Thợ Săn Bóng Tối

phần vodka còn lại

phần vodka còn lại

phần vodka còn lại trong chén. Anh đã dành cho cô ấy tất cả tình yêu và sự quan tâm, anh đã sai ở đâu? Anh nghĩ rằng mọi chuyện rất ổn, thế nhưng cái bóng ma quái quỷ của người chồng cũ vẫn ám ảnh. Anh không biết anh ta, anh cũng chẳng rõ mặt mũi anh ta thế nào, nhưng anh ta vẫn luôn hiện diện. Nếu David chưa chết, nếu họ chỉ đơn giản ly dị như hàng triệu cặp đôi trên thế giới, có lẽ cô ấy đã cảm thấy được tự do và có thể yêu anh như anh đáng được hưởng.

Phải, vấn đề là ở chỗ đó. Anh chắc chắn mình xứng đáng có được tình yêu của Sandra. Nhưng ngay cả khi mọi lý lẽ đều đứng về phía anh, không hiểu sao anh lại muốn tự trừng phạt mình. Lỗi của anh là quá hoàn hảo, anh biết điều đó. Lẽ ra anh nên quan tâm bản thân mình nhiều hơn chứ không phải lúc nào cũng dính đến cô ấy. Có lẽ nếu anh đối xử tệ hơn với cô ấy, mọi chuyện đã khác. Xét cho cùng, David là một kẻ ích kỷ, anh ta đã không vì cô ấy mà từ bỏ công việc là phóng viên tại những điểm nóng trên khắp thế giới. Dù anh ta biết rằng những chuyến đi của mình và việc chờ đợi đằng đẵng mà không có tin tức, không biết chồng có khỏe không, thậm chí anh ta còn sống hay đã chết, làm Sandra khổ sở biết nhường nào. “Khốn nạn,” lần này anh ám chỉ bóng ma của David. Đáng lẽ anh nên làm như anh ta, anh sẽ không đánh mất cô ấy. Anh vẫn muốn tự trừng phạt mình bằng một chút vodka nữa. Khi đang định gọi nguyên một chai, mặc kệ sáng hôm sau có giờ dạy ở trường, anh nhìn thấy một phụ nữ ló ra từ phía quầy bar trong quán. Cô ta đang uống một ly cocktail hoa quả. Cô nàng rất đẹp nhưng không quá phô trương. Quyến rũ tự nhiên mà không cố tình, anh tự nhủ. Max nâng ly lên, dù nó đã cạn, như thể muốn chúc sức khỏe Cô ấy. Anh không phải tuýp người thường làm những việc như vậy, nhưng ai thèm quan tâm. Cô ấy đáp lại, cũng nâng ly cocktail lên. Rồi cô ấy bắt đầu tiến lại gần bàn của anh. “Anh có đợi ai không? Tôi có thể ngồi cùng anh được chứ?” Cô ấy bất ngờ tấn công anh. Max không biết phải trả lời thế nào, cuối cùng anh cũng xoay xở đáp: “Cô cứ ngồi.”

“Tôi là Mina. Còn anh?” “Max.” “Mina và Max. M.M.” Cô gái thích thú reo lên. Anh nhận ra âm sắc của Đông Âu. “Cô không phải người Ý.” “Vâng, tôi là người Rumani. Anh cũng không có vẻ là người Ý, hay tôi nhầm?” “Tôi là người Anh, nhưng tôi sống ở đây nhiều năm rồi.” “Tôi đã quan sát anh cả tối nay.” Lạ thật, thế mà anh chỉ vừa mới nhận ra. “Không biết tôi có nhầm không, nhưng anh đang tức giận vì điều gì đó?” Max không muốn nói sự thật với cô ấy. “Người phụ nữ đáng lẽ tới đây gặp tôi vừa cho tôi leo cây.” “Vậy thì tối nay thực sự là của tôi rồi,” cô gái bình luận với một nụ cười ranh mãnh. Anh ngắm cô nàng kỹ hơn. Bộ váy thời trang cao cấp màu đen, cổ khoét sâu, móng tay được chăm sóc tỉ mỉ và nhuộm đỏ, tay trái đeo một chiếc lắc vàng, trên cổ là một chiếc vòng với viên kim cương không rõ bao nhiêu ca-ra. Cô gái trang điểm hơi đậm, anh để ý. Nhưng mùi nước hoa chắc chắn là của Pháp. Một cô gái không phải dạng thường, anh tự nhủ. Anh không phải một kẻ phân biệt giới nhưng phải thú nhận rằng đôi lúc anh cũng đánh giá phụ nữ dựa trên mức sống họ chờ đợi từ bạn trai mình. Có lẽ bởi vì quá nhiều người trong số họ đã quay lưng đi khi biết anh chỉ là một giáo viên trung học bình thường. Vậy là anh thường làm vài phép

