ông Tuấn có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Trường Hải số tiền 4.183 tỷ đồng (làm tròn), trong đó có 1.276 tỷ đồng khấu trừ tiền vật tư, phụ tùng theo giá trị sổ sách mà Công ty Thaco– Kia Đà Nẵng đã mua của Công ty Trường Hải. Vậy là bạn đã xem cách tôi loại bỏ các chi tiết không liên quan. Và xin nhận xét tiếp. Trong vụ này ông Tuấn có hai tư cách: người góp vốn và chủ tịch hội đồng thành viên. Ông Nghê là đại diện ủy quyền của người góp vốn là Công ty Trường Hải kiêm giám đốc Thaco– Kia Đà Nẵng. Ông Tuấn và Nghê đều ở trong Hội đồng thành viên của Thaco–Kia. Khi ông Tuấn kiện Thaco–Kia, mà được đại diện bởi hội đồng thành viên là cơ quan quản lý cao nhất, để trừng trị ông Nghê, thì là ông Tuấn kiện chính ông ấy!
Một số vụ khác để mở rộng 281 Sau này ông Tuấn mới kiện Trường Hải là người góp vốn. Vậy đây là vụ kiện giữa người góp vốn với nhau. Lúc đầu ông Tuấn kiện sai bị đơn. Không biết luật sư nào bảo vệ cho ông Tuấn mà lại đi khởi kiện như thế! Bạn xem để rút kinh nghiệm. Tư cách dễ bị lầm lẫn lắm. Vụ 39 Xin hủy sổ đỏ A. Trình bày Bà giám đốc công ty TH đến nhờ bạn tư vấn về một việc như sau: Năm 2005 công ty TH bán tài sản của mình cho công ty PM giá 100 tỷ. Trước đó TH có vay của ngân hàng Hàng Hải 30 tỷ và thế chấp bằng một khu đất 60.000m2 và do ba người làm chủ, trong đó có ông Hùng nắm 20.000m2 . Ba người này không phải là cổ đông của TH mà chỉ là người quen với bà giám đốc. Ông Hùng đưa sổ đỏ cho bà giám đốc và bà ấy đưa cho ngân hàng. Khi bán tài sản công ty, bà giám đốc TH có ký một tờ đổi đất với PM là nếu PM giao cho TH một khu đất ở xã Thuận An thì TH sẽ giao cho PM khu đất 60.000m2 kia vì nó nằm cạnh khu đất mà PM mới mua của TH. PM trả tiền mua cho TH qua ngân hàng mà đã cho TH vay tiền có tài sản thế chấp; do vậy ngân hàng đưa cho PM sổ đỏ của ông Hùng; thay vì trả cho bà giám đốc. TH và ông Hùng biết khu đất 60.000m2 kia đã được giải chấp và TH đã nhiều lần lên ngân hàng hỏi lấy lại sổ đỏ của ông Hùng. Nhưng ngân hàng nói là mất do vậy ông Hùng đã làm thủ tục như quy định và được cấp sổ đỏ khác. Việc xin và cấp sổ được làm đúng theo luật. Sau 7 năm PM vẫn chưa giao đất cho TH để TH giao 60.000m2 đất kia. Đầu năm 2012, PM đem rào khu đất này, trong đó có đất của ông Hùng. Ông Hùng thấy mình không phải là cổ đông của TH, đất của mình đã được giải chấp, nay bị rào thì làm đơn lên tòa dân sự ở Bình Dương xin tòa công nhận quyền sử dụng đất của mình, là 20.000m2 trong số 60.000m2 kia với lý lẽ là sổ đỏ mới được cấp của mình có giá trị hơn quyển sổ cũ (mà ngân hàng nói là mất, nhưng thực sự là do PM nắm.) Trong quá trình kiện tụng, chưa xử, thì PM phản tố xin tòa: (i) buộc ông Hùng sang tên cho mình khu đất kia và (ii) hủy sổ đỏ mới cấp lại.
