Thợ Săn Bóng Tối

phần của liệu pháp. Trước khi anh tham gia

phần của liệu pháp. Trước khi anh tham gia

phần của liệu pháp. Trước khi anh tham gia cùng những người khác, anh sẽ phải ở một mình trong một thời gian ngắn. Lúc đó Kropp và cộng sự của ông ta thuyết phục anh quên đi trước đó mình là ai và loại bỏ khỏi trí não anh tội ác mà anh đã phạm phải. Tôi nghĩ họ làm vậy vì mục đích của họ là tái tạo lại con người bên trong một đứa trẻ, bắt đầu từ con số không. Cho đến năm tôi mười sáu, tôi chỉ nhớ mình tên là gì và điều mà tôi làm với cha khi một thẩm phán đọc tên thật của tôi trước mọi người vào ngày mà họ xác nhận tôi có thể trở lại thế giới bên ngoài.” Marcus nghĩ những thông tin đó đã khá đủ. Còn một điều duy nhất cần xác minh. “Cậu đang chạy trốn ai hả Nicola?” Hắn mở vòi nước để rửa tay. “Như tôi nói với anh, đứa trẻ muối làm tất cả sợ hãi – ý tôi là ở đó có những con người nguy hiểm, đó là những đứa trẻ phạm những tội lỗi kinh khủng mà không chớp mắt. Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu đứa trẻ đó dù bề ngoài mỏng manh và thiếu tự vệ nhưng giờ ở cuộc sống thực hắn có thể làm hại ai đó.” Hắn nhìn Marcus trân trân trong gương. “Có lẽ cả anh cũng nên sợ hắn. Nhưng không phải hắn là người đã đâm tôi.” “Vậy cậu có nhìn thấy mặt hung thủ?” “Hắn đâm tôi từ phía sau. Nhưng hắn có đôi bàn tay già nua, cái này tôi chắc chắn. Điều thứ hai tôi để ý thấy là hắn đi đôi giày màu lam kinh tởm.”

10 Căn hộ của Astolfi được gắn mác điểm 23. Lý do của con số đó là sự tịnh tiến. Và Moro đang giải thích điều đó tại cuộc họp bí mật diễn ra vào tối muộn trong phòng của cảnh sát trưởng. Người tham dự rất hạn chế và được lựa chọn. Ngồi xung quanh bàn họp, ngoài cảnh sát trưởng còn có một quan chức của Bộ Nội vụ, Tổng chỉ huy lực lượng cảnh sát, đại diện của Viện Kiểm sát và thanh tra Crespi. “Hai mươi ba trường hợp,” phó cảnh sát trưởng nói. “Trường hợp đầu tiên là vào năm 1987. Một đứa trẻ ba tuổi ngã từ ban công tầng năm của một tòa chung cư. Người ta nghĩ đó là một tai nạn thảm thương. Vài tháng sau, một bé gái nhỏ tuổi hơn cũng chịu chung số phận từ một tòa nhà cùng khu phố. Trong cả hai vụ đều có một chi tiết lạ lùng: hai thi thể đều thiếu chiếc giày bên phải. Chuyện gì đã xảy ra? Theo bố mẹ của những đứa trẻ, giày không rớt khi chúng ngã và ở nhà cũng không thấy. Chỉ là một sự tình cờ? Người ta đã bắt giữ cô trông trẻ cho cả hai gia đình. Trong đồ đạc của cô ta lộ ra hai chiếc giày và trong sổ nhật ký của cô ta phát hiện thấy thứ này.” Moro cho những người dự họp xem bản photocopy một trang sổ. Hình người hiện ra trong bóng tối tại nhà của Astolfi. Người đầu sói.

“Cô ta đã thú nhận làm ngã hai đứa trẻ từ ban công, nhưng không biết giải thích cái hình vẽ đó từ đâu mà ra. Cô ta nói rằng nó không phải của mình. Cuộc điều tra đã dừng lại khi có lời thú tội. Chẳng ai tìm hiểu thêm về chi tiết này, cũng bởi vì những điều tra viên sợ rằng nó có thể là một cái cớ để chạy tội do mắc bệnh tâm thần.” Những khán giả ít ỏi chăm chú theo dõi câu chuyện, không ai dám ngắt lời. “Từ đó trở đi, hình ảnh ấy xuất hiện lúc trực tiếp lúc gián tiếp, thêm hai mươi hai lần nữa,” Moro nói tiếp. “Năm 1994, nó được tìm thấy trong nhà của người đàn ông đã giết vợ và con trước khi tự vẫn. Cảnh sát không nhận ra nó ngay lập tức, chính đội khoa học hình sự đã phát hiện ra nó trong quá trình điều tra bổ sung theo yêu cầu của tòa án để xác minh xem tên sát nhân hành động một mình hay có tòng phạm. Những chất phản ứng hóa học đã làm nó hiện lên trên chiếc gương trong phòng vệ sinh nhưng không ai biết nó đã được vẽ từ lúc nào trên hơi nước.” Moro lấy từ trong đống giấy tờ bức ảnh chụp tại hiện trường đó. Nhưng vẫn chưa hết. “Chúng tôi đã tìm thấy hình ảnh này được vẽ bằng sơn xì cả trên bia mộ của một tên ấu dâm bị một tù nhân khác sát hại vào năm 2005. Điều lạ lùng là tấm bia không có tên vì nhà chức trách lo ngại những hành động phá hoại và trả thù. Chẳng ai biết danh tính của người đã chết. Chẳng lẽ đây cũng là trùng hợp?” Không ai biết câu trả lời. “Tôi có thể giữ các vị ngồi lại đây thêm tiếng nữa, nhưng sự thật là câu chuyện về hình ảnh tái diễn này được giữ kín để tránh những hành động sao chép ngu ngốc hay thậm chí tệ hơn là kẻ nào đó có thể lợi dụng nó để

phạm tội rồi ký tên bằng ký hiệu đó.” “Một người trong số chúng ta có liên quan, một bác sĩ pháp y. Thật kinh tởm.” Cảnh sát trưởng nhắc nhở mọi người về tính nghiêm trọng của vụ việc vừa khám phá ở nhà của Astolfi. “Anh nghĩ hình người đó có liên quan đến kẻ sát hại những cặp đôi?” Viên quan chức của bộ – người có chức danh cao nhất ở đó – hỏi. “Nhất định có mối quan hệ, dù chúng tôi vẫn chưa biết cụ thể.” “Theo anh, dấu hiệu này có nghĩa gì?” Moro biết trả lời câu hỏi đó là mạo hiểm, nhưng anh thấy không còn lựa chọn nào khác. Sự thật đã bị né tránh quá lâu rồi. “Một kiểu biểu tượng huyền bí.” Tới lúc đó, Tổng chỉ huy lực lượng cảnh sát Ý lên tiếng. “Thưa các ngài, tôi không muốn bị hiểu nhầm nhưng tôi nghĩ chúng ta nên thận trọng. Vụ án của con quái vật Roma đã dấy lên rất nhiều tranh cãi. Công luận đang lo lắng, họ không thấy an toàn và truyền thông đang thổi phồng sự việc, không ngừng tìm cách đưa chúng ta vào thế bất lợi.” “Để giải quyết một vụ án như thế này, cần phải có thời gian.” Thanh tra Crespi nhấn mạnh. “Tôi biết điều đó nhưng vụ này rất nhạy cảm.” Tổng chỉ huy nhắc lại. “Người dân đơn giản và thực dụng. Họ không muốn đóng thuế nhiều nhưng lại muốn chắc chắn rằng khoản tiền đó được sử dụng đúng mục đích bắt tội phạm. Họ muốn có câu trả lời ngay lập tức mà không cần quan tâm cuộc điều tra được tiến hành như thế nào.” Quan chức của bộ tán thành. “Nếu chúng ta quá tập trung vào thể loại

