Sứ mệnh Hail Mary

CHƯƠNG 5

CHƯƠNG 5

Tôi trừng mắt nhìn Thực tinh thể. “Thế quái nào mà mày lại đi tới Sao Kim?”

Hình ảnh dưới kính hiển vi được hiển thị trên màn hình lớn gắn trên tường. Ở độ phóng đại này, mỗi trong số ba tế bào bé nhỏ này có kích thước khoảng 2,5 centimét. Tôi quan sát để tìm bất cứ manh mối nào về động cơ của chúng nhưng Larry, Curly và Moe✻ không cho bất cứ thông tin nào.

Tất nhiên là tôi đã đặt tên cho chúng. Đó là một thói quen của giáo viên.

“Sao Kim có gì đặc biệt vậy? Và làm thế nào để chúng mày có thể tìm thấy nó?” Tôi khoanh tay. Nếu Thực tinh thể hiểu được ngôn ngữ cơ thể, chúng sẽ biết tôi không đùa. “Cần có một căn phòng đầy những người cực kì thông minh tại NASA để tìm ra cách đến được Sao Kim. Và chúng mày làm điều đó khi là một loại sinh vật đơn bào không có não.”

Đã hai ngày trôi qua kể từ khi Stratt để tôi lại một mình trong phòng thí nghiệm. Những binh sĩ vẫn ở cửa. Một người tên là Steve. Anh chàng thân thiện. Người kia thì không bao giờ nói chuyện với tôi.

Tôi vuốt tay qua mái tóc bết của mình (tôi đã quên không tắm vào sáng hôm đó). Ít nhất thì tôi đã không phải mặc bộ đồ bảo hộ nữa. Các nhà khoa học ở Nairobi đã có cơ hội với một trong những Thực tinh thể của họ và cho nó tiếp xúc với bầu khí quyển Trái Đất để xem điều gì đã xảy ra. Nó không bị ảnh hưởng. Vì vậy, nhờ họ mà các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới có thể thở phào nhẹ nhõm và thôi làm việc trong những căn phòng đầy khí argon.

Tôi liếc nhìn đống giấy tờ trên bàn. Cộng đồng khoa học đã tăng tốc theo một cách rất phi khoa học. Đã qua rồi cái thời của việc đánh giá ngang hàng cẩn thận và công bố các bài báo. Nghiên cứu về Thực tinh thể trở thành một cuộc cạnh tranh, nơi các nhà nghiên cứu đăng tải kết quả nghiên cứu của họ ngay lập tức và không cần bằng chứng. Điều này đã dẫn đến hiểu lầm và sai sót nhưng chúng ta chỉ đơn giản là không có thời gian để làm mọi thứ một cách đúng đắn.

Stratt đã giúp tôi theo dõi hầu hết mọi thứ. Nhưng chắc chắn là không phải tất cả. Ai mà biết những việc kỳ lạ khác mà cô ấy đang làm chứ. Có vẻ như cô ấy có quyền lực ở khắp mọi nơi.

Một nhóm nghiên cứu của Bỉ đã có thể chứng minh rằng Thực tinh thể phản ứng với từ trường nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi. Những lúc khác, nó dường như hoàn toàn bỏ qua từ trường, bất kể mạnh như thế nào. Tuy nhiên, người Bỉ vẫn có thể (rất không nhất quán) điều khiển Thực tinh thể xung quanh bằng cách đặt nó vào từ trường và thay đổi hướng của từ trường đó. Điều đó có hữu ích không? Chẳng biết nữa. Tại thời điểm này, thế giới chỉ đang thu thập dữ liệu.

Một nhà nghiên cứu ở Paraguay đã chỉ ra rằng kiến sẽ bị mất phương hướng khi nằm trong vài centimét quanh Thực tinh thể. Thông tin đó có hữu ích không? Được rồi, có lẽ cái đó không hữu ích. Nhưng thú vị đấy.

Đáng chú ý nhất, một nhóm ở Perth đã hy sinh một trong những Thực tinh thể của họ và phân tích chi tiết tất cả các bào quan bên trong. Họ đã tìm thấy DNA và ty thể. Trong bất kì tình huống nào khác, đây sẽ là khám phá quan trọng nhất của thế kỷ. Sự sống ngoài hành tinh -không thể chối cãi - có DNA và ty thể!

Và… càu nhàu… một đống nước…

Điểm mấu chốt là: Bên trong của một Thực tinh thể không khác nhiều so với bên trong của bất kì sinh vật đơn bào nào được tìm thấy trên Trái Đất. Nó sử dụng ATP, phiên mã ARN, và hàng loạt những thứ cực kì quen thuộc khác. Một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng nó có nguồn gốc từ Trái Đất. Những người khác cho rằng tập hợp các phân tử cụ thể này là cách duy nhất để sự sống xảy ra và Thực tinh thể đã phát triển nó một cách độc lập. Và một nhóm nhỏ hơn, có tiếng nói gợi ý rằng sự sống có thể không hề tiến hóa trên Trái Đất, và loài Thực tinh thể và sự sống trên Trái Đất có một tổ tiên chung.

“Chúng mày biết đấy,” tôi nói với Thực tinh thể, “nếu chúng mày không đe dọa tất cả sự sống trên hành tinh của tao, thì chúng mày sẽ rất tuyệt vời. Chúng mày mang tầng tầng lớp lớp những bí ẩn.”

Tôi dựa vào một cái bàn. “Chúng mày có ty thể. Được rồi, điều đó có nghĩa là chúng mày sử dụng ATP làm nơi lưu trữ năng lượng của mình, giống như chúng tao. Nhưng ánh sáng chúng mày sử dụng để di chuyển cần nhiều năng lượng hơn lượng ATP chúng mày có thể chứa. Vì thế, chúng mày còn có con đường lưu trữ năng lượng khác. Một điều mà chúng tao không hiểu.”

Một trong những con Thực tinh thể trên màn hình hơi lao sang trái. Một hiện tượng khá phổ biến. Đôi khi, chúng lắc lư mà không vì lý do thực sự nào cả.

“Điều gì khiến mày di chuyển? Tại sao lại di chuyển? Và làm thế nào mà chuyển động ngẫu nhiên này giúp chúng mày từ Mặt Trời đến được Sao Kim? Và tại sao chúng mày lại đi đến Sao Kim chứ?!”

Rất nhiều người đang nghiên cứu về các bộ phận bên trong của Thực tinh thể. Cố gắng tìm ra điều gì đã làm cho nó hoạt động. Phân tích DNA của nó. Tốt cho họ thôi. Tôi muốn biết vòng đời cơ bản. Đó là mục tiêu của tôi.

Các sinh vật đơn bào không chỉ tích trữ năng lượng khổng lồ và bay xuyên không gian mà không có lý do. Phải có một thứ ở Sao Kim mà Thực tinh thể cần nếu không nó sẽ chỉ tồn tại trên Mặt Trời thôi. Và nó cũng cần thứ gì đó từ Mặt Trời, nếu không nó sẽ ở trên Sao Kim.

Phần Mặt Trời khá dễ hiểu: Nó ở đó vì cần năng lượng. Cùng lý do mà cây cối mọc ra lá. Phải có năng lượng dồi dào nếu muốn trở thành một dạng sống. Hoàn toàn hợp lý. Vậy còn Sao Kim thì sao?

Tôi cầm một cây bút lên và loay hoay với nó khi nghĩ ngợi.