tính trước khi tìm hiểu ai đó kỹ hơn và khi cần anh sẽ tránh họ trước khi họ lao vào anh. Vì vậy tốt hơn đừng ảo tưởng với cả cô gái này: anh không thể tự cho phép bản thân. Anh sẽ mời cô ấy đồ uống nhưng không trông đợi gì, chỉ để có người nói chuyện. Rồi đường ai nấy đi. “Tôi có thể gọi cho cô thêm một ly đó chứ?” anh chỉ vào ly cocktail. Mina lại mỉm cười. “Anh có bao nhiêu tiền trong túi?” Anh không kịp hiểu ý nghĩa của câu hỏi thẳng thắn đó. “Tôi không biết, sao cô lại hỏi vậy?” Cô gái áp sát mặt anh, anh có thể cảm thấy hơi thở ngọt ngào của cô ấy. “Có thực là anh không hiểu tôi làm nghề gì hay anh muốn đùa cợt?” Một ả điếm? Anh không thể tin nổi. “Không, xin lỗi… chuyện là…” anh cố thanh minh một cách miễn cưỡng. Kết quả là cô ta phá lên cười thích thú. Rồi anh cố lấy lại quyền kiểm soát tình hình: “Năm mươi euro, nhưng tôi có thể rút thêm tiền từ cây ATM”. Max không tin nổi lời mình. Anh đột nhiên khao khát được vượt giới hạn. Vượt giới hạn của tình yêu vô nghĩa với Sandra, của cái cách anh thường sống – quá nghiêm túc và có lẽ cũng hơi nhàm chán. Trong lúc ấy Mina có vẻ đang cân nhắc lời đề nghị và tiếp tục nhìn anh chăm chú. Cứ như thể cô ta có thể nhìn thấu anh hơn bất cứ người nào khác. “Được thôi, anh cũng dễ thương đấy,” cô ta tuyên bố. “Tôi sẽ giảm giá cho anh, đằng nào cũng hết tối rồi.” Max hào hứng như một đứa trẻ. “Tôi có xe ở ngoài kia, chúng ta có thể

đi đâu đó để vui vẻ.” Người phụ nữ lắc đầu, tự ái. “Anh trông tôi có phải là loại làm tình trong xe không?” Rõ là không. “Hơn nữa, với tên biến thái ngoài kia…” Cô ta có lý, còn vụ con quái vật Roma nữa chứ, anh quên mất. Những nhà chức trách đã khuyến cáo các cặp đôi không nên chọn những nơi hoang vắng để quan hệ trong xe. Nhưng còn biệt thự ở Sabaudia. Hơi xa một chút nhưng anh sẽ trả thêm tiền để thuyết phục cô ta. Và dù đang là mùa đông, có lẽ hơi lạnh, nhưng anh có thể bật lò sưởi. “Đi thôi, tôi đưa cô ra biển.” Lửa kêu lách tách, căn phòng đang dần được sưởi ấm và Max không thấy e ngại. Anh đang sắp phản bội Sandra nhưng anh không chắc đó có thực sự được tính là phản bội. Cô không nói trắng ra là không yêu anh, nhưng những lời nói của cô rõ là có ý đó. Anh cũng không băn khoăn lũ học trò của mình sẽ nghĩ sao nếu thấy anh trong bộ dạng ấy: nằm duỗi dài trên một cái giường trong một ngôi nhà không phải là của mình, chờ một ả gái điếm cao cấp ra khỏi phòng tắm để làm tình với cô ta. Không, chính anh cũng không tài nào hình dung nổi. Vì thế anh muốn dập tắt mọi cảm giác tội lỗi có thể có. Trên quãng đường tới Sabaudia, Mina đã ngủ gật trên ghế. Anh đã liếc nhìn cô ta trong suốt hành trình, cố để hiểu cô gái ba mươi lăm hay ba mươi sáu tuổi đó thực sự là người như thế nào sau lớp mặt nạ dùng để

quyến rũ đàn ông. Hoặc anh tự tưởng tượng về cuộc sống của cô ta, những giấc mơ của cô ta, liệu cô ta đã từng yêu hay vẫn còn đang yêu. Khi tới nơi, cô gái ngay lập tức ngắm nhìn xung quanh. Ngôi biệt thự có một vị trí đáng ghen tị: ngay trước bờ biển. Bên trái là mũi đất Circeo cùng công viên thiên nhiên. Đêm ấy được trăng tròn soi tỏ. Đó là một quang cảnh Max sẽ không bao giờ đủ tiền mua nổi, nhưng nó lại gây ấn tượng ngay lập tức với cô gái. Mina hỏi anh phòng tắm ở đâu. Rồi cô ta cởi giày cao gót và bước lên cầu thang dẫn lên phòng trên. Max chiêm ngưỡng cảnh tượng đó như thể chiêm ngưỡng một thiên thần đang đi lên thiên đàng. Ga trải giường sạch sẽ. Max cởi quần áo và gấp lại gọn gàng như anh thường làm ở nhà mà không hề để ý. Một thói quen của một sự giáo dục tốt nhưng nó trái ngược với việc anh sắp làm, một hành động xa lạ với bản tính cẩn thận của anh. Mina đã nói rõ: quan hệ không quá một giờ. Không hôn, đó là nguyên tắc. Rồi cô ta đưa Max hộp bao cao su mang theo trong túi và chắc chắn anh biết cách sử dụng. Max tắt đèn và bối rối chờ đợi cô ta xuất hiện vào bất cứ lúc nào bên khung cửa, có khi chỉ với mỗi bộ đồ lót. Anh ngửi thấy mùi nước hoa của cô ta ở mọi nơi và thấy hoang mang lẫn hưng phấn. Tất cả cốt để không nhớ tới nỗi đau Sandra vừa gây ra. Khi nhìn thấy tia chớp ở ngưỡng cửa tối, anh thấy như thể một trò đùa của trí tưởng tượng. Nhưng chỉ lát sau, một tia sáng khác lại xuất hiện. Thế là anh bất giác quay về phía cửa sổ. Nhưng bên ngoài bầu trời quang đãng vẫn còn ánh trăng và chẳng có cơn dông nào ở phía chân trời. Chỉ tới tia sáng thứ ba anh mới nhận ra thực tế đó là ánh đèn flash của