282 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ông Hùng là em bà giám đốc TH, việc TH lấy khu đất 60.000m2 để hứa đi đổi, ba người chủ đất đều biết, nhưng khi bà TH làm giấy đổi thì ba người chỉ đồng ý với nhau bằng miệng; và hy vọng khi PM giao đất đổi thì họ sẽ có tiền nhờ có đất. PM chưa giao đất, nhưng đã rào khu đất và vào lúc đi kiện thì bà giám đốc đã phá hàng rào khu đất của ông Hùng. Tình trạng khởi kiện để xin xác nhận quyền sử dụng đất của ông Hùng là như thế, nay PM phản tố, bà giám đốc TH lại hỏi luật sư bây giờ bên bà (bà và ông Hùng) nên làm gì? B. Cách làm (B5)Khái quát hóa: Ông Hùng có đất đã được giải chấp nhưng sổ đỏ mà ngân hàng giữ nay bị nói là mất. Do vậy ông ta đi xin sổ đỏ mới và có sổ mới. Ông Hùng cũng biết là đất sẽ được bà giám đốc TH đổi lấy đất của PM nhưng hai bên chưa tiến hành đổi đất. Bên PM cầm sổ đỏ do ngân hàng giao, nên nghĩ là sẽ có khu đất đó khi đổi sau này. Bây giờ chưa đổi thì rào nó lại đã. Ông Hùng phá rào rồi đi thưa để xin tòa công nhận sổ đỏ mới mình đang cầm. Bên PH phản tố xin tòa: (i) buộc ông Hùng sang tên cho mình khu đất kia và (ii) hủy sổ đỏ mới cấp lại. (B6) CHMC Đất là của ông Hùng hay của Công ty PH? Các bạn để ý cách hỏi. Tôi không hỏi sổ đỏ là của ai (ông Hùng hay PH) vì tôi đi vào bản chất của vấn đề. Hai bên tranh nhau khu đất chứ không phải sổ đỏ; vì cái sau có thể làm ba bốn cái cũng được. Giải quyết được quyền sở hữu đối với khu đất thì giải quyết được sổ đỏ. Bạn thấy đấy: quyền sở hữu là chính; sổ đỏ là phụ. (B7) CHPT Các sự kiện cho thấy hai công ty đã ký kết đổi đất nhưng PH chưa xúc tiến nên việc đổi đất chưa diễn ra, vậy: CHPT1: Việc đổi đất đã xảy ra chưa? Ta có câu trả lời ngay là đất chưa được đổi. Vậy đất vẫn là của ông Hùng.
Một số vụ khác để mở rộng 283 CHPT2: sổ đỏ của ai (ông Hùng và Công ty PH) có giá trị? Thưa ai có đất thì có quyền có sổ đỏ. Trả lời cho thân chủ: Trước tòa, cứ nêu các CHMC và CHPT thì sẽ được công nhận sổ đỏ là của ông Hùng. Xin tòa bác sự phản tố của bị đơn vì đòi hỏi của họ không có cơ sở pháp lý. Vụ 40 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất A. Trình bày Ngày 10/7/1996, ông L và bàN đã ký kết hợp đồng với công ty TM do ông T làm giám đốc đại diện về chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất có diện tích 36.257 m2 tọa lạc tại huyện X. Lô đất trên đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông L đứng tên sử dụng. Nội dung cơ bản của tờ hợp đồng nói trên là ông L và bàN đã thỏa thuận quyền sử dụng đất cho công ty TM lô đất 36.257m2 với đơn giá 71.000đ/m2 , tổng trị giá hợp đồng chuyển nhượng là 2.574.247.000 đồng. Về phương thức thanh toán, các bên đã thỏa thuận thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt, sau khi ký hợp đồng phía ông L giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đứng tên ông L) cho ông T. Ông T có nghĩa vụ thanh toán đủ cho ông L toàn bộ số tiền trên trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ông T nhận giấy chứng nhận quyền sử đất do ông L giao. Sau khi ký hợp đồng nói trên, ông L và ông T lại ký tiếp phụ lục hợp đồng đề ngày 12/7/1996. Theo ông L, sở dĩ có việc ký tiếp phụ lục hợp đồng là do phía ông T yêu cầu với mục