“Theo Tổ chức Nghiên cứu Không gian Ấn Độ, chúng mày sẽ đi tới tốc độ lên đến 0,92 lần tốc độ ánh sáng.” Tôi chỉ về phía chúng. “Chúng mày không biết là chúng tao có thể làm được điều đó, đúng không? Tìm ra tốc độ của chúng mày? Họ sử dụng phân tích dịch chuyển Doppler của ánh sáng chúng mày phát ra để tính toán. Và vì thế, họ cũng biết chúng mày đang đi theo cả hai hướng: đến và từ Sao Kim.”

Tôi cau mày. “Nhưng nếu chúng mày va phải một bầu khí quyển với tốc độ đó, chúng mày sẽ chết. Vậy tại sao chúng mày lại không chết chứ?”

Tôi búng nhẹ vào trán bằng ngón tay cái. “Vì chúng mày có thể chịu được bất kì lượng nhiệt nào. Đúng thế. Vậy nên chúng mày va vào bầu khí quyển nhưng không trở nên nóng hơn. Ok! nhưng chúng mày ít nhất sẽ phải giảm tốc độ một chút. Vì thế, chúng mày chỉ ở trong tầng cao bầu khí quyển của Sao Kim. Sau đó, chúng mày… gì nhỉ? Quay lại và trở về Mặt Trời? Tại sao chứ?”

Tôi nhìn chằm chằm vào màn hình suốt 10 phút đồng hồ, chìm đắm trong suy tư.

“Được rồi, đủ rồi. Tao muốn biết cách chúng mày tìm ra Sao Kim.”

Tôi đã đến cửa hàng kim khí tại địa phương và mua một loạt ván ép cạnh 5x10 centimét, dày 2 centimét, dụng cụ điện và những thứ khác mà tôi cần. Binh sĩ Steve giúp tôi mang nhiều thứ vào. Binh sĩ khó chịu kia không làm gì cả.

Trong sáu giờ tiếp theo, tôi xây dựng một căn buồng chắn sáng với một cái giá bên trong. Nó vừa đủ lớn để tôi có thể chui ra chui vào. Tôi đặt kính hiển vi ở trên giá. “Cánh cửa” là một tấm ván ép mà tôi có thể tháo bằng đinh vít.

Tôi chạy đường dây điện và dây video vào căn buồng qua một lỗ nhỏ mà tôi đã bít kín bằng bột trét để đảm bảo rằng không có ánh sáng nào có thể lọt qua đó. Tôi đặt máy ảnh hồng ngoại của mình lên kính hiển vi và niêm phong căn buồng.

Trong phòng thí nghiệm, màn hình hiển thị ánh sáng hồng ngoại mà camera nhìn thấy. Về cơ bản đó là một sự chuyển đổi tần số. Các dải hồng ngoại rất thấp sẽ hiển thị thành màu đỏ. Các dải năng lượng cao hơn sẽ có màu cam, vàng,… trên cầu vồng. Tôi có thể nhìn thấy các tế bào Thực tinh thể như những đốm màu đỏ nhỏ, như mong đợi. Ở nhiệt độ không đổi của chúng là 96,415 độC, chúng sẽ tự phát ra bước sóng hồng ngoại khoảng 7,8 micrômét - giới hạn thấp nhất mà tôi cài đặt máy ảnh tìm kiếm. Điều này xác nhận tốt rằng thiết lập đang hoạt động.

Nhưng tôi không quan tâm đến màu đỏ sẫm đó. Tôi muốn nhìn thấy một tia sáng màu vàng rực rỡ. Đó sẽ là tần số Petrova mà Thực tinh thể phóng ra để di chuyển. Nếu bất kì Thực tinh thể nào của tôi di chuyển dù là nhỏ nhất, tôi sẽ thấy một tia sáng màu vàng rất rõ ràng.

Nhưng điều đó không xảy ra. Không có chuyện gì xảy ra cả. Hoàn toàn không có gì. Thường thì, tôi sẽ thấy ít nhất một trong số chúng có động tác giật mỗi vài giây. Nhưng bây giờ thì không có gì cả.

“Vậy”, tôi nói. “Các bạn nhỏ đã ổn định rồi, phải không?”

Ánh sáng. Dù hệ thống định vị của chúng là gì đi nữa, nó đều dựa trên ánh sáng. Tôi nghĩ chắc là thế rồi. Chúng mày có thể sử dụng cái gì khác trong không gian cơ chứ? Không có âm thanh. Không có mùi vị. Sẽ phải là ánh sáng, trọng lực hoặc điện từ. Và ánh sáng là thứ dễ phát hiện nhất trong ba thứ đó. Ít nhất là xét đến theo phương diện tiến hóa.

Đối với thử nghiệm tiếp theo của tôi, tôi đã gắn một đèn LED nhỏ màu trắng và một cái pin đồng hồ lại với nhau. Tất nhiên, lúc đầu tôi đã nối dây ngược lại và đèn LED không sáng. Đó gần như là một quy tắc trong điện tử: Bạn không bao giờ làm đúng với đi-ốt ngay từ lần đầu tiên. Dù sao, tôi đã nối lại nó một cách chính xác và đèn LED sáng lên. Tôi dán toàn bộ thiết bị đó vào bức tường bên trong của cái tủ. Tôi đảm bảo định vị nó sao cho Thực tinh thể trên phiến kính chứa mẫu vật có thể nhắm trực tiếp đến đó. Sau đó, tôi lại niêm phong mọi thứ.

Bây giờ, theo góc nhìn của Thực tinh thể, có rất nhiều khoảng không tăm tối và một đốm sáng trắng. Kiểu như dáng vẻ bề ngoài của Sao Kim nếu bạn ở ngoài không gian và nhìn thẳng từ Mặt Trời.

Chúng không nhúc nhích. Không có dấu hiệu chuyển động nào cả.

“Hừm,” tôi nói.

Công bằng mà nói thì cái này không có khả năng thành công. Nếu bạn đang ở Mặt Trời, nhìn ra xa khỏi nó để tìm khoảng sáng chói nhất mà bạn có thể nhìn thấy, thì có lẽ bạn đã ở trên Sao Thủy chứ không phải Sao Kim. Sao Thủy nhỏ hơn Sao Kim nhưng nó gần hơn rất nhiều nên bạn sẽ nhìn thấy nhiều ánh sáng hơn.

“Tại sao lại là Sao Kim?” Tôi trầm ngâm. Nhưng sau đó tôi nghĩ ra một câu hỏi hay hơn. “Làm thế nào mà chúng mày xác định được Sao Kim?”

Tại sao chúng lại di chuyển một cách ngẫu nhiên? Giả thuyết của tôi là: Rất tình cờ, cứ sau khoảng vài giây, một Thực tinh thể lại nghĩ rằng nó đã phát hiện ra Sao Kim. Vì vậy, nó đã đẩy theo hướng đó. Nhưng rồi khoảnh khắc trôi qua, nó ngừng đẩy tới.

Mấu chốt phải là tần số ánh sáng. Các cậu bé của tôi không hề ngọ nguậy trong bóng tối. Nhưng đó không chỉ là về cường độ ánh sáng tuyệt đối, hoặc chúng sẽ hướng đến đèn LED. Phải là một thứ gì đó liên quan đến tần số của ánh sáng.

Các hành tinh không chỉ phản chiếu ánh sáng. Chúng cũng phát ra nó nữa. Mọi thứ đều phát ra ánh sáng. Nhiệt độ của vật thể xác định bước sóng của ánh sáng phát ra. Các hành tinh cũng không ngoại lệ.