một chiếc máy ảnh. Và nó càng lúc càng gần.

2 Họ nhốt anh trong một căn phòng không có cửa sổ. Nhưng trước đó, cảnh sát đã cử một bác sĩ tới khám cho anh. Sau khi chắc chắn về tình trạng sức khỏe của anh, người ta đã chuyển anh vào trong đó. Từ lúc cánh cửa bị khép lại, Marcus không còn biết gì hay nhìn thấy ai nữa. Chỉ có mỗi một cái ghế anh đang ngồi và một cái bàn bằng thép. Ánh sáng duy nhất đến từ một chiếc đèn neon trên trần nhà, và trên tường có một cái quạt thông gió đang phát ra tiếng ro ro phiền nhiễu, dai dẳng. Anh đã đánh mất khái niệm về thời gian. Khi họ hỏi về thông tin cá nhân, anh đã cung cấp những thông tin giả vẫn thường dùng làm vỏ bọc. Vì không mang theo giấy tờ tùy thân, anh đã đọc cho họ một số điện thoại được sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp như thế. Đó là số hộp thư thoại của một nhân viên Đại sứ quán Argentina ở Vatican. Trên thực tế, Clemente là người sẽ thấy tin nhắn và tới sở cảnh sát ngay sau đó với một tấm hộ chiếu ngoại giao giả mạo chứng nhận anh mang tên Alfonso García – một đặc phái viên về vấn đề tôn giáo và làm việc cho chính phủ Buenos Aires. Chưa bao giờ linh mục ân giải phải cần tới một mánh khóe phức tạp

như thế. Về lý thuyết, cảnh sát Ý sẽ trả tự do cho anh vì quyền miễn trừ đối với hộ chiếu ngoại giao. Nhưng lần này sự việc rất nghiêm trọng. Nó có liên quan đến cái chết của một phó cảnh sát trưởng. Và Marcus là nhân chứng duy nhất. Anh không biết liệu Clemente đã có động thái nào để giúp anh ra. Cảnh sát có thể giam anh tới tận phút chót nhưng chỉ cần hai mươi tư giờ để xác minh ra rằng chẳng có ai tên là Alfonso García đang làm việc cho chính phủ Argentina và họ sẽ lột mặt nạ của anh. Nhưng lúc này Marcus không quan tâm đến bản thân. Anh đang lo lắng cho Sandra. Sau khi nghe câu chuyện giữa Fernando và ả tóc đỏ, anh nhận thức rằng cô đang gặp nguy hiểm. Không biết giờ cô đang ra sao và có ở nơi an toàn không. Anh không thể để chuyện gì xảy ra với cô. Vì vậy, anh quyết định dù Clemente có tới hay không, ngay khi cảnh sát mở lại cánh cửa đó anh sẽ khai với họ tất cả. Rằng anh đang tự tiến hành một cuộc điều tra về con quái vật Roma và có một nhóm người đang bao che cho kẻ sát nhân. Và anh sẽ nói ra chỗ ở của Kropp. Như vậy anh có thể cứu Sandra. Marcus không chắc họ có tin mình không, nhưng anh sẽ phải làm thế nào đó để họ không thể xem nhẹ lời nói của mình. Phải, Sandra quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Cô ấy là trên hết. Từ khi bị dựng dậy vào đêm qua, thanh tra Crespi làm việc không ngừng nghỉ phút nào. Cơ thể ông cần một lượng caffein đáng kể và hai thái dương đang căng như dây đàn, nhưng cả thời gian để uống một viên