huyền bí này và thông tin bị lan truyền, truyền thông sẽ nói rằng vì chẳng có gì để điều tra nên chúng ta phải lần theo những thế lực ma quái và chuyện nhảm nhí. Họ sẽ cười nhạo sau lưng chúng ta.” Moro im lặng ngồi nghe cuộc tranh luận vì anh biết rằng đó chính là lý do mà trong quá khứ, chẳng ai muốn tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Họ không chỉ lo sợ sẽ trở thành trò nực cười mà còn những yếu tố khác. Chẳng cảnh sát nào muốn tiến thân lại chọn hướng điều tra về những điều huyền bí: nguy cơ là sẽ không tìm ra câu trả lời, cuộc điều tra sẽ bị ách lại và sự nghiệp của họ sẽ bị hủy hoại. Thêm nữa, chẳng vị quan chức hay chỉ huy nào sẽ cho phép một cuộc điều tra như vậy: nguy cơ là mất lòng tin và quyền lực. Nhưng còn có một yếu tố con người hơn, một sự chùn bước tự nhiên trước một số chủ đề nhất định. Có thể là nỗi lo sợ vô lý và không thể thổ lộ rằng có một phần sự thật trong đó. Vì thế người ta thường bỏ qua nó. Và đó là một sai lầm. Nhưng lúc này, phó cảnh sát trưởng không muốn xáo trộn mọi việc, nên anh tán thành với những vị cấp trên. “Tôi chia sẻ nỗi lo lắng với các ngài. Tôi xin đảm bảo sẽ hành động thận trọng.” Cảnh sát trưởng đứng dậy khỏi bàn họp và đi thẳng về phía cửa sổ. Bên ngoài một cơn bão đang hình thành. Những tia chớp lóe sáng đường chân trời ban đêm, báo hiệu một cơn mưa đang tới. “Chúng ta có ADN của con quái vật, phải không? Vậy thì hãy tập trung vào việc đó. Chúng ta sẽ tóm được tên sát nhân của những cặp đôi và quên đi tất cả câu chuyện này.” Crespi thấy mình có bổn phận phải lên tiếng. “Chúng tôi đã triệu tập tất cả những tên tội phạm có tiền án xâm hại tình dục và hành hung. Chúng tôi đang lấy mẫu nước bọt của tất cả bọn chúng và đối chiếu với bộ gen, hy vọng sẽ có một sự trùng khớp. Nhưng việc đó không thể nhanh được.”

Ông cảnh sát trưởng đấm tay vào tường. “Nhất định phải có, khỉ thật! Hoặc là cuộc điều tra này sẽ làm chúng ta tiêu tốn hàng triệu euro: Tôi đang nói tới những hơn hai mươi nghìn vụ chỉ tính riêng ở Roma và chỉ trong năm ngoái!” Xâm hại tình dục là những vụ án phổ biến nhất, dù con số được giữ kín để tránh việc một vài tên biến thái nghĩ mình có thể không bị trừng phạt. “Nếu tôi không nhầm thì ADN được tìm thấy trên chiếc áo sơ mi bỏ lại trong xe của hai thanh niên đầu tiên chỉ cho phép khẳng định rằng thủ phạm là nam giới,” viên quan chức của bộ tóm tắt lại. “Chẳng có gì bất thường trong gen khiến chúng ta nghĩ tới một loại người nhất định nào đó, phải vậy không?” “Chính xác.” Crespi thừa nhận. Nhưng tất cả những người có mặt đều biết rằng cảnh sát Ý chỉ lưu trữ số liệu gen của đối tượng trong những vụ án cần phải tiến hành xét nghiệm ADN để tìm ra thủ phạm. Còn đối với những tội phạm thông thường, người ta chỉ lấy dấu vân tay vào thời điểm bắt giữ. “Cho đến giờ vẫn chưa có kết quả gì.” Trong khi những người khác trở lại thảo luận về số liệu điều tra mang tính bảo đảm, Moro tiếp tục nghĩ về cái bóng anh nhìn thấy trên bức tường bên trong không gian bí mật ở nhà của Astolfi. Người đàn ông đầu sói là ý tưởng mà không ai trong căn phòng đó muốn đương đầu. Anh nghĩ về công trình bằng xương thú – tác phẩm của bác sĩ pháp y – không rõ ông ta đã tốn bao nhiêu thời gian để tạo ra nó. Vì thế, nếu sự việc chỉ là một tên sát nhân giết những cặp đôi, có lẽ Moro sẽ cảm thấy thanh thản hơn. Đằng này, có thứ gì đó kinh khủng đang lượn lờ xung quanh vụ án con quái vật

thành Roma. Điều mà chẳng ai muốn nghe nói tới. Đứng trước cửa sổ phòng khách sạn khá khiêm tốn của mình, Battista Erriaga cầm trong tay một bức ảnh. Tia chớp của cơn bão đang tới rọi sáng trong phút chốc hình ảnh công trình bằng xương tìm thấy ở nhà Astolfi. Trên giường rải rác toàn bộ hồ sơ điều tra vụ quái vật Roma mà ông bạn Tommaso Oghi đã kiếm cho hắn theo yêu cầu. Có cả những tài liệu mật. Erriaga lo lắng. Tầng bí mật thứ nhất là đứa trẻ muối. Tầng thứ hai, người đầu sói. Nhưng những điều tra viên phải hiểu được ý nghĩa của hai tầng đầu để tới được tầng thứ ba. Battista cố tự trấn an. Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra, hắn thầm nhủ. Nhưng trong đầu hắn văng vẳng giọng của Min – anh bạn khổng lồ của hắn – nói rằng cảnh sát đang tiến đến gần sự thật một cách đáng lo ngại. Từ nhiều năm nay, Min khôn ngoan đã thế chỗ phần nhận thức đó của hắn để tiên lượng về những tình huống tồi tệ nhất. Chính phần nhận thức của bản thân mà thời trẻ Battista thường né tránh một cách có hệ thống. Nhưng thời ở Philippines đã qua rồi, giờ hắn đã là một người khác. Vì vậy hắn thấy có trách nhiệm phải lắng nghe những lo ngại của chính mình. Theo văn bản trong hồ sơ, những điều tra viên chẳng tìm được gì mấy. Có mẫu ADN của hung thủ nhưng điều này không làm Erriaga hoảng sợ: chỉ khoa học thì không đủ để tóm được tên quái vật, cảnh sát không biết

tiếp cận vấn đề. Vì thế, điều làm hắn lo ngại chính là biểu tượng huyền bí một lần nữa lại xuất hiện trong một vụ án mạng. Họ sẽ lại dừng chân giống những lần trước thôi, hắn tự nhủ. Vì nếu có khám phá ra sự thật, họ cũng chẳng sẵn sàng để thừa nhận nó. Nhưng vấn đề thực sự lại là phó cảnh sát trưởng Moro. Đó là một tên cảnh sát cứng đầu, anh ta sẽ không bao giờ chùn bước trước khi khám phá tận cùng câu chuyện. Người đầu sói. Erriaga không thể để biểu tượng đó bị giải mã. Nhưng khi ngoài trời cơn mưa đã sắp trút xuống, hắn bỗng thấy có điềm báo. Nếu việc đó xảy ra thật thì mọi chuyện sẽ ra sao?