Vì vậy, có thể Thực tinh thể đã tìm kiếm dấu hiệu hồng ngoại của Sao Kim. Nó sẽ không sáng như Sao Thủy nhưng nó sẽ khác biệt - một “màu” khác.

Một tra cứu nhanh cho tôi biết rằng nhiệt độ trung bình của Sao Kim là 462 độC.

Tôi đã có cả một ngăn kéo đầy bóng đèn thay thế cho kính hiển vi và những dụng cụ thí nghiệm khác. Tôi chộp lấy một cái và nối nó với một bộ cấp nguồn thay đổi được. Bóng đèn sợi đốt hoạt động bằng cách làm cho dây tóc nóng đến mức phát ra ánh sáng nhìn thấy. Chuyện đó xảy ra vào khoảng 2. 500 độC. Tôi không cần bất cứ thứ gì quá mạnh. Tôi chỉ cần 462 độ nho nhỏ thôi. Tôi đã tăng và giảm nguồn điện đi qua bóng đèn, quan sát bằng camera hồng ngoại, cho đến khi tôi nhận được chính xác tần số ánh sáng mà tôi muốn.

Tôi chuyển toàn bộ thiết bị vào tủ đựng thử nghiệm của mình, quan sát các cậu bé của tôi trên màn hình và bật Sao Kim nhân tạo lên.

Không có gì cả. Hoàn toàn không có bất kì chuyển động nào từ những kẻ bé nhỏ này cả.

“Chúng mày muốn cái quái gì ở tao đây?” Tôi gặng hỏi.

Tôi rút kính bảo hộ của mình ra và ném chúng xuống đất. Tôi gõ ngón tay lên bàn. “Nếu tôi là một nhà thiên văn học, và ai đó chỉ cho tôi một đốm sáng, làm sao tôi biết được đó có phải là Sao Kim hay không?”

Tôi tự trả lời. “Tôi sẽ tìm dấu hiệu hồng ngoại đó! Nhưng đó không phải là những gì Thực tinh thể làm. Được rồi, ai đó chỉ cho tôi một đốm sáng và nói rằng tôi không được phép sử dụng hồng ngoại phát ra để tính nhiệt độ của cơ thể. Có cách nào khác để tôi có thể tìm ra đó có phải là Sao Kim không?”

Dựa vào quang phổ. Tìm kiếm khí carbon dioxide.

Tôi nhướng mày khi ý tưởng này đến với tôi.

Khi ánh sáng chiếu vào các phân tử khí, các electron✻ đều được hoạt hóa. Sau đó chúng bình tĩnh lại và tái phát ra năng lượng dưới dạng ánh sáng. Nhưng tần số của các photon mà chúng phát ra rất đặc trưng cho các phân tử có liên quan. Các nhà thiên văn học đã sử dụng điều này trong nhiều thập kỷ để biết những loại khí nào ở rất, rất xa ngoài kia. Đó là tất cả những gì về phương pháp quang phổ.

Bầu khí quyển của Sao Kim có áp suất gấp 90 lần của Trái Đất và gần như hoàn toàn là carbon dioxide. Dấu hiệu quang phổ của CO2 của nó sẽ cực kì mạnh mẽ. Sao Thủy hoàn toàn không có carbon dioxide, vì vậy đối thủ cạnh tranh gần nhất sẽ là Trái Đất. Nhưng chúng ta có một dấu hiệu CO2 rất nhỏ so với Sao Kim. Có lẽ Thực tinh thể đã sử dụng quang phổ phát xạ để tìm ra Sao Kim?

Kế hoạch mới!

Phòng thí nghiệm có nguồn cung cấp bộ lọc ánh sáng dường như vô hạn. Chọn một tần số và có một bộ lọc cho nó. Tôi đã tra cứu dấu hiệu quang phổ của carbon dioxide - bước sóng cực đại là 4,26 micrômét và 18,31 micrômét.

Tôi đã tìm thấy các bộ lọc thích hợp và xây dựng một hộp nhỏ cho chúng. Bên trong tôi đặt một bóng đèn nhỏ màu trắng. Bây giờ tôi đã có một chiếc hộp phát ra dấu hiệu quang phổ của carbon dioxide.

Tôi cất nó vào buồng thử nghiệm và ra ngoài xem màn hình. Larry, Curly và Moe vui đùa trên phiến kính, giống như chúng đã làm cả ngày.

Tôi gõ nhẹ vào hộp đèn và xem có phản ứng gì không.

Thực tinh thể đã rời đi. Chúng không chỉ thơ thẩn đi về phía ánh sáng. Chúng đã biến mất. Hoàn toàn biến mất.

“Ừm…”

Tất nhiên, tôi đã ghi lại đầu vào của camera. Tôi đã chạy lại để xem từng khung hình. Giữa hai khung hình, chúng chỉ đơn giản là biến mất.

“Ừm!”

Tin tốt là: Thực tinh thể bị thu hút bởi dấu hiệu quang phổ của carbon dioxide!

Tin xấu là: Ba Thực tinh thể không thể thay thế, kích thước 10 micrômét của tôi đã phóng đi đâu đó - có thể với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng - và tôi không biết chúng đã đi đâu.

“Chết tiệt.”

🚀🚀🚀

Nửa đêm. Bóng tối ở khắp mọi nơi. Ca gác được thay bằng hai binh sĩ lạ mặt. Tôi nhớ Steve.

Tôi đã dán giấy nhôm và băng keo lên mọi cửa sổ của phòng thí nghiệm. Tôi bịt kín các khe hở xung quanh lối vào và lối ra bằng băng keo cách điện. Tôi đã tắt mọi thiết bị có đầu đọc hoặc đèn LED dưới bất kì hình thức nào. Tôi cất đồng hồ vào ngăn kéo vì nó có lớp sơn dạ quang trên kim.

Tôi để mắt mình thích nghi với bóng tối hoàn toàn. Nếu tôi nhìn thấy bất kì hình dạng nào không phải do trí tưởng tượng của tôi, tôi sẽ tìm kiếm chỗ rò rỉ ánh sáng và dùng băng keo che lại. Cuối cùng, phòng thí nghiệm đạt được mức độ cực kì tối, đến mức tôi không thể nhìn thấy gì. Tôi mở hay nhắm mắt đều không ảnh hưởng gì.

Bước tiếp theo là kính hồng ngoại mới được sáng chế của tôi.

Phòng thí nghiệm có nhiều thứ nhưng kính hồng ngoại không nằm trong số đó. Tôi đã cân nhắc việc hỏi binh sĩ Steve xem anh ta có thể kiếm được cái nào không. Tôi có thể đã gọi cho Stratt và cô ấy sẽ nhờ đích thân Tổng thống Peru giao chúng hoặc đại loại thế. Nhưng thế này nhanh hơn.

Những “cái kính” này chỉ là màn hình đầu ra LCD của máy ảnh hồng ngoại của tôi với một loạt băng dính xung quanh chúng. Tôi ấn chúng vào mặt và dán thêm băng dính. Sau đó, ngày càng nhiều hơn và nhiều băng dính hơn nữa. Tôi chắc rằng tôi trông thật nực cười. Nhưng kệ nó đi.