đích để tạo điều kiện giúp cho công ty TM liên kết, liên doanh với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước bằng nguồn vốn là quyền sử dụng đất của ông đã sang nhượng của ông L. Ông T đã yêu cầu ông L làm tờ ủy quyền tại huyện X với nội dung: ông T được thay mặt ông L sử dụng phần đất nói trên để cầm cố, thế chấp cho ngân hàng hoặc công ty, xí nghiệp để vay vốn, mua hàng trả chậm sản xuất kinh doanh. Ngày 13/7/1996, vợ chồng ông L và ông T đã lập tờ ủy quyền với nội dung trên tại huyện X. Ngày 22/7/1996, ông L đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Ông T cam kết trong biên bản bàn giao giấy tờ (đề ngày
284 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 22/7/1996) là trong thời hạn 07 ngày sẽ thanh toán đủ tiền cho ông L. Đến hạn trả tiền, ông T không thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu ông L giảm bớt giá tiền. Ông L đồng ý giảm bớt giá tiền chuyển nhượng xuống còn 45.000đ/ m2 (so với hợp đồng ký kết ban đầu là 71.000đ/m2 ) và tổng giá tiền chỉ còn là 1.631.565.000 đồng. Việc giảm giá tiền giữa ông L và ông T được ghi nhận bằng nội dung tờ phụ lục hợp đồng tiếp theo đề ngày 18/9/1996. Từ khi ký tiếp từ phụ lục hợp đồng này ông T không thanh toán tiền cho ông L. Nay ông L yêu cầu tòa hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết với ông T là đại diện Công ty TM và yêu cầu Công ty trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời rút lại tờ ủy quyền đối với ông T. Bị đơn bàT đại diện cho ông T trình bày: về việc ký hợp đồng quyền sử sụng đất giữa ông L và Công ty TM do chồng bà là ông T làm giám đốc như lời trình bày của ông L là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên việc Công ty TM chưa có điều kiện thanh toán tiền cho ông L được là do Công ty làm ăn thất bại, chưa đòi được nợ. Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy tờ có liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên ông T đem thế chấp cho xí nghiệp bao bì in PH để mua 258 tấn giấy. Do còn thiếu của xí nghiệp này 1.774.203.116 đồng chưa thanh toán được nên xí nghiệp vẫn còn giữ giấy tờ đất của ông L. Nay, trước yêu cầu của ông L, bà xin được tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết trước đây, giữa Công ty TM do ông T đại diện với ông L và bàN, bà xin được bán lô đất nói trên để thanh toán tiền nợ theo hợp đồng và tiền nợ của xí nghiệp in HN. Người đại diện xí nghiệp in HN là ông V trình bày: Ngày 30/7/1996 xí nghiệp bao bì in PH đã ký kết hợp đồng với Công ty TM để mua bán 258 tấn giấy. Theo hợp đồng đã ký kết thì xí nghiệp bao bì in PH (bên A) bán cho Công ty TM (bên B) 258 tấn giấy với đơn giá 780USD/ tấn. Tổng trị giá hợp đồng là 201.240USD. Ngay sau ký hợp đồng bên B đã ứng trước cho bên A 500.000.000 đồng (Việt Nam) đồng thời thế chấp cho bên A 02 lô đất có diện tích 56.483m2 . Hai lô đất này thuộc quyền sử dụng đất của hai người là bàN và ông L (lô đất của ông L có diện tích 36.257 m2 và của bà B có diện tích 20.230 m2 ). Việc thế chấp hai lô đất trên ông T đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo giấy tờ ủy quyền của ông L và bàN. Tờ ủy quyền được xác nhận tại huyện X. Số tiền còn lại phía bên B có trách nhiệm thanh toán trong thời hạn hai tháng. Sau khi ký kết