11 Học viện Kropp thực sự không tồn tại. Không thể có một địa điểm bí mật mà người ta đưa bọn trẻ giết người đến. Chẳng ai sẽ gọi chúng là những kẻ sát nhân, nhưng bản chất của chúng chính là như vậy, Marcus thầm nghĩ. “Cứ như thể sống trong một câu chuyện cổ tích… Nhưng không thể thoát ra.” Nicola Gavi đã miêu tả như thế. Không tìm thấy dấu vết của viện tâm thần dành cho trẻ em này ở bất cứ nơi đâu. Không một địa chỉ hay một lời đề cập chóng vánh trên Internet, nơi mà những thông tin bảo mật nhất thường để lại dư âm mờ ảo nào đó. Và trên mạng cũng có rất ít thông tin về Joseph Kropp, ông bác sĩ người gốc Áo đã lập ra nơi đó để cải tạo những đứa trẻ gây tội ác kinh hoàng nhưng thường không nhận thức được tính trầm trọng của sự việc. Kropp được nhắc tới với tư cách là tác giả của một vài ấn phẩm về quá trình phát triển tội lỗi ở tuổi thiếu nhi và khả năng phạm tội của trẻ vị thành niên. Ngoài ra không có gì thêm, chẳng có tiểu sử cũng như lý lịch nghề nghiệp.

Manh mối duy nhất mà Marcus tìm được nằm trong một bài báo ca ngợi giá trị giáo dục của những câu chuyện cổ tích. Linh mục ân giải tin rằng lý do cho sự bảo mật kỹ lưỡng đó là mong muốn bảo vệ quyền riêng tư cho những vị khách nhỏ tuổi của học viện. Sự tò mò bệnh hoạn của con người sẽ khiến mọi cơ hội cải tạo tiêu tan. Nhưng chỗ đó nhất định phải được biết đến. Chắc chắn phải có những đơn vị cung cấp mọi thứ cần thiết, phải có giấy phép và chứng từ thuế má chứng minh cho những hoạt động này. Và ắt hẳn ở đó phải có nhân viên được tuyển dụng và trả lương như thông thường. Vậy thì cách lý giải duy nhất có vẻ hợp lý là nó mang một cái tên khác, một cái tên vỏ bọc để tránh bị dòm ngó. Và thế là Marcus tình cờ tìm thấy Trung tâm hỗ trợ thiếu nhi Hamelin. Đó chính là tên của thành phố trong câu chuyện cổ tích của anh em Grimm mà một ngày nọ Chàng Thổi Tiêu Thần Kỳ đã biến mất. Truyện kể rằng, với cây tiêu của mình anh chàng đã giải phóng người dân khỏi nạn chuột và ruồi. Vẫn nhờ âm thanh của nó, anh ta đã làm những đứa trẻ biến mất để trả thù cho việc không được trả công. Đó là một sự lựa chọn kỳ cục, Marcus nhận định. Chẳng có gì tốt đẹp trong câu chuyện cổ tích đó cả. Trường Hamelin nằm trong một tòa nhà được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 20 ở khu vực Tây Nam của thành phố. Bao quanh nó là một công viên dưới ánh chớp để lộ những dấu hiệu không được chăm chút. Tòa nhà bằng đá màu xám không lớn lắm và chỉ có hai tầng. Những ô cửa sổ ở mặt tiền bị chắn bằng những tấm gỗ sậm màu. Rõ ràng mọi thứ đang trong tình trạng bị bỏ hoang.

Đứng dưới trời mưa, Marcus quan sát ngôi nhà từ phía sau cánh cổng sắt hoen gỉ. Anh nghĩ lại những miêu tả khái quát của Nicola Gavi về đứa trẻ muối. Tóc và mắt màu hạt dẻ, ngoại hình bình thường. Yếu đuối và khép kín, nhưng lại có khả năng gieo rắc một nỗi sợ hãi kỳ lạ. Tại sao nó ở đó? Nó đã phạm phải tội gì nghiêm trọng đây? Lời giải đáp có lẽ nằm trong tòa nhà ấy. Vào giờ đó trong đêm, địa điểm đẩy lùi những cặp mắt tò mò bởi dáng vẻ dữ tợn nhưng cũng u sầu của nó. Như thể một bí ẩn của những đứa trẻ. Marcus không thể chờ đợi thêm. Anh trèo qua cánh cổng sắt và rơi xuống một thảm lá khô ẩm ướt. Gió vẫn đủ sức thổi chúng bay từ bên này sang bên kia khu vườn, như bóng ma của những đứa trẻ đang chơi trò đuổi bắt. Trong cơn mưa có thể nghe thấy những tràng cười của chúng làm từ những tiếng xào xạc. Linh mục ân giải bước về phía lối vào. Phần phía dưới mặt tiền đầy những dòng chữ sơn xì, dấu vết nữa cho sự hoang hóa của nơi đây. Cửa ra vào bị bịt kín bởi những thanh gỗ. Marcus đành đi xung quanh ngôi nhà để tìm cách vào bên trong. Một ô kính cửa sổ tầng trệt mở toang. Anh trèo bằng cả hai chân lên gờ tường trơn tuột bởi nước mưa xối xả không ngừng. Anh bám lấy bậu cửa sổ để nâng người lên, cẩn thận để không bị trượt ngã, rồi chui vào cái lỗ hẹp. Cuối cùng anh đã sang được bên kia, người nhỏ nước tong tong xuống sàn. Đầu tiên, anh lục túi tìm đèn pin. Anh bật nó lên. Trước mắt anh là một kiểu phòng ăn tập thể. Có khoảng ba mươi chiếc ghế bằng mica, giống y hệt nhau, nằm xung quanh những chiếc bàn tròn và thấp. Sự sắp xếp ngăn nắp đối nghịch với vẻ hoang hóa của ngôi nhà. Cứ như thể