Tôi bật máy ảnh lên và nhìn quanh phòng thí nghiệm. Rất nhiều tín hiệu nhiệt. Những bức tường vẫn còn ấm từ ánh sáng Mặt Trời từ sớm ngày hôm đó, mọi đồ điện đều phát sáng, và cơ thể tôi tỏa sáng như một cái đèn hiệu. Tôi điều chỉnh dải tần để tìm kiếm những thứ nóng hơn nhiều. Cụ thể là những thứ trên 90 độC.

Tôi chui vào cái buồng kính hiển vi tạm bợ của mình và nhìn vào hộp đèn mà tôi đã sử dụng cho quang phổ phát xạ của CO2.

Thực tinh thể chỉ có bề ngang 10 micrômét. Không có khả năng nào tôi nhìn thấy thứ gì đó quá nhỏ với máy ảnh (hoặc bằng mắt tôi, vì lý do đó). Nhưng những sinh vật ngoài hành tinh nhỏ bé của tôi rất nóng, và chúng vẫn nóng. Vì vậy, nếu chúng không di chuyển, chúng sẽ dành khoảng sáu giờ vừa qua để làm nóng môi trường xung quanh. Hy vọng là thế.

Kết quả như mong đợi. Tôi ngay lập tức nhìn thấy một vòng tròn ánh sáng trên một trong những bộ lọc ánh sáng bằng nhựa.

“Ôi, ơn trời,” tôi thở hổn hển.

Rất mờ nhạt nhưng nó đã ở đó. Vết đó có chiều ngang khoảng 3 milimét và trở nên mờ hơn và lạnh hơn so với trung tâm. Anh bạn nhỏ đó đã làm nóng tấm nhựa trong nhiều giờ. Tôi quét qua quét lại hai ô vuông bằng nhựa. Tôi nhanh chóng tìm thấy vết thứ hai.

Thử nghiệm của tôi hoạt động tốt hơn tôi mong đợi. Chúng nhìn thấy thứ mà chúng nghĩ là Sao Kim và lao thẳng tới đó. Khi chúng chạm vào bộ lọc ánh sáng, chúng không thể đi xa hơn nữa. Có lẽ chúng sẽ tiếp tục lao tới cho đến khi tôi tắt đèn.

Dù sao thì nếu tôi có thể xác nhận rằng cả ba Thực tinh thể đều có mặt thì tôi có thể đóng gói các bộ lọc, sau đó dành bao lâu tùy thích để tìm và thu hoạch các cậu bé đó từ chúng bằng kính hiển vi và pipet.

Và nó đây rồi. Thực tinh thể thứ ba.

“Tất cả bè lũ đều ở đây hết!” Tôi nói. Tôi thò tay vào túi lấy một chiếc túi đựng mẫu và sẵn sàng để kéo bộ lọc rất cẩn thận ra khỏi hộp đèn. Đó là khi tôi nhìn thấy Thực tinh thể thứ tư.

Chỉ… đang làm việc của nó thôi. Một tế bào thứ tư. Nó nằm ngay trên cùng một cụm như ba tế bào trước, trên các bộ lọc.

“Trời…”

Tôi đã nhìn chằm chằm vào bọn chúng trong một tuần. Không đời nào tôi lại bỏ sót một tế bào được. Chỉ có một lời giải thích duy nhất: Một trong các Thực tinh thể đã phân chia. Tôi đã tình cờ làm cho Thực tinh thể sinh sản.

Tôi nhìn chằm chằm vào đốm sáng thứ tư đó trong suốt một phút, cân nhắc tầm quan trọng của điều vừa xảy ra. Nhân giống Thực tinh thể nghĩa là chúng ta sẽ có nguồn cung không giới hạn cho việc nghiên cứu. Giết chúng, đâm chúng, tách chúng ra, làm bất cứ điều gì chúng ta muốn. Đây là thứ làm thay đổi cuộc chơi.

“Chào Shemp✻,” tôi nói.

🚀🚀🚀

Tôi đã dành hai ngày tiếp theo để nghiên cứu hành vi mới này một cách ám ảnh. Tôi thậm chí còn không về nhà - tôi chỉ ngủ trong phòng thí nghiệm thôi.

Anh chàng binh sĩ Steve mang bữa sáng cho tôi. Chàng trai tuyệt vời.

Lẽ ra tôi phải chia sẻ tất cả những phát hiện của mình với phần còn lại của cộng đồng khoa học nhưng tôi muốn chắc chắn. Có thể đánh giá ngang hàng không còn được thực hiện nữa nhưng ít nhất tôi có thể tự xem xét lại. Có còn hơn không.

Điều đầu tiên khiến tôi bận tâm là: Phổ phát xạ✻ của CO2 là ở bước sóng 4,26 và 18,31 micrômét. Nhưng Thực tinh thể chỉ có kích thước 10 micrômét, vì vậy nó không thể thực sự tương tác với ánh sáng có bước sóng lớn hơn được. Làm thế nào mà nó thậm chí có thể nhìn thấy dải 18,31 micrômét được?

Tôi lặp lại thí nghiệm quang phổ trước đó của mình chỉ với bộ lọc 18,31 micrômét và nhận được kết quả không mong đợi. Điều kỳ lạ đã xảy ra.

Đầu tiên, hai trong số các Thực tinh thể lao nhanh đến bộ lọc. Chúng đã nhìn thấy ánh sáng và đi đến ngay đó. Nhưng bằng cách nào? Không thể nào Thực tinh thể lại tương tác với một bước sóng lớn như vậy. Ý tôi là… thực sự là không thể!

Ánh sáng là một thứ buồn cười. Bước sóng của nó xác định những thứ nó có thể và không thể tương tác. Bất kì thứ gì nhỏ hơn bước sóng đó thực sự không tồn tại đối với photon đó. Đó là lý do tại sao có một tấm lưới trên cửa sổ của lò vi sóng. Các lỗ trên lưới quá nhỏ để vi sóng có thể đi qua. Nhưng ánh sáng nhìn thấy, với bước sóng ngắn hơn nhiều, có thể đi qua một cách thoải mái. Vì vậy, bạn có thể xem thức ăn của bạn được nấu mà không bị bỏng mặt.

Thực tinh thể nhỏ hơn 18,31 micrômét nhưng bằng cách nào đó vẫn hấp thụ ánh sáng ở tần số đó. Làm sao thế được?

Nhưng đó thậm chí không phải là điều kỳ lạ nhất đã xảy ra. Đúng thế, hai tế bào trong số chúng đã lao đến bộ lọc nhưng hai tế bào còn lại thì ở lại. Chúng dường như không quan tâm. Chúng chỉ dạo chơi trên phiến kính thôi. Có lẽ chúng không tương tác với bước sóng lớn hơn?

Vì vậy, tôi đã thực hiện một thử nghiệm nữa. Tôi chiếu ánh sáng 4,26 micrômét vào chúng một lần nữa. Và tôi cũng nhận được kết quả tương tự. Cùng hai tế bào đã đi đến màng lọc như trước, và hai tế bào còn lại không mảy may quan tâm.

Và đây rồi. Tôi không thể chắc chắn 100% nhưng tôi khá chắc rằng mình vừa khám phá ra toàn bộ vòng đời của Thực tinh thể. Nó thấp thoáng trong tâm trí tôi như những mảnh ghép cuối cùng cũng khớp vào nhau.

Hai tế bào còn lại không muốn đi đến Sao Kim nữa. Chúng muốn quay trở về Mặt Trời. Tại sao nhỉ? Bởi vì một trong số chúng vừa phân chia và tạo ra tế bào kia.