Một số vụ khác để mở rộng 285 hợp đồng, bên A giao đủ số lượng giấy là 258 tấn cho bên B. Đến hạn thanh toán tiền bên B không thực hiện nghĩa vụ và khất lần. Ngày 21/11/1996, hai bên A và B đã có biên bản xác định công nợ, phía bên A xác nhận còn nợ của bên B tiền vốn: 1.774.203.116 đồng và tiền lãi là 192.583.787 đồng. Từ khi ký biên bản xác nhận công nợ đến nay Công ty TM không thanh toán tiền cho xí nghiệp PH. Đến nay xí nghiệp bao bì in PH đã được sáp nhập vào xí nghiệp in HN. Toàn bộ công nợ trên đã được bàn giao cho xí nghiệp in HN. Nay đại diện cho xí nghiệp in HN là ông V yêu cầu Công ty TM phải thanh toán cho xí nghiệp số tiền vốn: 1.774203.116 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 01/12/1996 đến nay. Khi nào Công ty TM thanh toán đủ số nợ vốn và lãi trên thì xí nghiệp HN sẽ hoàn trả lại giấy tờ. Nếu Công ty TM không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi 2 lô đất nói trên để trả nợ cho xí nghiệp. Ông H là giám đốc xí nghiệp in PH có cùng ý kiến với ông V. Theo ông H, xí nghiệp cũ của ông đã bàn giao toàn bộ cho xí nghiệp HN. Nay số tiền trên là khoản nợ của Công ty TM, yêu cầu Công ty TM trả đủ nợ vốn và lãi cho xí nghiệp HN. B. Cách làm (B3) Ở đây tôi ghi lại và phân loại các sự kiện như sau:1 Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng của vụ việc Nội dung 10/7/96 Ký hợp đồng L, N – T (Công ty TM) Mua bán đất * 36.257 m2 đất – huyện X giá 2,574 tỷ Đất có sổ đỏ tên L Trả tiền, trao giấy, 7 ngày 12/7/96 Ký phụ lục ủy quyền L ủy choT Được cầm cố thế chấp đất 13/7/96 Lập tờ ủy quyền L, N vàT Ở huyện X 22/7/96 L giao giấy choT T cam kết trả tiền 18/9/96 Ký phụ lục L – T Giảm tiền xuống còn 1,63 tỷ 1 Ta ghi “đất” mà không ghi quyền sử dụng đất vì đây là lúc suy nghĩ. Nhìn thẳng vào vấn đề, không đi theo râu ria.
286 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ 30/7/96 TM mua 258 tấn giấy và thế chấp giấy đỏT và Công ty PH T trả một phần tiền và thế chấp đất của L vàN Đất của L: 36.257 m2 Đất củaN: 20.230 m2 Có công chứng ở huyện X 21/11/96 TM xác nhận nợ với PH Còn nợ 1,7 tỷ và lãi 192 triệu PH sáp nhập với HN TM nợ PH Bạn thấy ở đây tôi phân loại các sự kiện theo: ngày tháng, văn bản, con người, đối tượng và nội dung. Bạn có thể chọn cách khác. Điều cần biết là khi phân loại các chi tiết như thế là ta xếp các sự kiện có cùng tính chất chung lại với nhau và chúng trở thành đơn giản trong đầu óc ta. Nói cách khác là ta đã trừu tượng hóa chúng để chúng trở thành đơn giản. Thành ra điều kiện tri thức để bạn phân loại sự vật là phải phân biệt vỏ với ruột, hiện tượng với bản chất, nội dung và tên gọi. (B4) Loại bỏ những chi tiết không liên quan vì nó không giúp trả lời CHKL. Tôi có bảng sau, và những hàng bị gạch là những chi tiết không có liên quan. Đây là quá trình trừu tượng hóa để chuyển các sự kiện thành ý nghĩ. Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng Nội dung 10/7/96 Ký hợp đồng L, N – T (Công ty TM) Mua bán đất 36.257 m2 đất – huyện X giá 2,574 tỷ Đất có sổ đỏ tên L Trả tiền, trao giấy, 7 ngày (chỉ giữ cái chính) 12/7/96 Ký phụ lục ủy quyền L ủy choT Được cầm cố thế chấp đất 13/7/96 Lập tờ ủy quyền L, N vàT Ở huyện X 22/7/96 L giao giấy choT T cam kết trả tiền 18/9/96 Ký phụ lục L – T Giảm tiền xuống còn 1,63 tỷ 30/7/96 TM mua 258 tấn giấy và thế chấp sổ đỏT và Công ty PH T trả một phần tiền và thế chấp đất của L vàN Đất của L: 36.257 m2 Đất củaN: 20.230 m2 Có công chứng ở huyện X 21/11/96 TM xác nhận nợ với PH Còn nợ 1,7 tỷ và lãi 192 triệu PH sáp nhập với HN TM nợ PH