aspirin ông cũng không có. Đồn cảnh sát ở quảng trường Euclide, quận Parioli, vô cùng náo nhiệt. Nhân viên đi lại tấp nập giữa văn phòng và nhà xưởng nơi tìm thấy cái xác không hồn của Moro. Nhưng Crespi để ý thấy chưa có ai bán thông tin cho báo chí. Họ vô cùng kính trọng phó cảnh sát trưởng nên không thể phản bội lại ký ức về anh ấy. Vì vậy, tin tức về cái chết của Moro vẫn còn được bảo mật. Nhưng được bao lâu? Trưa nay Tổng chỉ huy lực lượng cảnh sát sẽ tổ chức họp báo để công bố vụ việc vừa xảy ra. Nhưng còn quá nhiều nghi vấn cần lời giải đáp. Moro làm gì ở cái chỗ khỉ ho cò gáy đó? Cái xác được tìm thấy cách anh ta vài mét là của ai? Diễn biến vụ đọ súng là như thế nào? Có dấu bánh xe, vì thế ngoài chiếc xe của phó cảnh sát trưởng còn có một chiếc xe khác. Ai đó đã dùng nó để tẩu thoát? Còn gã nhân viên ngoại giao người Argentina bị trói và bịt miệng thì có vai trò gì? Họ đã đưa anh ta tới đồn cảnh sát ở quảng trường Euclide vì là nơi gần nhất, nhưng cũng để giấu anh ta khỏi cánh báo chí chẳng sớm thì muộn cũng nhảy vào cuộc. Từ chỗ đó họ chỉ đạo hành động. Họ không biết việc này có liên quan gì đến vụ con quái vật Roma, nhưng họ sẽ không để cuộc điều tra về án mạng của một người trong số họ rơi vào tay Hiến binh. Cũng bởi vì đội ROS từ vài giờ nay còn đang bận rộn với một vấn đề khác. Theo như những gì Crespi được biết, đêm đó có khá nhiều biến động. Quá 4 giờ sáng một chút, tổng đài cứu hộ có nhận được một cú điện thoại lạ lùng. Một cô gái với âm sắc Đông Âu trong tinh thần hoảng loạn đã trình báo một vụ tấn công trong một ngôi nhà nằm ở bờ biển Sabaudia.

Khi Hiến binh tới ngôi biệt thự, họ tìm thấy xác một người đàn ông trên giường ngủ. Một phát súng trúng tim, có vẻ như của một khẩu Ruger SP101 – giống với khẩu súng của con quái vật. Nhưng ROS vẫn chưa chắc chắn liệu đó chỉ là một sự trùng hợp hay là tác phẩm của một kẻ bắt chước. Cô gái đã chạy thoát, nhưng sau khi trình báo đã mất tăm mất tích. Giờ họ đang tìm kiếm cô ta và cả những mẫu ADN có thể có trong ngôi biệt thự để so sánh với mẫu của con quái vật mà họ đang có. Khác với án mạng của Moro, vụ Sabaudia đã được công khai với dự luận, dù danh tính của người chết vẫn chưa được tiết lộ. Crespi biết rằng điều này là nguyên nhân chính cho việc giới truyền thông vẫn chưa đánh hơi được cái chết của phó cảnh sát trưởng. Họ còn đang bận rộn đi tìm danh tính nạn nhân mới của con quái vật. Vì vậy ông có dư thời gian để hành hạ gã Alfonso García này trước khi nhân viên nào đó của Đại sứ quán tới đòi thả người vì quyền miễn trừ ngoại giao. Anh ta đã đưa ông một số điện thoại để xác định danh tính của mình, nhưng Crespi thận trọng không gọi. Ông muốn giữ anh ta cho riêng mình. Và sẽ buộc anh ta phải khai ra. Nhưng trước tiên, Crespi rất cần một tách cà phê. Và thế là ông bước ra ngoài trong buổi sáng lạnh giá của Roma, băng qua quảng trường Euclide và đi thẳng tới một quán bar cùng tên. “Thanh tra,” ông thấy có tiếng ai đó gọi. Đang toan bước vào quán, Crespi bỗng quay lại. Ông nhìn thấy một người đàn ông đang bước tới chỗ mình và vẫy tay chào. Xem ra không

phải là một tay nhà báo. Ông ta rõ ràng là người Philippines và Crespi nghĩ ngay đến một người giúp việc trong một ngôi nhà sang trọng ở quận Parioli. “Chào thanh tra Crespi.” Battista Erriaga cất lời khi tới nơi. Hắn có vẻ hụt hơi vì vừa mới chạy tới. “Tôi có thể nói chuyện với ngài một lát được không?” “Tôi rất vội,”” vị thanh tra cộc cằn đáp. “Rất nhanh thôi, tôi hứa đấy. Tôi muốn mời ngài một tách cà phê.” Crespi muốn thưởng thức ly espresso của mình trong yên bình và xua đuổi kẻ rắc rối này. “Nghe này, tôi không muốn bất lịch sự nhưng tôi không biết ông là ai và tại sao ông biết tên tôi, nhưng tôi không có thời gian, tôi nói với ông rồi.” “Amanda.” “Xin lỗi, ông nói gì?” “Ông vẫn chưa biết nó nhưng nó là một cô bé thông minh. Nó mười bốn tuổi và đang học trung học. Cũng giống như tất cả những đứa trẻ cùng trang lứa, nó có hàng ngàn mơ ước và kế hoạch trong đầu. Nó rất yêu động vật và cũng mới đây thôi nó đã biết yêu cả những chàng trai. Có một cậu đang tán tỉnh nó, nó biết và muốn cậu ấy bày tỏ. Có thể hè năm sau, nó sẽ có được nụ hôn đầu đời.” “Ông đang nói về ai vậy? Tôi chẳng biết Amanda nào cả.” Erriaga vỗ một tay lên trán. “À phải rồi, tôi thật ngốc làm sao! Ông không biết cô bé vì trên thực tế cũng chẳng ai biết nó cả. Cô bé đáng lẽ đã chào đời mười bốn năm trước đây nhưng mẹ cô bé đã bị một tên quái xế