Thực tinh thể lơ lửng trên bề mặt Mặt Trời thu thập nhiệt lượng. Chúng dự trữ năng lượng bên trong theo cách nào đó mà không ai hiểu được. Sau đó, khi có đủ năng lượng rồi thì chúng di chuyển đến Sao Kim để sinh sản, sử dụng năng lượng dự trữ đó để bay qua không gian bằng cách sử dụng ánh sáng hồng ngoại làm chất đẩy. Rất nhiều loài di cư để sinh sản. Tại sao Thực tinh thể lại khác biệt chứ?

Người Úc đã phát hiện ra rằng bên trong Thực tinh thể không khác nhiều so với sự sống trên Trái Đất. Nó cần carbon và oxy để tạo ra các protein phức tạp cần thiết cho DNA, ty thể và tất cả những thứ thú vị khác được tìm thấy trong tế bào. Có rất nhiều hydro trên Mặt Trời. Nhưng các nguyên tố khác không có mặt. Vì vậy, Thực tinh thể di cư đến nguồn cung carbon dioxide gần nhất: Sao Kim.

Đầu tiên, nó đi theo các đường sức từ và đi thẳng ra khỏi Bắc Cực của Mặt Trời. Nó phải làm như thế, nếu không ánh sáng từ Mặt Trời sẽ quá rực rỡ để tìm thấy Sao Kim. Và đi thẳng lên từ vùng cực, có nghĩa là Thực tinh thể sẽ có góc nhìn đầy đủ về toàn bộ quỹ đạo của Sao Kim - không có phần nào của nó bị che khuất bởi Mặt Trời.

À, và đó là lý do tại sao Thực tinh thể lại phản ứng không nhất quán với các từ trường. Nó chỉ quan tâm đến chúng khi bắt đầu cuộc hành trình chứ không phải lúc nào khác.

Sau đó, nó tìm kiếm dấu hiệu quang phổ carbon dioxide khổng lồ của Sao Kim. Chà, không hẳn là “tìm kiếm”. Có lẽ là một thứ phản ứng kích thích đơn giản hơn được kích hoạt bởi dải ánh sáng 4,26 và 18,31 micrômét. Dù sao thì một khi nó “nhìn thấy” Sao Kim, nó sẽ đi thẳng đến nó. Con đường mà nó đi - thẳng ra khỏi cực của Mặt Trời, sau đó quay ngoắt về phía Sao Kim - đó là đường Petrova.

Thực tinh thể anh hùng của chúng ta đạt đến tầng khí quyển cao của Sao Kim, thu thập lượng CO2 mà nó cần và cuối cùng có thể sinh sản. Sau đó, cả tế bào mẹ và con cùng quay trở lại Mặt Trời và chu kỳ bắt đầu lại.

Thực sự rất là đơn giản. Nhận năng lượng, thu thập tài nguyên và tạo bản sao. Đó là điều tương tự mà tất cả sự sống trên Trái Đất đều làm.

Và đó là lý do tại sao hai tên Bù nhìn nhỏ bé của tôi không đi về phía ánh sáng.

Vậy làm thế nào để Thực tinh thể tìm thấy Mặt Trời? Suy đoán của tôi là: Tìm thứ cực kì sáng và đi theo hướng đó thôi.

Tôi tách Moe và Shemp (những kẻ tìm kiếm Mặt Trời) khỏi Larry và Curly (những tên tìm kiếm Sao Kim). Tôi đặt Larry và Curly trên một phiến kính khác và đặt vào một hộp đựng mẫu kín ánh sáng. Sau đó, tôi thiết lập một thử nghiệm trong tủ tối cho Moe và Shemp. Lần này, tôi đặt một bóng đèn sợi đốt sáng vào đó và bật nó lên. Tôi mong đợi chúng sẽ lao thẳng về phía nó nhưng không thành công. Chúng không hề nhúc nhích. Có lẽ không đủ sáng.

Tôi đến một cửa hàng nhiếp ảnh ở trung tâm thành phố (San Francisco có rất nhiều người đam mê nhiếp ảnh) và mua một chiếc đèn flash lớn nhất, sáng nhất và mạnh nhất mà tôi có thể tìm thấy. Tôi đã thay thế bóng đèn bằng đèn flash và thực hiện lại thí nghiệm.

Moe và Shemp đã cắn câu!

Tôi phải ngồi xuống và hít một hơi. Đáng lẽ tôi phải chợp mắt - tôi đã không ngủ trong 36 giờ qua. Nhưng điều này quá thú vị. Tôi rút điện thoại di động và bấm số của Stratt. Cô ấy trả lời ngay giữa chừng tiếng chuông đầu tiên đang reo.

“Xin chào, Tiến sĩ Grace,” cô nói. “Tìm thấy gì không?”

“Ừ”, tôi nói. “Tôi đã tìm ra cách Thực tinh thể sinh sản và kiểm soát để biến điều đó thành hiện thực.”

Thoáng im lặng trong một giây. “Ông đã cho Thực tinh thể sinh sản thành công?”

“Đúng vậy.”

“Mà không bị phá hủy?” Cô ấy hỏi.

“Tôi đã có ba thế bào. Giờ thì tôi có bốn. Tất cả chúng đều còn sống và khỏe mạnh.”

Thoáng im lặng trong một giây nữa. “Hãy ở đó.”

Cô ấy cúp máy.

“Hừ,” tôi nói. Tôi cất điện thoại lại vào trong áo choàng thí nghiệm của mình. “Mình đoán là cô ấy đang trên đường đến.”

Binh sĩ Steve xông vào phòng thí nghiệm. “Tiến sĩ Grace?!”

“Cái… ừ, gì thế?”

“Vui lòng đi cùng tôi.”

“Được thôi”, tôi nói. “Hãy để tôi cất mẫu Thực tinh thể của mình đi đã —”

“Có các kỹ thuật viên khác trên đường tới đây để lo việc đó. Bây giờ ông phải đi với tôi ngay.

“Được… Được rồi.”

🚀🚀🚀

12 giờ tiếp theo thực sự… độc đáo.

Binh sĩ Steve chở tôi đến sân bóng của một trường trung học nơi một chiếc trực thăng của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã hạ cánh. Không nói lời nào, họ đẩy tôi vào trực thăng và chúng tôi bay lên trời. Tôi cố gắng không nhìn xuống.

Chiếc trực thăng đưa tôi đến Căn cứ Không quân Travis, cách thành phố khoảng 90 kilômét về phía bắc. Lính thủy đánh bộ có thường đổ bộ vào các căn cứ không quân không nhỉ? Tôi không biết nhiều về quân đội nhưng điều đó có vẻ kỳ quặc. Cũng có vẻ hơi cực đoan khi cử lính thủy đánh bộ chỉ để tiết kiệm giúp tôi một vài giờ lái xe trên đường nhưng không sao cả.

Có một chiếc xe jeep đợi tôi trên đường băng nơi chiếc trực thăng hạ cánh, với một anh chàng bên Không quân đứng bên cạnh. Anh ta tự giới thiệu, tôi thề là anh ta đã làm thế nhưng tôi không nhớ tên anh ta.

Anh ta chở tôi băng qua đường băng đến một chiếc máy bay phản lực đang chờ sẵn. Không, không phải máy bay phản lực chở khách. Và không phải Learjet hay bất cứ thứ gì tương tự. Đây là một chiến đấu cơ phản lực. Tôi không biết loại đó. Như tôi đã nói, tôi không biết những thứ bên quân đội.