những chiếc ghế, chiếc bàn vẫn còn đang đợi chờ ai đó. Marcus xuống khỏi bậu cửa và chiếu đèn vào sàn nhà. Những viên gạch khảm đã phai màu theo thời gian. Anh bước đi để khám phá những căn phòng khác. Tất cả các phòng đều giống nhau. Có thể bởi vì ngoại trừ phần khung của đồ đạc, trong đó trống rỗng. Không có cửa và tường trắng nhợt, nơi những mảng vữa không bị bong tróc vì ẩm ướt. Có một mùi ẩm mốc dai dẳng và tiếng nước mưa đang rỏ âm vang khắp ngôi nhà. Ngôi trường như thể xác của một con tàu xuyên Đại Tây Dương nằm trong tâm điểm của cơn bão. Những bước chân của Marcus mang lại tiếng động mới cho không gian – những bước chân buồn bã và cô đơn như của một vị khách đã tới quá trễ. Anh tự hỏi chuyện gì đã xảy ra ở nơi đây, điều tồi tệ nào đã khiến nó phải gánh chịu một kết cục không đáng như vậy. Nhưng linh mục ân giải có thể cảm thấy một sự rung động lạ lùng. Một lần nữa, anh lại ở rất gần với sự thật. Hắn ta đã ở đây, anh tự nhủ khi nhớ lại cái bóng người trong bữa tiệc ở khu Appia Antica. Con đường của hắn đã từng ghé qua đây nhiều năm trước khi giao với con đường của anh vào đêm hôm đó. Anh bắt đầu bước lên cầu thang dẫn lên tầng trên. Những bậc thang có vẻ khá ọp ẹp, như thể chỉ cần một lực rất nhỏ cũng có thể làm chúng đổ sập. Anh dừng lại ở chỗ chiếu nghỉ. Một hành lang nhỏ trải dài từ phải qua trái. Anh bắt đầu khám phá không gian. Những chiếc giường tầng đã hoen gỉ, một vài cái ghế gãy. Có cả một phòng vệ sinh lớn với những vòi hoa sen đặt cạnh nhau và một phòng thay

đồ. Nhưng sự chú ý của Marcus lại hướng về căn phòng trong cùng. Bước qua ngưỡng cửa, anh thấy mình ở trong một không gian khác hẳn những chỗ còn lại. Những bức tường được phủ giấy dán tường. Xung quanh anh là những bức vẽ minh họa một số cảnh tượng trong các câu chuyện cổ tích. Anh nhận ra Hansel và Gretel đang đứng trước ngôi nhà làm bằng bánh kẹo. Bạch Tuyết. Lọ Lem đang khiêu vũ. Cô bé quàng khăn đỏ với giỏ thức ăn. Cô bé bán diêm. Những nhân vật như bước ra từ một quyển sách cũ đã phai màu. Nhưng có thứ gì đó rất lạ lùng. Lia đèn qua một lượt, cuối cùng Marcus đã hiểu. Trên gương mặt của chúng không có nét gì vui tươi. Chẳng ai cười, như người ta vẫn thường trông đợi trong một câu chuyện cổ tích. Điều duy nhất có thể thấy là sự lo âu và bứt rứt. Một tiếng sấm to hơn mọi lần. Linh mục ân giải thấy cần phải ra khỏi ngôi nhà. Nhưng khi đang chuẩn bị, đế giày anh bỗng giẫm vào một thứ gì đó. Anh chiếu đèn xuống và thấy trên sàn nhà có những giọt sáp nến. Chúng xếp thành hàng ngay ngắn và dẫn ra phía ngoài. Marcus tìm thấy chúng cả ở chỗ hành lang, dẫn xuống dưới. Anh quyết định đi theo dấu của chúng. Chúng dẫn anh tới tận một hốc nhỏ dưới chân cầu thang nơi dấu sáp kết thúc ở trước một cánh cửa nhỏ bằng gỗ. Ai mạo hiểm tới tận đó với một cây nến trên tay hẳn đã đi vào trong. Marcus thử vặn tay cầm. Cửa mở. Anh rọi đèn pin. Trước mặt anh là một mê cung những hành lang và

phòng nhỏ. Tính ra chúng chiếm một diện tích rộng hơn rất nhiều so với hai tầng phía trên, cứ như thể ngôi nhà thực tế chìm sâu dưới đất và những gì trông thấy được chỉ là một phần khiêm tốn của nó. Anh bước tiếp. Những giọt sáp nến là cách định hướng duy nhất dưới đó, nếu không chắc chắn anh sẽ lạc đường. Dưới mặt đất, sỏi thế chỗ cho những viên gạch. Và anh thấy có một mùi dầu lửa khá mạnh giống như mùi thường bốc ra từ những nồi hơi cổ. Ở dưới đó chồng chất các đồ nội thất của ngôi trường cũ. Những tấm đệm mốc meo trong bóng tối và những đồ đạc bị độ ẩm âm thầm ăn mòn. Không gian dưới lòng đất như một dạ dày khổng lồ đang chậm rãi làm việc để xóa dần mọi dấu vết của nó. Nhưng cũng có rất nhiều đồ chơi. Những con rối lò xo đã hoen gỉ, những chiếc ô tô đồ chơi, một con ngựa bập bênh, bộ xếp hình bằng gỗ, một con gấu bông đã trụi lông nhưng đôi mắt vẫn còn sáng quắc. Hamelin là nơi trung gian giữa một nhà tù và một viện tâm thần, nhưng những đồ vật gợi Marcus nhớ rằng đó cũng là một địa điểm dành cho trẻ em. Một lát sau, dấu sáp nến dẫn vào một trong các căn phòng. Marcus chiếu đèn vào phía bên trong. Anh không thể tin nổi. Đó là một phòng lưu trữ. Trong đó chứa hàng tập hồ sơ và chồng văn bản. Chúng được xếp dọc theo những bức tường và choán đầy trung tâm của căn phòng cho đến tận trần nhà. Nhưng rất lộn xộn. Linh mục ân giải đưa đèn pin lại gần để đọc biển gắn trên những ngăn kéo. Trên đó chỉ ghi mỗi ngày tháng. Nhờ chúng anh có thể suy luận ra rằng trường Hamelin hoạt động trong mười lăm năm. Rồi, vì vài lý do

không rõ ràng nào đó, nó đã bị đóng cửa. Marcus bắt đầu kiểm tra đống văn bản, lấy ra vài cái ngẫu nhiên và tin rằng chỉ cần ngó qua anh sẽ biết liệu nó có đáng quan tâm hay không. Nhưng sau khi đọc vài dòng ngẫu nhiên từ hai trang giấy, anh nhận ra thứ lộn xộn trước mặt không chỉ đơn thuần là một phòng lưu trữ bệnh án và giấy tờ hành chính. Đó là nhật ký của giáo sư Joseph Kropp. Ở đó có đáp án cho mọi câu hỏi. Nhưng sự mênh mông của kho thông tin đó chính là trở ngại lớn nhất cho việc tìm kiếm sự thật. Thiếu một tiêu chí logic, Marcus đành phó mặc cho sự tình cờ. Anh bắt đầu kiểm tra những quyển sổ của Kropp. “Giống như người lớn, những đứa trẻ cũng sở hữu thiên hướng sát nhân bẩm sinh,” ông bác sĩ tâm thần viết, “điều này chỉ bộc lộ ở tuổi dậy thì. Quả thực những đứa trẻ vị thành niên phải chịu trách nhiệm về những vụ thảm sát bằng súng và đầy tính máu lạnh tại các trường học. Bên cạnh những sát thủ trường học còn có những sát nhân băng đảng – các thanh niên gia nhập băng nhóm và phạm tội giết người với niềm an ủi là chúng có đồng bọn.” Nhưng Kropp không chỉ dừng lại ở đó, ông ta còn phân tích hiện tượng giết người ở tuổi ngây thơ và trong trắng. Tuổi thơ ấu.