đâm chết trên vạch sang đường dành cho người đi bộ ở một quận ngoại ô, hắn ta đã bỏ chạy và chưa bao giờ bị vạch mặt.” Crespi câm lặng. Erriaga trừng trừng nhìn ông ta. “Amanda là tên mà người phụ nữ đó đã chọn cho con gái của mình. Ông không biết sao? Có vẻ như không thì phải.” Ông thanh tra hổn hển, quan sát người đàn ông đứng trước mặt mà vẫn chưa thốt nên lời. “Tôi biết ông là một người sùng đạo. Chủ nhật nào ông cũng đi lễ nhà thờ và tham gia lễ ban thánh thể. Nhưng tôi không ở đây để phán xét ông. Trái lại, tôi không thèm quan tâm đến việc đêm nay ông có chợp mắt được không hay liệu mỗi ngày ông có nghĩ tới điều mình đã làm với mong ước tự nộp mạng cho những người đồng nghiệp. Tôi cần ông, thanh tra.” “Ông cần tôi vào việc gì?” Erriaga đẩy một cánh cửa kính của quán bar. “Ông mời tôi tách cà phê chết tiệt này rồi tôi sẽ giải thích mọi việc.” Hắn ta tuyên bố với cái vẻ lịch thiệp giả dối như thường lệ. Ít phút sau họ ngồi trong một phòng nhỏ ở tầng trên của quán. Nội thất ở đó ngoài một vài chiếc bàn có thêm hai cái sofa bằng nhung. Màu chủ đạo là xám và đen. Điểm nhấn duy nhất là một tấm poster ảnh khổng lồ trên một bức tường chụp khán giả đeo kính 3D trong một phòng chiếu phim có lẽ của những năm 50. Trước một công chúng bất động và im lặng, Erriaga lên tiếng: “Người

đàn ông bị trói và bịt miệng mà các ông tìm thấy đêm qua ở nơi xảy ra án mạng của phó cảnh sát trưởng Moro…” Crespi bàng hoàng. Ông tự hỏi làm thế nào hắn ta biết được. “Sao cơ?” “Ông phải thả anh ta ra.” “Gì cơ?” “Ông hiểu rõ mà. Lát nữa ông về đồn cảnh sát và sẽ thả anh ta ra với cái cớ nào là tùy ông.” “Tôi… tôi không thể.” “Ông có thể là đằng khác. Không cần phải để anh ta chạy trốn, chỉ cần chỉ cho anh ta đường ra. Và tôi đảm bảo là các ông sẽ không bao giờ nhìn thấy anh ta nữa. Cứ như thể anh ta chưa bao giờ xuất hiện tại hiện trường vụ án.” “Có những dấu vết chứng tỏ điều ngược lại.” Erriaga đã tính cả đến chuyện đó. Khi Leopoldo Strini, kỹ thuật viên của LAT, đánh thức hắn vào sáng nay với thông tin về cái chết của Moro và kể cho hắn biết trước mọi việc, Battista đã chỉ cho anh ta cách hủy các bằng chứng liên quan đến người sống sót duy nhất tại vụ đọ súng. “Ông không phải lo gì cả. Tôi đảm bảo với ông sẽ không có hậu quả gì.” Nét mặt của Crespi đanh lại. Từ cái cách ông ta siết nắm đấm, Erriaga hiểu rằng một cảnh sát cương trực như ông ta sẽ không thể chấp nhận bị hăm dọa như thế. “Thế nếu tôi quyết định về đồn cảnh sát và thú nhận việc tôi đã làm mười bốn năm trước thì sao? Nếu bây giờ tôi bắt ông vì tội tống tiền một viên chức nhà nước?”

Erriaga nhún vai. “Ông hoàn toàn tự do để làm việc đó. Thậm chí tôi sẽ không cản ông,” hắn ra tuyên bố không hề nao núng. Rồi hắn cười. “Ông nghĩ thực sự tôi tới đây mà không tính tới trường hợp mạo hiểm đó sao? Tôi đâu có ngu như vậy. Và ông quả thực nghĩ rằng mình là người đầu tiên thuyết phục tôi theo cách đó? Ông sẽ tự hỏi làm sao tôi biết một câu chuyện mà chỉ ông nghĩ là mình biết… Điều này với ai cũng vậy thôi. Và tôi đảm bảo với ông là có những người ít cương trực hơn ông. Họ sẽ làm mọi thứ để bảo vệ bí mật của mình. Và nếu tôi cầu xin, họ sẽ không chỉ đơn giản nói không với tôi đâu.” “Cầu xin cái gì?” Crespi bắt đầu hiểu ra và do dự. “Ông có một gia đình hạnh phúc, thanh tra. Nếu ông quyết định đi theo tiếng gọi của lương tâm, sẽ không chỉ có mình ông phải trả giá.” Crespi thôi siết nắm đấm và cúi đầu nhận thất bại. “Như vậy, từ giờ trở đi, tôi sẽ luôn phải lo lắng trông chừng xem ông có xuất hiện trở lại và tới yêu cầu tôi những điều gì khác nữa.” “Tôi biết điều đó có vẻ kinh khủng. Nhưng ông hãy thử nhìn nó bằng một con mắt khác. Chung sống với một sự khó chịu thi thoảng vẫn còn tốt hơn là sống cả đời trong nỗi hổ thẹn và nhất là trong trại giam với tội danh giết người và cố ý không cứu giúp người bị nạn.”