Một số vụ khác để mở rộng 287 (B5) Khái quát hóa Ta biết L xin tòa cho đòi lại sổ đỏ mà HN hiện đang nắm sổ đó vì Công ty nợ HN, và đối tượng tranh chấp là miếng đất và những văn kiện liên quan tới nó nên ta loại bỏ tất cả những chi tiết không liên quan. Như thế vụ việc chỉ còn lại những sự kiện sau. Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng Nội dung 10/7/96 Ký hợp đồng L, N – T (Công ty TM) Mua bán đất 13/7/96 Lập tờ ủy quyền L, N vàT Ở huyện X 30/7/96 TM mua 258 tấn giấy và thế chấp sổ đỏT và Công ty PH Có công chứng ở huyện X 21/11/96 TM xác nhận nợ với PH Còn nợ 1,7 tỷ và lãi 192 triệu PH sáp nhập với HN TM nợ PH/HN Và các sự kiện quan trọng có tính quyết định với nội dung tranh chấp là: Ngày Sự việc Nhân vật Đối tượng Nội dung 10/7/96 Ký hợp đồng Mua bán dất 13/7/96 Lập tờ ủy quyền 30/7/96 TM thế chấp sổ đỏ Có công chứng ở huyện X TM nợ PH/HN (B6) CHMC: Nếu bạn nối kết các điểm ở trên theo logic và luật pháp thì bạn sẽ thấy những SKMC sau: - Nguyên đơn muốn hủy hợp đồng mua bán, đòi lại sổ đỏ mà đã giao cho bị đơn. - Bị đơn đã thế chấp đất và giao sổ đỏ cho công ty PH rồi HN. Việc làm hợp pháp vì có giấy ủy quyền và có hợp đồng thế chấp. - Hiện nay HN giữ sổ đỏ và đất theo hợp đồng thế chấp. - Nguyên đơn muốn lấy lại theo hợp đồng mua bán nhưng sổ đỏ bị giữ theo hợp đồng thế chấp. CHMC là:
288 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Giữa hợp đồng mua bán và hợp đồng thế chấp thì hợp đồng nào có ưu thế hơn để sổ đỏ sẽ bị giữ hay được trả lại cho nguyên đơn? Khi gặp câu hỏi như thế này ta phải suy xét dựa theo kiến thức. Trước hết ta cần biết về tính chất và tác động xã hội của mỗi loại hợp đồng thì mới trả lời câu hỏi được. Bạn thấy ở đây bạn cần biết thực tế chứ không thể nhìn vào luật được. Trong sinh hoạt xã hội, hợp đồng mua bán như ở đây được ký giữa hai cá nhân và một công ty. Tác động đối với xã hội của nó không lớn so với hợp đồng thế chấp ký giữa hai công ty và cho mục đích kinh doanh mà kinh doanh liên quan đến công ty, đến nhiều người lao động. Do đó, hợp đồng thế chấp thường có ưu thế hơn hợp đồng mua bán. Nếu nợ không trả được thì sổ đỏ sẽ không được trả lại. Nguyên đơn đã ký hợp đồng mua bán, lại ủy quyền cho TM được thế chấp đất. Như vậy, nguyên đơn biết đất mình đã bị đem đi thế chấp. Nếu bạn là chánh án phiên tòa thì sau khi tìm ra CHMC bạn sẽ quyết định theo như nguyên đơn yêu cầu hay không? Nếu là luật sư của nguyên đơn, bạn sẽ giải thích với họ là khó lòng lấy sổ đỏ lại dựa theo lý lẽ trên. Nếu ông L đã đến bạn trước khi thưa ra tòa và với vụ việc như trên, bạn nên khuyên ông ta không nên làm vì chắc sẽ thua. Khi ấy bạn làm tư vấn. Còn nếu bạn bào chữa cho nguyên đơn, tôi không biết bạn lập luận như thế nào? Ở đây tôi ngừng ở Bước 6, tìm CHMC vì câu trả lời đã rõ ràng.
Tính tương đối của câu hỏi pháp lý 289