12 Trong lịch sử mười lăm năm của mình, trường Hamelin là nơi ghé chân của khoảng ba mươi đứa trẻ. Chúng đều phạm cùng một tội. Sát nhân. Cho dù không phải đứa trẻ nào cũng thực sự giết người. Một vài đứa chỉ có biểu hiện khuynh hướng sát nhân rõ rệt hay đã bị ngăn chặn trước khi đạt được mục đích hoặc chúng thực hiện không thành công. Xét về độ tuổi của trẻ phạm tội, ba mươi là một con số đáng kể. Bản kê khai về những gì chúng phạm phải không có ảnh đính kèm, cũng chẳng có tên khai sinh. Danh tính của mỗi đứa trẻ được che giấu bằng một câu chuyện cổ tích. “Khi giết người, bọn trẻ còn tàn độc hơn cả người lớn: Sự ngây thơ là vỏ bọc của chúng.” Joseph Kropp viết. “Khi tới đây, có vẻ như chúng hoàn toàn không nhận thức được mức độ trầm trọng của việc chúng đã và sắp thực hiện. Nhưng sự ngây thơ trong hành vi của chúng có thể đánh lừa. Như trường hợp của đứa trẻ tra tấn một con côn trùng nhỏ. Người lớn sẽ phạt nó nhưng lại nghĩ đó là một trò chơi vì luôn cho rằng đứa bé không có nhận thức đầy đủ về sự khác biệt giữa tốt và xấu. Nhưng một phần trong đứa trẻ biết rằng việc nó làm là sai trái và nó cảm thấy vui thú khi hành hạ

người khác.” Marcus bắt đầu chọn đọc ngẫu nhiên. Đứa trẻ bằng rơm mười hai tuổi và không có tình cảm. Trên thực tế, người mẹ đơn thân đã giao nó cho vợ chồng người dì vì không có khả năng chăm sóc. Một ngày nọ, trong một công viên trò chơi, nó đã gặp một đứa bé năm tuổi và lợi dụng lúc cô trông trẻ của cậu bé sao nhãng, nó đã thuyết phục cậu bé đi theo mình vào một nhà kho bỏ hoang. Ở đó, nó đã dẫn cậu bé tới gần miệng của một bể chứa sâu hàng mét và đẩy cậu bé xuống dưới. Đứa bé bị gãy cả hai chân nhưng chưa chết ngay. Hai ngày sau đó, trong khi mọi người đổ xô tìm kiếm và nghĩ rằng nó bị một người lớn bắt cóc, hung thủ thực sự đã nhiều lần quay lại nhà kho, ngồi trên miệng bể chứa để nghe tiếng khóc và những lời cầu cứu từ bên dưới vọng lên như một con ruồi bị cầm tù trong một cái lọ. Cho đến ngày thứ ba, những lời van nài chấm dứt. Đứa bé bằng bụi lên bảy tuổi. Trong một thời gian dài, nó là đứa con duy nhất, vì thế nó không chấp nhận sự xuất hiện của em trai mình – một kẻ lạ mặt đáng ghét đã phá hủy chuỗi tình cảm gia đình. Một ngày nọ, lợi dụng lúc bà mẹ không để ý, nó đã lấy đứa trẻ sơ sinh ra khỏi cũi và mang vào phòng vệ sinh, dìm em nó xuống bồn tắm đầy nước. Bà mẹ đã phát hiện ra khi nó đang lặng ngắm đứa em trai chết đuối và bà ta đã kịp cứu đứa nhỏ vào phút cuối cùng. Dù bị bắt quả tang nhưng đứa trẻ bụi luôn miệng nói là mình vô tội. Theo Kropp, việc giết người đôi khi được thực hiện trong một trạng thái tâm thần phân liệt. “Khi thực hiện hành vi, đó thực sự là một cuộc chạy trốn thực tại mà trong đó nạn nhân được xem như một đồ vật chứ

không phải con người. Điều đó giải thích cho việc tên tội phạm sau đó thường bị mất trí nhớ. Sát thủ trẻ thơ không thể nhớ được việc mình đã làm, thấy thương cảm hay hối hận.” Marcus hiểu tại sao nhà chức trách lại giấu kín những vụ án ấy. Đó là vì sự cấm kỵ. Công bố những câu chuyện đó có thể làm dư luận hoang mang. Vì thế người ta dựng lên những tòa án đặc biệt, văn bản được giữ kín và tất cả thông tin đều tuyệt mật. Có ba đứa bé gió, tất cả đều mười tuổi. Nạn nhân của chúng là một người đàn ông năm mươi tuổi, nhân viên kinh doanh, có một vợ và hai con, đang đi trên cao tốc để về nhà trong một tối mùa đông thường lệ. Từ trên cầu vượt, ai đó đã quăng một tảng đá vào chính giữa kính chắn gió của xe ông ta, làm người đàn ông bị vỡ hộp sọ, để lại một lỗ sâu trên mặt. Ba đứa trẻ phạm tội đã bị nhận diện sau khi người ta kiểm tra lại băng ghi hình của một camera an ninh đặt ở trên cầu. Theo đó, trò chơi tử thần của chúng đã diễn ra trong nhiều tuần. Chúng đã phá hoại rất nhiều phương tiện mà không bị ai phát hiện ra. Đứa trẻ lửa tám tuổi. Khi cánh tay nó bị bỏng do pháo, bố mẹ nó cho đó là một vụ tai nạn, nhưng thực ra chính nó muốn thí nghiệm trên cơ thể mình sức mạnh bí ẩn của lửa – có thứ gì đó ngọt ngào trong tận cùng sự đau đớn đó. Từ lâu nó đã để mắt tới một người vô gia cư thường qua đêm trong một ô tô bị bỏ tại bãi đậu xe. Nó đã đốt xe bằng một can xăng ăn cắp từ gara của ông bố. Người đàn ông đó đã bị bỏng nghiêm trọng trên 60% cơ thể. Bình luận về những vụ phạm tội đó, Joseph Kropp không hề khoan nhượng mà chỉ rõ những động cơ ẩn sâu bên trong. “Rất nhiều người tự