3 Sandra không có ở nhà. Anh gọi điện đến sở cảnh sát vì nghĩ cô đã bắt đầu ca trực nhưng họ trả lời anh rằng cô đã xin nghỉ phép một ngày. Marcus phát sốt phát rét vì không biết tìm cô ở đâu để chắc chắn rằng cô vẫn ổn. Vào khoảng giữa buổi sáng, cuối cùng anh đã liên lạc được với Clemente. Qua hộp thư thoại thường lệ, bạn anh cập nhật thông tin con quái vật có lẽ đã quay trở lại tấn công vào đêm qua tại Sabaudia. Rằng một người đàn ông còn chưa biết danh tính đã bị sát hại, nhưng người phụ nữ đi cùng thì chạy thoát được và báo cảnh sát, sau đó cô ta cũng mất tích và chẳng ai biết cô ta là ai. Để phân tích sự việc xảy ra, họ hẹn gặp nhau ở một ngôi nhà liên lạc tại quận Prati. Marcus đến trước và chờ đợi. Anh không biết tại sao cảnh sát lại thả anh đi dễ dàng như thế. Tự dưng cửa phòng giam bật mở và thanh tra Crespi bước vào cùng đống giấy tờ. Ông ta đưa cho anh ký một cách thờ ơ, như thể không thèm quan tâm đến việc đã xảy ra. Rồi ông ta thông báo rằng anh được tự do về nhà, chỉ cần anh giữ liên lạc phòng trường hợp họ cần triệu tập anh lần nữa.

Marcus đã đưa họ một số điện thoại và một địa chỉ giả. Anh thấy quy trình xử lý của họ khá bất thường và quá nhanh chóng. Đặc biệt khi anh là nhân chứng duy nhất trong vụ án mạng của phó cảnh sát trưởng. Chẳng có đội tuần tra nào đưa anh về tư gia để xác nhận xem địa chỉ anh đưa có thật hay không. Chẳng ai khuyên anh đi tìm luật sư. Và trên hết, chẳng thẩm phán nào nghe lời khai của anh. Thoạt đầu, linh mục ân giải nghĩ đó là một cái bẫy. Nhưng sau, anh nghĩ sang hướng khác. Sự can thiệp đầy quyền năng của ai đó. Chắc chắn không phải là Clemente. Marcus đã mệt mỏi với những luận điệu lẩn tránh, với việc phải thường xuyên cảnh giác và đặc biệt là không bao giờ biết chính xác động cơ thực sự đằng sau những nhiệm vụ của mình. Vì thế, ngay khi Clemente xuất hiện ở ngưỡng cửa, anh công kích. “Cậu đang giấu tôi chuyện gì?” “Anh đang nói tới chuyện gì vậy?” Clemente phòng thủ. “Tới tất cả câu chuyện này.” “Giờ anh làm ơn hãy bình tĩnh đi. Chúng ta phải cùng nhau suy luận, tôi tin rằng anh đang phạm một sai lầm.” “Chúng đã tự sát.” Marcus giận dữ khẳng định. “Cậu hiểu tôi nói gì không? Bọn tay chân của Kropp, những kẻ bảo vệ con quái vật, chúng cương quyết, tin tưởng vào đức tin của mình đến nỗi chấp nhận hy sinh cả bản thân để đạt được mục đích. Tôi đã nghĩ rằng tay bác sĩ pháp y nhảy qua cửa sổ hay lão già bị thiêu sống trong đám cháy do chính hắn gây ra chỉ là hiệu ứng phụ, hậu quả không lường trước nhưng cần thiết. Tôi đã tự nhủ: Chúng lâm vào bước đường cùng và đã chọn cái chết. Thế nhưng không! Chúng muốn được chết. Đó là một kiểu tử vì đạo.”