Người hướng dẫn của tôi vội vàng đưa tôi lên một cái thang và ngồi vào chỗ ngồi phía sau phi công. Anh ta đưa tôi một viên thuốc và một cốc nước nhỏ. “Uống cái này đi.”

“Cái gì thế này?”

“Nó sẽ giúp ông không bị nôn mửa khắp buồng lái sạch đẹp của chúng ta.”

“Ok.”

Tôi nuốt viên thuốc.

“Và nó sẽ giúp ông ngủ.”

“Gì cơ?”

Anh ta đi khỏi, và đội trên mặt đất kéo thang đi. Phi công không nói với tôi lấy một lời. Mười phút sau, chúng tôi cất cánh cực kì nhanh. Tôi chưa từng cảm thấy sự tăng tốc như thế trong đời. Viên thuốc đã có tác dụng. Tôi chắc chắn sẽ nôn.

“Chúng ta đang đi đâu thế?” Tôi hỏi qua tai nghe.

“Tôi xin lỗi, thưa ngài. Tôi không được phép nói chuyện với ngài.”

“Vậy thì đây sẽ là một chuyến đi nhàn chán.”

“Chúng thường như vậy đấy”, anh ấy nói.

Tôi không biết chính xác mình đã ngủ lúc nào nhưng chỉ trong vòng vài phút sau khi cất cánh. 36 giờ điên cuồng làm khoa học cộng với bất cứ thứ gì có trong viên thuốc đó đã đưa tôi vào cõi mộng bất chấp tiếng động cơ phản lực cực kì ồn ào xung quanh.

Tôi giật mình thức dậy trong bóng tối. Chúng tôi đã hạ cánh.

“Chào mừng đến Hawaii, thưa ngài,” phi công nói.

“Hawaii? Tại sao tôi lại ở Hawaii?”

“Tôi không được cung cấp thông tin đó.”

Chiếc phản lực lao vào đường băng bên hông hoặc bất cứ thứ gì và một đội trên mặt đất mang theo một chiếc thang. Tôi chưa xuống được nửa thang thì nghe thấy “Tiến sĩ Grace? Mời đi lối này!”

Đó là một người đàn ông mặc quân phục Hải quân Hoa Kỳ.

“Tôi đang ở chỗ quái quỷ nào đây?!” Tôi gặng hỏi.

“Căn cứ Hải quân Trân Châu Cảng,” sĩ quan nói. “Nhưng không lâu đâu. Xin hãy theo tôi.”

“Chắc chắn rồi. Sao lại không chứ?”

Họ đưa tôi vào một chiếc máy bay phản lực khác với một phi công ít nói khác. Điểm khác biệt duy nhất là lần này nó là máy bay phản lực của Hải quân thay vì máy bay của Không quân.

Chúng tôi đã bay trong một thời gian dài. Tôi không còn biết thời gian nữa. Dù sao thì theo dõi cũng vô nghĩa mà thôi. Tôi không biết chúng tôi sẽ ở trên không trung bao lâu nữa. Cuối cùng, tôi không đùa đâu, chúng tôi đã hạ cánh trên một tàu sân bay thực sự.

Điều tiếp theo tôi biết là tôi đang đứng trên boong sàn bay với vẻ ngoài như một tên ngốc. Họ đưa cho tôi bịt tai và một áo khoác và dẫn tôi đến một bãi đáp trực thăng. Một chiếc trực thăng Hải quân đang đợi tôi.

“Liệu chuyến đi này… sẽ kết thúc chứ? Giống như… kết thúc hẳn ấy?!” Tôi hỏi.

Họ phớt lờ tôi và cố định tôi vào ghế. Chiếc trực thăng cất cánh ngay lập tức. Lần này, chuyến bay không dài như vậy. Chỉ khoảng một giờ thôi.

“Điều này sẽ rất thú vị đây,” phi công nói. Đó là điều duy nhất anh ta nói trong suốt chuyến bay.

Chúng tôi hạ xuống và thiết bị hạ cánh được triển khai. Bên dưới chúng tôi là một tàu sân bay khác. Tôi nheo mắt nhìn nó. Có gì đó khác lạ. Có phải nó… Ồ, đúng rồi. Nó có một lá cờ Trung Quốc tung bay trên đó.

“Đó có phải là tàu sân bay của Trung Quốc không?!” Tôi hỏi.

“Vâng, thưa ngài.”

“Chúng ta, một máy bay trực thăng của Hải quân Hoa Kỳ, sẽ hạ cánh trên tàu sân bay Trung Quốc đó sao?”

“Vâng, thưa ngài.”

Tôi hiểu.

Chúng tôi đáp xuống sân bay trực thăng trên tàu sân bay và một nhóm lính Hải quân Trung Quốc nhìn chúng tôi với ánh mắt tò mò. Phi công của tôi nhìn họ qua cửa sổ và họ cũng nhìn lại.

Ngay sau tôi bước ra, anh ta lại cất cánh. Bây giờ, tôi đã ở trong tay người Trung Quốc.

Một người lính Hải quân tiến tới và ra hiệu cho tôi đi theo anh ta. Tôi không nghĩ là có ai nói tiếng Anh nhưng tôi hiểu ý chung vậy. Anh ta dẫn tôi đến một cánh cửa trong cấu trúc tháp và chúng tôi bước vào bên trong. Chúng tôi đi qua các hành lang, cầu thang, và các phòng mà tôi thậm chí không hiểu mục đích của chúng. Suốt quãng đường, các thủy thủ Trung Quốc nhìn tôi với ánh mắt tò mò.

Cuối cùng, anh ta dừng lại ở một cánh cửa có chữ Trung Quốc trên đó. Anh ta mở cửa và chỉ vào trong. Tôi bước vào và anh ấy đóng sầm cửa lại sau lưng tôi. Phần việc hướng dẫn cho tôi đã xong.

Tôi nghĩ đó là phòng họp của sĩ quan. Ít nhất thì đó là giả định của tôi dựa trên chiếc bàn lớn với 15 người đang ngồi trên đó. Tất cả đều quay đầu nhìn tôi. Một số người da trắng, vài người da đen, một số người châu Á. Vài người mặc áo choàng thí nghiệm. Những người khác mặc vest.

Stratt, dĩ nhiên, ngồi ở đầu bàn. “Tiến sĩ Grace. Chuyến đi của ông thế nào?”

“Chuyến đi của tôi thế nào á?” Tôi nói. “Tôi đã bị kéo đi khắp thế giới mà không có bất kì thông báo nào—”

Cô ấy giơ tay. “Đó chỉ là xã giao thôi, Tiến sĩ Grace. Tôi thực sự không quan tâm chuyến đi của ông thế nào đâu.” Cô ấy đứng dậy và phát biểu với cả phòng. “Thưa quý vị, đây là Tiến sĩ Ryland Grace từ Hoa Kỳ. Anh ấy đã tìm ra cách làm cho Thực tinh thể sinh sản.”

Sự ngạc nhiên xuất hiện quanh bàn. Một người đàn ông đứng phắt dậy và nói với giọng Đức đặc sệt. “Bà nghiêm túc đấy chứ? Stratt, warum haben sie—?”

“Nur Englisch,✻ Stratt ngắt lời.

“Tại sao đến bây giờ chúng tôi mới nghe nói về điều này?” Người Đức chất vấn.