hỏi làm thế nào một đứa trẻ, một con người được coi là trong trắng, lại có thể thực hiện một hành vi vô nhân tính như giết người. Dẫu vậy, không giống với những án mạng mà hung thủ là người trưởng thành và có thể phân biệt được hai nhân vật: hung thủ và nạn nhân, trong những vụ phạm tội của trẻ em, hung thủ cũng chính là nạn nhân. Thường chúng có một ông bố thường xuyên vắng mặt, dữ đòn hoặc ít tình cảm. Hay chúng có một bà mẹ lấn át, vô tình hoặc thể hiện ham muốn với con trai mình. Một đứa trẻ bị lạm dụng, bị bạo hành trong gia đình, hay bị bố mẹ khinh rẻ, thường có xu hướng cảm thấy mình có lỗi vì việc này, nghĩ rằng mình xứng đáng bị đối xử tệ bạc như vậy. Vì thế, nó chọn một đứa cùng trang lứa giống như mình, dễ bị tổn thương và không được bảo vệ, và nó giết đứa bé đó vì nó học được rằng kẻ yếu nhất phải luôn bị đánh bại. Trên thực tế, bằng cách này sát thủ trẻ thơ tự trừng phạt chính mình và trừng phạt sự bất lực của bản thân trước những hành hạ, nhục mạ.” Đó là trường hợp của đứa trẻ thiếc, nó bị cả bố lẫn mẹ hành hạ từ tấm bé, họ trút mọi cơn giận dữ lên đầu nó. Họ được những người quen biết kính trọng quá đến nỗi không mảy may nghi ngờ. Dưới con mắt của người lạ, đứa con duy nhất của họ là một đứa trẻ vụng về hoặc chỉ đơn giản là kém may mắn và thường xuyên gặp tai nạn nhỏ gây ra những vết bầm tím và gãy xương. Cho đến khi, chính đứa trẻ đơn độc đó tìm được một người bạn thân. Mối quan hệ đó là một điểm tích cực trong cuộc sống của nó và nó bắt đầu cảm thấy hạnh phúc và thấy mình giống như bao đứa trẻ khác. Thế mà, một ngày nó đã lừa cậu bạn vào hầm nhà của người bà, trói cậu bé lại và làm gãy xương chân và cẳng tay bằng một cái búa. Rồi nó dùng lưỡi dao lam rạch lên khắp người cậu bé. Cuối cùng nó đã dùng một thanh sắt nhọn đâm thủng bụng cậu bạn – “Cháu phải làm thế vì nó thực sự không

muốn chết.” Do chứng mất trí nhớ đã xóa sạch cuộc đời trước đây của anh, kể cả thời thơ ấu, Marcus buộc phải tự vấn chính xác vào thời điểm nào lúc bé anh hiểu được ý nghĩa của cái thiện và cái ác, và liệu khi còn nhỏ anh cũng có bản năng bạo lực tương tự như vậy không. Nhưng anh không biết câu trả lời. Và thế là anh bắt đầu đi kiếm tìm câu chuyện mà anh quan tâm nhất. Nhưng những văn bản đó vẫn chưa đề cập tới đứa bé muối lẫn tội ác mà nó phạm phải. Linh mục ân giải quan sát tủ hồ sơ và đống giấy tờ xung quanh thêm lần nữa. Cuộc tìm kiếm sẽ mất thời gian. Anh lia đèn pin ra khắp phòng, hy vọng thứ gì đó sẽ đập vào mắt. Anh dừng lại trước một cái ngăn kéo đóng hờ của một cái tủ gỗ. Anh lại gần, nó thứ gì đó ở bên trong. Anh đặt nó xuống sàn và cúi xuống để kiểm tra bên trong. Trên gáy mỗi cuộn băng đều có dán mác – Loạn tâm thần bạo lực, Rối loạn nhân cách chống đối xã hội, Chậm phát triển tâm thần trầm trọng hơn do bị hành hạ. Có ít nhất khoảng ba mươi cuộn. Marcus bắt đầu kiểm tra xem giữa những chứng bệnh đó liệu có cái nào trùng khớp với miêu tả của Nicola Gavi về đứa trẻ muối: rối loạn định dạng giới tính, hận thù ngấm ngầm, một khả năng đánh lừa đặc biệt, một chỉ số thông minh siêu đẳng. Anh tập trung vào công việc đến nỗi đánh rơi chiếc đèn pin xuống sàn. Nhưng khi vươn người ra để lấy nó, anh bỗng nhận thấy luồng sáng nhắm vào thứ gì đó trong góc. Có một cái đệm bị quẳng dưới đất, một đống giẻ lau và một cái ghế dựng sát tường, trên đó có những cây nến và một cái bếp gas du lịch. Anh nghĩ ngay tới chỗ ngủ tạm bợ của một người vô gia cư, nhưng rồi anh

nhận ra dưới chân ghế có một vật khác. Một đôi giày. Màu lam. Anh không kịp phản ứng vì thấy cái gì đó lướt qua sau lưng. Anh đưa đèn pin chiếu vào nó. Đó là một lão già. Tóc ông ta bạc trắng như ánh trăng và đôi mắt xanh da trời, sâu thẳm. Những nếp nhăn trên khuôn mặt làm ông ta trông giống một cái mặt nạ bằng sáp. Ông ta trừng trừng nhìn anh với một nụ cười lạ lùng trên môi. Marcus đứng dậy, thật chậm. Nhưng lão già cũng di chuyển. Ông ta giấu một tay sau lưng. Chính hắn là kẻ đã giết Cosmo Barditi, đâm Nicola Gavi và đánh vào gáy anh ở biệt thự trên phố Appia Antica. Và hắn có súng. Lão già cuối cùng cũng tiết lộ thứ mình đang giấu. Một cái bật lửa nhỏ bằng nhựa màu xanh da trời. Lão ta dùng nó làm dấu thánh ngược và chạy biến vào bóng tối. Marcus cầm đèn đuổi theo và chỉ thấy một cái bóng vụt ra khỏi phòng. Sau một giây chần chừ, anh bám theo lão, nhưng ngay khi tới chỗ hành lang, anh ngửi thấy trong không khí mùi dầu lửa của những chiếc nồi hơi cổ bỗng chốc trở nên nồng nặc hơn. Một đốm lửa bốc lên từ đâu đó trong cái mê cung đó. Anh có thể nhận ra quầng sáng của nó. Marcus do dự. Anh phải chạy ra khỏi đó ngay lập tức, nếu không anh sẽ bị kẹt lại và bị thiêu sống. Nhưng một phần trong anh biết rằng nếu ra đi mà không có lời giải đáp, sẽ không còn cách nào để ngăn chặn cái ác đang hoành hành ở Roma. Vì vậy, nhận thức được mối nguy trước mắt,

anh trở gót, quay lại kho lưu trữ. Anh lao xuống chỗ cái ngăn kéo nơi mình đang tìm kiếm, và bắt đầu lôi những cuộn băng ra, loại thật nhanh những cuốn không liên quan. Cho đến khi tìm được một cuốn thu hút sự chú ý của mình. Trên mác của nó có ghi Bệnh thái nhân cách bác học. Marcus nhét nó vào trong áo khoác và chạy ngay về phía lối ra. Những hành lang dưới lòng đất trống đều giống nhau và đang bị khói cay đặc quánh nhanh chóng lấp đầy. Marcus lấy cổ áo che miệng và mũi, cố nhớ lại đường đi lúc nãy nhưng khỉ thật, không dễ chút nào. Luồng sáng của đèn pin giờ đã bị che khuất bởi một bức tường đen kịt muội than. Anh bò trên mặt đất cho dễ thở hơn. Anh thấy hơi nóng dâng cao xung quanh mình và những ngọn lửa đang bám đuổi anh, vây hãm anh. Anh ngước mắt và nhận thấy khói bay về một hướng, như thể nó đã tìm được lối ra. Vậy là anh đứng dậy và đi theo nó. Anh hổn hển và thi thoảng phải dừng lại dựa vào tường để ho. Nhưng sau một thời gian tưởng chừng như vô tận, cuối cùng anh đã tìm lại cái cầu thang dẫn lên tầng trên. Anh bước lên bậc, trong đống lửa vây hãm xung quanh. Khi tới được tầng trệt, anh thấy khói đã sớm bủa vây cả nơi đây. Vì thế anh không thể chạy ra theo lối đã vào, anh có nguy cơ sẽ chết ngạt khi chỉ cách sự sống có ít bước. Lúc đó, anh mới nhận thấy một nghịch lý khó tin. Anh hiểu rằng nếu muốn sống sót, anh phải trèo lên cầu thang và đánh lừa khói, đi trước nó một bước.