“Sao anh có thể nói ra chuyện đó?” Clemente kinh hoàng hỏi. “Tôi đã thấy hắn làm vậy, Clemente,” anh đáp trong lúc nghĩ tới Fernando, tới lúc Olga trao cho hắn khẩu súng và thông báo theo lệnh của Kropp rằng hắn đã xong nhiệm vụ. “Ngay từ đầu, tôi đã nghi ngờ. Những lời nói của con quái vật được ghi âm trong phòng xưng tội của nhà thờ Thánh Apollinare, để thuyết phục tôi điều tra, cậu đã nói với tôi về một mối đe dọa nghiêm trọng đang tấn công Roma… Đe dọa ai cơ?” “Anh biết mà.” “Không, tôi không biết nữa. Tôi có cảm giác rằng nhiệm vụ của tôi ngay từ đầu đã không phải là ngăn chặn con quái vật.” Clemente cố thoát khỏi cuộc đối thoại bằng cách đi về phía bếp. “Tôi pha cà phê.” Marcus tóm lấy cánh tay, chặn cậu ta lại. “Hình người đầu sói là câu trả lời. Chúng là một giáo phái, một tôn giáo nào đó. Nhiệm vụ thực sự của tôi là chặn chúng lại.” Clemente nhìn bàn tay đang siết chặt cánh tay mình. Cậu ta tỏ vẻ ngạc nhiên và thất vọng. “Anh nên tìm cách kiềm chế mình.” Nhưng Marcus không hề có ý định đó. “Bề trên của tôi, những người đã từ ba năm nay thông qua cậu để truyền lệnh cho tôi và tôi chưa bao giờ thấy mặt họ, họ không hề quan tâm gì đến số phận của những đôi thanh niên đã bị hay sắp bị sát hại. Họ chỉ quan tâm tới mỗi việc chiến đấu chống lại giáo phái tôn sùng cái ác đó. Và lại một lần nữa, họ lợi dụng tôi.” Cũng giống như vụ án bà sơ bị chặt thành từng khúc trong vườn Vatican. Về vụ đó, anh đã đương đầu với cả một bức tường thù địch.

Nhưng Marcus không tài nào quên được. “Quỷ dữ đang ở đây.” Nữ tu cùng dòng với bà sơ khốn khổ đó đã có lý. Con quái vật đã vào Vatican nhưng có lẽ còn trước cả thời điểm đó. “Chuyện đang xảy ra tương tự như chuyện đã diễn ra với người đàn ông mang túi màu xám. Và cậu là tòng phạm.” Marcus buộc tội Clemente. “Anh thật vô lý.” “Thế ư? Vậy hãy chứng minh là tôi đã sai đi. Hãy để tôi nói chuyện với người điều khiển tôi.” “Anh biết là không thể mà.” “Phải rồi, chúng ta không được phép hỏi, không được phép biết. Chúng ta chỉ đơn giản phải phục tùng,” anh dẫn lại câu nói Clemente vẫn thường nhắc đi nhắc lại. “Nhưng lần này tôi sẽ hỏi và tôi muốn có câu trả lời.” Anh tóm lấy ve áo của người anh vẫn coi là bạn, người đàn ông mà khi anh còn mất trí nằm trên giường bệnh đã mang lại cho anh ký ức và một cái tên, người mà anh luôn tin tưởng, và ấn cậu ta vào tường. Hành động đó khiến anh cũng thấy ngạc nhiên. Marcus không ngờ mình làm được như vậy, nhưng giờ anh đã vượt qua một giới hạn và không thể quay đầu. “Trong những năm trở lại đây, khi nghiên cứu các tội lỗi của con người được lưu lại trong kho lưu trữ của giáo đoàn ân giải, tôi đã học được cách nhận biết cái ác, nhưng tôi cũng hiểu rằng tất cả chúng ta đều có tội và nhận thức về nó không đủ để được tha thứ. Trước hay sau chúng ta cũng phải trả giá. Và tôi không muốn phải đền tội thay cho những người khác. Những kẻ quyết định mọi việc của tôi, những giám mục cấp cao kiểm soát cuộc sống của tôi, bề trên, họ là ai? Tôi muốn biết!”

“Tôi xin anh, thả tôi ra.” “Tôi đã trao cả mạng sống của mình cho họ, tôi có quyền được biết!” “Tôi xin anh…” “Tôi không tồn tại, tôi đã chấp nhận sống một cách vô hình, tôi đã từ bỏ mọi thứ. Và giờ cậu phải nói cho tôi biết đó là ai…” “Tôi không biết!” Lời nói đó tuột khỏi miệng của Clemente, chất chứa không chỉ sự cay đắng mà cả nỗi tức giận. Marcus trừng trừng nhìn cậu ta. Đôi mắt Clemente sáng quắc: Cậu ta nói thật. Sự thú nhận đau xót của người bạn, cái câu “Tôi không biết!” đó tuôn ra như một lời giải thoát đáp lại sự dữ dội trong câu hỏi của anh, mở ra một vực thẳm giữa họ. Anh có thể chờ đợi bất cứ điều gì, thậm chí cả việc những mệnh lệnh đó do chính đích thân Giáo hoàng chỉ đạo. Nhưng không phải thế này. “Họ đưa chỉ dẫn cho tôi thông qua một hộp thư thoại, đúng như tôi làm với anh. Lần nào cũng là giọng nói đó, ngoài ra tôi không biết gì khác.” Marcus bàng hoàng, buông tay Clemente. “Sao có thể thế được? Cậu đã dạy tôi tất cả những gì tôi biết: Cậu đã kể cho tôi những bí mật của giáo đoàn ân giải, cậu cho tôi biết những bí mật trong sứ mệnh của mình. Tôi nghĩ cậu có rất nhiều kinh nghiệm…” Clemente ngồi xuống bên bàn, hai tay ôm đầu. “Tôi là một linh mục ở thôn quê, ở Bồ Đào Nha. Một ngày nọ, tôi nhận được một lá thư. Nó được đóng dấu của Vatican: Đó là một trọng trách mà tôi không thể thoái thác. Bên trong đó là những chỉ dẫn để đi tìm một người đàn ông vừa nhập viện ở Praha. Anh ta bị mất trí nhớ và tôi phải đưa cho anh ta hai phong bao.