“Tôi muốn xác nhận nó trước. Trong khi Tiến sĩ Grace đang trên đường đi, tôi đã nhờ các kỹ thuật viên đóng gói phòng thí nghiệm của ông ấy. Họ đã thu thập bốn Thực tinh thể còn sống từ phòng thí nghiệm của anh ấy. Tôi chỉ để lại cho anh ấy ba tế bào.”

Một người đàn ông lớn tuổi mặc áo choàng thí nghiệm nói tiếng Nhật bằng một giọng điềm tĩnh, nhẹ nhàng. Bên cạnh ông ta, một người đàn ông Nhật Bản trẻ hơn trong bộ đồ màu than đang phiên dịch. “Tiến sĩ Matsuka kính cẩn yêu cầu mô tả chi tiết về quá trình này.”

Stratt bước sang một bên và ra hiệu về chiếc ghế của mình. “Tiến sĩ, hãy ngồi xuống và miêu tả cho chúng tôi.”

“Khoan đã,” tôi nói. “Những người này là ai? Tại sao tôi lại ở trên một tàu sân bay Trung Quốc? Và các ông bà đã từng nghe về Skype chưa?!”

“Đây là một tổ chức quốc tế gồm các nhà khoa học cấp cao và các người hoạt động chính trị mà tôi đã tập hợp để dẫn dắt Dự án Hail Mary.”

“Đó là gì?”

“Việc giải thích điều đó sẽ mất thời gian. Mọi người ở đây đều háo hức muốn nghe về những phát hiện về Thực tinh thể của ông. Hãy bắt đầu với điều đó.”

Tôi lê bước đến phía trước phòng và lúng túng ngồi vào đầu bàn. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía tôi.

Vậy là tôi kể cho họ nghe. Tôi đã kể cho họ nghe tất cả về các thí nghiệm trong tủ gỗ. Tôi giải thích tất cả các thử nghiệm của mình, những gì tôi đã làm cho mỗi thử nghiệm và cách tôi thực hiện chúng. Sau đó, tôi giải thích kết luận của mình: Tôi đã nói với họ giả thuyết của tôi về vòng đời của Thực tinh thể, cách thức hoạt động và lý do tại sao. Có một số câu hỏi từ các nhà khoa học và chính trị gia tại hội nghị nhưng hầu hết họ chỉ nghe và ghi chú. Nhiều người có phiên dịch viên thì thầm vào tai họ trong quá trình đó.

“Vậy là… thế đấy,” tôi nói. “Đó gần như là mọi thứ. Ý tôi là - nó chưa được thử nghiệm kĩ càng nhưng nó có vẻ khá đơn giản.”

Người Đức giơ tay. “Liệu có thể nhân giống Thực tinh thể trên quy mô lớn hay không?”

Mọi người đổ về phía trước một chút. Rõ ràng, đây là một câu hỏi khá quan trọng và ai cũng đang nghĩ về điều đó. Tôi bị choáng ngợp bởi sự căng thẳng đột ngột trong căn phòng.

Thậm chí Stratt cũng có vẻ thích thú một cách lạ thường. “Chà?” Cô ấy nói. “Vui lòng trả lời Bộ trưởng Voigt.”

“Chắc chắn rồi,” tôi nói. “Ý tôi là… tại sao lại không chứ?”

“Ông sẽ làm như thế nào?” Stratt hỏi.

“Tôi đoán mình sẽ làm một đường ống sứ lớn hình chữ L và bơm đầy khí carbon dioxide vào đó. Làm cho một đầu của nó nóng nhất có thể và có một nguồn sáng mạnh ở đó. Quấn một cuộn dây từ tính xung quanh nó để mô phỏng từ trường của Mặt Trời. Đặt một bộ phát ánh sáng hồng ngoại ở đầu kia của ống chữ L và để nó phát ra ánh sáng ở bước sóng 4,26 và 18,31 micrômét. Làm cho bên trong đường ống càng đen càng tốt. Cái đó chắc sẽ thành công.”

“Bằng cách nào mà cái đó ‘thành công’ được?” Cô ấy nói.

Tôi nhún vai. “Thực tinh thể sẽ thu nhận năng lượng ở phía ‘Mặt Trời’ và khi chúng sẵn sàng để sinh sản, chúng sẽ theo từ trường đó để đến chỗ gấp khúc của đường ống. Chúng sẽ nhìn thấy ánh sáng hồng ngoại ở đầu kia và hướng về phía đó. Nhìn thấy ánh sáng đó và tiếp xúc với khí carbon dioxide khiến chúng sinh sản. Sau đó, tế bào mẹ và tế bào con sẽ quay lại phía Mặt Trời. Đơn giản vậy thôi.”

Một người đàn ông có vẻ như một chính trị gia giơ tay và nói với một giọng điệu châu Phi nào đó. “Có bao nhiêu Thực tinh thể có thể được tạo ra theo cách này? Tốc độ diễn ra của quá trình này như thế nào?”

“Nó sẽ có thời gian nhân đôi,” tôi nói. “Giống như tảo hay vi khuẩn. Tôi không biết khoảng thời gian là bao lâu nhưng xét đến việc Mặt Trời đang dần mờ đi, thì nó phải khá nhanh.”

Một người phụ nữ mặc áo choàng thí nghiệm đang nghe điện thoại. Cô đặt nó xuống, sau đó nói với giọng Trung Quốc đặc sệt. “Các nhà khoa học của chúng tôi đã tái tạo kết quả của ông.”

Bộ trưởng Voigt quắc mắt nhìn cô ấy. “Làm sao bà biết quy trình của anh ấy?” Anh ấy mới chỉ nói với chúng ta!”

“Gián điệp, có lẽ thế,” Stratt nói.

Gã người Đức thở dài. “Làm sao bà dám vượt qua chúng tôi với—”

“Suỵt,” Stratt nói. “Chúng ta đã vượt qua tất cả những chuyện đó rồi. Bà Tập, bà có bất kì thông tin nào thêm để chia sẻ không?”

“Có,” cô ta nói. “Chúng tôi ước tính thời gian nhân đôi là hơn tám ngày, trong điều kiện tối ưu.”

“Điều đó nghĩa là gì?” Nhà ngoại giao châu Phi nói. “Chúng ta có thể sản xuất được bao nhiêu?”

“Ồ.” Tôi mở ứng dụng máy tính trên điện thoại của mình và bấm một vài nút. “Nếu bắt đầu với 150 Thực tinh thể mà chúng ta có, và nuôi cấy chúng trong một năm, vào cuối năm sẽ có… khoảng 173. 000 kilôgam Thực tinh thể.”

“Và liệu Thực tinh thể này có ở mật độ năng lượng tối đa không? Tất cả sẽ sẵn sàng để tái sản xuất chứ?”

“Vậy ông muốn… tôi đoán ông sẽ gọi nó là Thực tinh thể ‘được làm giàu’?”

“Đúng thế,” ông ta nói. “Chính xác là như vậy. chúng tôi muốn Thực tinh thể lưu giữ nhiều năng lượng nhất có thể.”

“Ồ… tôi đoán chuyện đó có thể thu xếp được,” tôi nói. “Đầu tiên, nuôi cấy lượng Thực tinh thể mà chúng ta muốn, sau đó cho chúng tiếp xúc với nhiều nhiệt lượng nhưng không để chúng nhìn thấy bất kì vạch phổ carbon dioxide nào. Chúng sẽ thu nhận năng lượng và chỉ ngồi đó chờ đợi cho đến khi chúng có thể thấy nơi nào để lấy CO2.”