Anh lại trở lại tầng một và với chút hơi thở còn lại, anh tới được chỗ căn phòng có những bức tường phủ kín cảnh tượng trong truyện cổ tích. Nhưng hơi nóng đã tới đó trước anh và đến mức không thể chịu nổi. Giấy dán tường với những bức vẽ đã bắt đầu bong tróc. Marcus thấy không còn nhiều thời gian, vậy là anh bắt đầu tung chân đá vào những ván gỗ chặn cửa sổ. Một, hai, ba, trong khi quầng sáng báo hiệu sự xuất hiện của ngọn lửa đã lan tới hành lang. Cuối cùng, tấm ván cũng bật tung và bay vào không trung. Marcus bám vào bậu cửa và toan bay theo nó trong bóng tối của cơn bão, thì dưới lớp giấy dán tường với những hình vẽ trong truyện cổ tích bỗng xuất hiện một hình ảnh. Nó oai vệ và lừng lững như một cái bóng đầy hăm dọa. Một con người nhưng không phải con người. Nó có đôi mắt trống rỗng và cái đầu của một con sói.

13 Cơn mưa đã xối xả trút xuống Roma cả đêm qua, sáng nay chỉ còn là ký ức mơ hồ. Ánh mặt trời nhàn nhạt chiếu vào Vương cung thánh đường Thánh Paolo bên ngoài tường thành – nhà thờ lớn thứ hai chỉ sau Vương cung thánh đường Thánh Pietro. Nơi đây có hầm mộ của Thánh Paolo Tông đồ – theo truyền thuyết, là người đã tử vì đạo và bị chém đầu cách đó ít mét. Nhà thờ nằm ở mạn trái của con sông Tevere và bên ngoài bức tường thành Aureliane, vì vậy nó mang cái tên ấy. Nhà thờ thường là nơi cử hành những nghi lễ trang trọng như tang lễ cấp nhà nước. Vào lúc này, ở đây đang diễn ra lễ tang của Pia Rimonti và Stefano Carboni, hai cảnh sát đã bị con quái vật Roma sát hại một cách dã man hai đêm trước. Nhà thờ đông nghẹt người đến nỗi không thể vào thêm. Có nhiều nhà chức trách và những vị quan chức cấp cao trong ngành cảnh sát. Nhưng cũng có cả những người dân đến để tiễn đưa hai nạn nhân của một tội ác kinh hoàng. Phía dưới hàng cột mái vòm bao quanh bốn mặt bên ngoài nhà thờ, phóng viên truyền hình đang túc trực để đưa tin về sự kiện trên các bản tin

thời sự của quốc gia. Trước lối vào, một đội cảnh sát danh dự mặc quân phục đã sẵn sàng gửi lời chào tiễn biệt cuối cùng cho linh cữu. Sandra ở bên ngoài cùng rất nhiều đồng nghiệp, quan sát mọi thứ với tâm trạng cam chịu và chắc chắn rằng tên sát nhân đang thỏa mãn với màn trình diễn được dàn dựng nhờ công lao của hắn. Cô mặc thường phục và mang theo mình một chiếc máy ảnh kỹ thuật số cỡ nhỏ để chụp hình những người hiện diện. Đồng nghiệp của cô trong đội chụp ảnh hiện trường trà trộn trong đám đông bên trong và bên ngoài nhà thờ cũng đang làm nhiệm vụ tương tự. Họ tìm kiếm một gương mặt hoặc một thái độ khả nghi. Họ hy vọng là tên quái vật quyết định tham gia buổi lễ để tận hưởng men say khi vẫn còn tự do và chưa bị trừng phạt. Hắn ta không ngu ngốc như thế, Sandra tự nhủ. Hắn không ở đây. Lần cuối cùng cô tham dự lễ tang là khi chồng cô qua đời. Nhưng ký ức gắn chặt với cái ngày xa xưa đó không liên quan gì đến nỗi đau mất mát. Khi tham dự tang lễ của David, cô không tài nào xóa khỏi đầu suy nghĩ rằng mình chính thức trở thành một góa phụ. Một từ không phù hợp với cô, đặc biệt với độ tuổi trẻ trung của cô. Từ đó làm cô đau lòng. Chưa ai dùng nó trước mặt cô, nhưng cô không thể ngăn người khác nhìn mình theo cách đó. Cho đến khi chưa tìm ra lời giải cho bí ẩn về cái chết của người cô yêu, cô không thể tự giải thoát khỏi tên gọi đó. Cũng như thoát khỏi sự hiện diện nhức nhối của anh. Chẳng ai dám thừa nhận điều đó, nhưng sự ra đi của những người ta yêu thương đôi khi đeo bám chúng ta như một món nợ không thể trả. Vì vậy cô vẫn còn nhớ cảm giác tự do khi David của cô đã để cô thanh thản.

Tuy nhiên vẫn cần thời gian để chấp nhận một người đàn ông khác bước vào cuộc sống của mình. Một tình yêu hoàn toàn khác và một cách yêu hoàn toàn khác. Một chiếc bàn chải đánh răng mới trong phòng tắm, một mùi mới trên chiếc gối cạnh gối của cô. Nhưng giờ cô không còn chắc chắn về Max và cô không biết nói điều đó với anh như thế nào. Càng cố tự thuyết phục mình rằng anh là người đàn ông phù hợp và nhắc nhở bản thân rằng anh mới hoàn hảo làm sao, cô càng thấy cần phải chấm dứt mọi thứ. Những suy nghĩ đó trở nên quyết liệt hơn chính vào lúc này, trong đám tang của cô đồng nghiệp Pia Rimonti. Điều gì sẽ xảy ra nếu cô ở vị trí của cô ấy trong chiếc xe được dùng làm mồi nhử để tóm con quái vật? Cô sẽ nhìn thấy hình ảnh gì và tiếc nuối gì trong những khoảnh khắc cuối cùng của sự sống? Sandra sợ phải tự trả lời. Nhưng có lẽ chính nhờ những suy nghĩ rắc rối đó, khi đưa máy ảnh lên để chụp một nhóm người, cô nhận ra trong khuôn hình có cả Ivan – người yêu của Pia – đang rời khỏi nhà thờ vội vàng một cách bất thường trước khi tang lễ kết thúc. Sandra dõi mắt theo anh ta và nhìn thấy anh ta băng qua những hàng cột, đi vào một con đường nhỏ kế bên và lại gần một chiếc xe đang đậu ở đó. Dù ở khoảng cách ấy, anh ta cũng không giấu được vẻ tuyệt vọng. Ai biết được có khi không chịu nổi nỗi đau nên anh ta đã bỏ đi. Nhưng trước khi tới chỗ chiếc xe, anh ta có một cử chỉ làm Sandra chú ý. Anh ta giận dữ rút điện thoại di động ra khỏi áo khoác và ném nó vào một thùng rác. Sandra nhớ tới lời nói của linh mục ân giải về những điều bất thường.