Một cái có chứa hộ chiếu và danh tính giả cùng tiền mặt để làm lại cuộc đời, một cái có vé tàu để tới Roma. Nếu anh ta chọn cái thứ hai, tôi sẽ nhận được những chỉ dẫn tiếp theo.” “Mỗi khi cậu dạy tôi một bài học mới…” “… là tôi cũng vừa mới được học.” Clemente thở dài. “Tôi không bao giờ hiểu lý do họ chọn tôi. Tôi không có tài năng đặc biệt, cũng chẳng thể hiện hoài bão làm nên sự nghiệp. Tôi hạnh phúc trong xứ đạo của mình, với những giáo dân của mình. Tôi thường tổ chức các chuyến đi cho những người già, tôi dạy giáo lý cho bọn trẻ. Tôi làm lễ rửa tội, hôn phối, thánh lễ mỗi ngày. Thế mà tôi đã phải từ bỏ tất cả.” Rồi cậu ta ngước lên nhìn Marcus. “Tôi thấy nhớ những gì tôi đã bỏ lại. Vậy nên, cả tôi cũng là người đơn độc.” Linh mục ân giải không tài nào tin nổi. “Trong ngần ấy thời gian…” “Tôi biết là anh cảm thấy bị phản bội. Nhưng tôi không thể rút lui. Phục tùng và im lặng, đó là bổn phận của chúng ta. Chúng ta là những bề tôi trung thành của Giáo hội. Chúng ta là linh mục.” Marcus giật chiếc mề đay có hình Tổng lãnh thiên sứ Michele khỏi cổ và quăng vào người Clemente. “Cậu có thể nói cho họ rằng tôi không tuân lệnh một cách mù quáng và tôi không phục tùng họ nữa. Họ sẽ phải đi tìm người khác.” Clemente đau xót nhưng không nói lời nào, cậu ta chỉ cúi xuống nhặt chiếc mề đay có hình thánh. Rồi chăm chú nhìn Marcus trong lúc anh đi thẳng về phía cửa, bước ra rồi khép cửa lại sau lưng.

4 Anh bước qua ngưỡng cửa căn phòng áp mái trên phố Serpenti. Và cô đã ở đó. Marcus không hỏi vì sao cô biết nhà anh, cũng chẳng hỏi làm thế nào cô vào được. Khi Sandra đứng dậy khỏi cái giường xếp cô đã ngồi đợi anh, theo bản năng Marcus lao về phía cô. Và cô, cũng theo bản năng, ôm chầm lấy anh. Họ đứng yên như vậy trong cái ôm thật chặt và câm lặng. Marcus không thể nhìn thấy gương mặt của cô nhưng anh cảm nhận được mùi tóc của cô, hơi ấm trong cơ thể cô. Sandra áp đầu vào ngực anh và lắng nghe nhịp đập thầm kín của trái tim anh. Anh có cảm giác thật bình yên như thể đã tìm thấy chỗ của riêng mình trên thế giới. Cô nhận ra rằng mình đã muốn có anh ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, dù cô không dám thừa nhận cho tới tận lúc này. Họ ôm nhau chặt hơn, ý thức được rằng có lẽ họ không thể đi xa hơn nữa. Rồi Sandra là người buông tay trước. Nhưng chỉ vì họ có một nhiệm vụ cần cộng tác. “Tôi phải nói chuyện với anh, còn rất ít thời gian.” Marcus đồng ý, nhưng trong giây lát anh không thể nhìn thẳng vào mắt

cô. Nhưng anh nhận ra cô đang chăm chú quan sát bức hình dán trên tường, bức hình người đàn ông đeo túi màu xám. Kẻ giết hại bà sơ trong vườn Vatican. Nhưng trước khi cô có thể hỏi anh điều gì đó, anh đã vội đặt câu hỏi trước: “Cô tìm được tôi bằng cách nào?” “Đêm qua tôi đã gặp một người đàn ông. Ông ta biết mọi thứ về anh, ông ta đã bảo tôi tới đây.” Sandra rời mắt khỏi tấm hình và bắt đầu kể lại chuyện xảy ra ở Colosseo. Marcus thấy khó có thể tin những điều cô nói. Ai đó biết anh. Không chỉ địa chỉ nhà anh mà cả mục tiêu sứ mệnh của anh. “Ông ta biết tôi quen anh.” Sandra nói. “Và rằng ba năm trước anh đã giúp tôi khám phá chuyện đã xảy ra với chồng tôi.” Làm sao ông ta lại biết được chứ? Người đàn ông đã xác nhận với cô rằng có một giáo phái đang bảo vệ đứa trẻ muối. Sandra kể tỉ mỉ về những chi tiết trong lời giải thích ấy, dù cô tin là kẻ lạ mặt đã giấu cô chuyện gì đó. “Như thể ông ta chỉ hé lộ cho tôi một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 55

Đang tải bình luận...