Và đó chắc chắn là một hành động không bình thường. Lưỡng lự trong giây lát, rồi cô quyết định đi tới nói chuyện với Ivan. Trước khi thảm kịch đó diễn ra, cô thấy anh ta đúng một lần khi đang đợi Pia kết thúc ca làm việc. Nhưng trong hai ngày cuối cùng, anh ta thường tới văn phòng của sở cảnh sát. Anh ta có vẻ không chịu chấp nhận việc đã xảy ra, anh ta cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm phần nào vì đã không bảo vệ được người phụ nữ của mình. “Chào anh. Anh là Ivan, phải không?” Sandra mở lời. Người đàn ông quay sang nhìn cô. “Vâng, tôi đây.” “Tôi là Sandra Vega, một đồng nghiệp của Pia.” Cô thấy có nghĩa vụ phải nói với Ivan vì sao mình lại tới gặp anh ta. “Tôi biết không dễ dàng gì. Chính tôi cũng trải qua cảm giác này vài năm trước khi chồng tôi ra đi.” “Tôi lấy làm tiếc,” đó là những lời nói duy nhất của anh ta, vì có lẽ anh ta không biết phải nói gì khác. “Tôi đã thấy anh vội vã rời nhà thờ.” Sandra nhận ra, trước câu nói đó Ivan bất giác nhìn chiếc thùng rác mà khi nãy anh ta vừa quẳng điện thoại vào. “À, vâng… Tôi thực sự không chịu đựng nổi.” Sandra đã nhầm, trong giọng nói của anh ta không có sự đau đớn hay giận dữ. Anh ta chỉ đơn thuần đang vội vã. “Chúng ta sẽ tóm được hắn,” cô nói. “Hắn sẽ bị trừng phạt. Cuối cùng, chúng ta luôn tóm được chúng.” “Tôi biết sẽ là như vậy.” Ivan nói nhưng không hề có vẻ thuyết phục, như thể anh ta thực sự chẳng thèm bận tâm.

Giọng điệu và thái độ trái ngược với những gì cô nghĩ về anh ta cho đến thời điểm đó: một anh người yêu muốn tìm được công lý bằng mọi giá. Thế mà giờ đây Sandra có cảm giác rằng anh ta muốn che giấu điều gì đó. Cũng bởi lẽ anh ta không ngừng liếc mắt tới chỗ thùng rác. “Tôi có thể hỏi anh tại sao anh lại rời khỏi đám tang không?” “Tôi đã trả lời cô rồi.” “Lý do thực sự cơ.” Cô khăng khăng. “Đó không phải việc của cô.” Anh ta giận dữ đáp lại. Sandra đứng đó chăm chú và yên lặng nhìn Ivan trong vài giây mà cô chắc anh ta sẽ cảm thấy như vô tận. “Thôi được, xin lỗi anh,” cô nói trước khi rời đi. “Tôi lấy làm tiếc về những gì anh đang trải qua.” “Khoan đã…” Sandra dừng bước và ngoái lại. “Cô biết Pia rõ chứ?” anh ta hỏi bằng một giọng điệu hoàn toàn khác, u sầu hơn. “Không rõ như tôi muốn.” “Gần đây có một quán bar.” Người đàn ông ngó xuống giày, rồi nói tiếp: “Cô không phiền nếu chúng ta nói chuyện một chút chứ?” Thoạt tiên, Sandra không biết trả lời thế nào. “Tôi không định tán tỉnh cô đâu.” Anh ta nói, giơ hai tay lên để xin lỗi. “Nhưng tôi cần nói điều này với ai đó…” Sandra quan sát kỹ anh ta. Dù Ivan đang mang gánh nặng gì đi chăng nữa, cũng nên có ai đó giúp anh ta giải phóng nó. Có lẽ với một người xa

lạ sẽ dễ dàng hơn. “Tôi phải làm xong nhiệm vụ của mình. Nhưng anh cứ tới đó trước, tôi sẽ tới sau.” Phải mất một tiếng nữa Sandra mới rảnh. Trong suốt quãng thời gian đó cô tự hỏi gánh nặng của Ivan là gì và liệu nó có tồi tệ hơn của cô mà cô không đủ can đảm để thổ lộ với Max. Rồi, như đã hứa, cô tới quán bar để gặp anh ta. Cô thấy anh ta ngồi bên một chiếc bàn nhỏ, anh ta đã gọi một ly rượu nặng. Ngay khi nhìn thấy cô anh ta có vẻ như bừng tỉnh trở lại, ánh mắt chất chứa một sự mong mỏi lạ lùng. Sandra ngồi xuống đối diện anh ta. “Thế nào, có chuyện gì vậy?” Ivan đảo mắt như thể tìm lời. “Tôi là một tên khốn nạn. Cực kỳ khốn nạn. Nhưng tôi yêu cô ấy.” Cô tự hỏi tại sao anh ta lại bắt đầu câu chuyện theo cách đó, nhưng cô để anh ta tiếp tục mà không ngắt lời. “Pia là một cô gái tốt, cô ấy chưa bao giờ làm tôi tổn thương. Cô ấy thường nói rằng mối quan hệ của chúng tôi quan trọng hơn bất cứ thứ gì. Cô ấy chỉ chờ giây phút tôi cầu hôn cô ấy. Nhưng tôi đã phá hỏng tất cả…” Sandra nhận ra rằng Ivan không thể nhìn thẳng vào mắt cô. Cô đặt tay mình lên tay anh ta. “Nếu anh không yêu cô ấy nữa, đó không phải là lỗi của anh.” “Nhưng tôi yêu cô ấy,” anh ta quả quyết. “Nhưng vào cái đêm cô ấy chết, tôi đã phản bội cô ấy.” Sandra sốc trước phát hiện đó. Từ từ cô rụt tay lại.

“Tôi đã có quan hệ với một phụ nữ khác, chuyện cũng được một thời gian. Và không phải là lần đầu tiên.” “Tôi nghĩ mình không nên nghe câu chuyện này.” “Trái lại, cô nên nghe nó.” Có vẻ như anh ta đang cầu xin cô. “Đêm hôm đó tôi biết là Pia phải làm nhiệm vụ và không thể gọi cho tôi nên tôi đã tranh thủ cơ hội để gặp người phụ nữ đó.” “Thật sao, đủ rồi đấy.” Cô chẳng mảy may muốn nghe

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 34

Đang tải bình luận...