“Nếu chúng ta cần hai triệu kilôgam Thực tinh thể được làm giàu thì sao?” nhà ngoại giao hỏi.

“Nó nhân đôi mỗi tám ngày”, tôi nói. “Hai triệu kilô sẽ là thêm khoảng bốn lần nhân đôi. Vậy là thêm một tháng nữa.”

Một người phụ nữ nghiêng mình về phía trước bàn, các ngón tay của cô ấy xếp lên nhau. “Chúng ta có thể có một cơ hội.” Cô ấy có giọng Mỹ.

“Một cơ hội rất nhỏ,” Voigt nói.

“Có hy vọng”, người phiên dịch tiếng Nhật nói - có lẽ đang nói thay cho Tiến sĩ Matsuka.

“Chúng ta cần thảo luận với nhau,” Stratt nói. “Hãy nghỉ ngơi đi. Người thủy thủ ngoài kia sẽ chỉ cho ông một cái giường.”

“Nhưng tôi muốn biết về dự án Hail Mary!”

“Ồ, ông sẽ biết thôi. Tin tôi đi.”

🚀🚀🚀

Tôi đã ngủ trong 14 tiếng đồng hồ.

Tàu sân bay rất tuyệt theo nhiều cách nhưng chúng không phải là khách sạn năm sao. Người Trung Quốc đã cho tôi một chiếc giường sạch sẽ, thoải mái trong phòng ngủ của sĩ quan. Tôi không có gì phải phàn nàn. Tôi thậm chí có thể ngủ trên boong sàn máy bay vì quá mệt mỏi.

Khi thức dậy, tôi cảm thấy có cái gì đó kỳ lạ ở trên trán. Tôi với tay lên và đó là một tờ ghi chú Post-it. Ai đó đã đặt một ghi chú Post-it lên đầu tôi khi tôi ngủ. Tôi kéo nó ra và đọc:

Quần áo sạch và đồ dùng vệ sinh trong túi đựng dưới giường của ông. Đưa tờ ghi chú này cho bất kì thủy thủ nào khi ông đã vệ sinh xong: 请带我去甲7的官员会议室

- Stratt

“Cô ấy thật phiền toái…” tôi lẩm bẩm.

Tôi lảo đảo ra khỏi giường của mình. Một vài sĩ quan liếc nhìn khi tôi đi qua nhưng số khác thì phớt lờ tôi. Tôi tìm thấy túi đựng và, như đã hứa, có quần áo và đồ vệ sinh răng và xà phòng. Tôi liếc quanh phòng ngủ và nhìn thấy qua một ô cửa dẫn vào phòng thay đồ.

Tôi đã sử dụng phòng vệ sinh (hoặc tôi đoán là ‘nhà xí’, bởi vì tôi đang trên một con tàu). Sau đó, tôi tắm cùng với ba anh chàng khác. Tôi lau khô người và mặc bộ áo liền quần Stratt đã để lại cho tôi. Nó có màu vàng tươi, có chữ Trung Quốc dọc theo lưng, và một sọc lớn màu đỏ ở ống quần bên trái. Tôi đoán là để đảm bảo mọi người biết rằng tôi là dân thường nước ngoài và không được phép vào một số khu vực nhất định.

Tôi vẫy gọi một thủy thủ đi ngang qua và cho anh ta xem tờ ghi chú. Anh ta gật đầu và ra dấu cho tôi đi theo. Anh ta dẫn tôi qua một mê cung của những hành lang ngắn, quanh co, tất cả đều trông giống nhau, cho đến khi chúng tôi trở lại căn phòng mà tôi đã ở ngày hôm trước.

Tôi bước vào để gặp Stratt và một số… đồng đội của cô ấy? Một phần nhỏ của hội đồng ngày hôm trước. Chỉ có Bộ trưởng Voigt, nhà khoa học Trung Quốc - tôi nghĩ tên cô ấy là Tập - và một anh chàng mặc quân phục Nga. Gã người Nga đã ở đó ngày hôm trước nhưng không nói gì cả. Họ đều trông rất tập trung và chiếc bàn tràn ngập giấy tờ. Họ thỉnh thoảng thì thầm với nhau. Tôi không biết chính xác mối quan hệ đang diễn ra nhưng chắc chắn Stratt là người đứng đầu.

Cô ấy nhìn lên khi tôi bước vào.

“À. Tiến sĩ Grace. Trông ông thật tươi tắn.” Cô ấy chỉ về phía bên trái. “Có thức ăn trên tủ búp phê.”

Và đây rồi! Cơm, bánh bao hấp, quẩy, và một bình cà phê. Tôi lao đến và tự phục vụ. Tôi đói cồn cào.

Tôi ngồi vào bàn hội nghị với một đĩa đầy và một tách cà phê.

“Vậy,” tôi nói với miệng đầy cơm. “Bà sẽ cho tôi biết lý do tại sao chúng ta lại ở trên một tàu sân bay Trung Quốc được chứ?”

“Tôi cần một tàu sân bay. Người Trung Quốc đã đưa cho tôi một chiếc. Chà, họ đã cho tôi mượn.”

Tôi nhấp cà phê. “Đã có lúc một chuyện tương tự như thế sẽ làm tôi ngạc nhiên. Nhưng… bà biết đấy… không còn nữa.”

“Việc di chuyển bằng đường hàng không thương mại mất quá nhiều thời gian và dễ bị chậm trễ,” cô ấy nói. “Máy bay quân sự hoạt động theo bất kì lịch trình nào khi cần thiết và di chuyển siêu thanh. Tôi cần có thể mời các chuyên gia từ mọi nơi trên Trái Đất vào cùng một phòng mà không bị chậm trễ.”

“Bà Stratt có khả năng thuyết phục rất lớn,” Bộ trưởng Voigt nói.

Tôi xúc thêm thức ăn vào miệng. “Hãy đổ lỗi cho ai đã giao cho bà ấy tất cả quyền hạn đó,” tôi nói.

Voigt cười khúc khích. “Thực ra tôi là một phần của quyết định đó. Tôi là Bộ trưởng Ngoại giao Đức. Tương đương với Ngoại trưởng của nước ông.”

Tôi ngừng nhai. “Chà,” tôi cố gắng nói. Tôi nuốt miếng cơm. “Ông là người có cấp bậc cao nhất mà tôi từng gặp.”

“Không, không phải tôi đâu.” Ông ta chỉ vào Stratt.

Cô ấy đặt một tờ giấy trước mặt tôi. “Đây là thứ đã dẫn đến Dự án Hail Mary.”

“Bà đang cho ông ta xem ư?” Voigt nói. “Bây giờ sao? Mà không cho ông ta quyền—”

Stratt đặt tay lên vai tôi. “Tiến sĩ Ryland Grace, tôi cấp cho ông quyền truy cập tối mật đối với tất cả thông tin liên quan đến Dự án Hail Mary.”

“Đó không phải là ý của tôi,” Voigt nói. “Có các quy trình và kiểm tra lý lịch để—”

“Không có thời gian,” Stratt nói. “Không có thời gian cho bất kì thứ gì trong số đó. Đó là lý do tại sao ông giao cho tôi phụ trách. Tốc độ.”

Cô ấy quay về phía tôi và gõ vào tờ giấy. “Đây là các số liệu từ các nhà thiên văn học nghiệp dư trên toàn thế giới. Chúng cho thấy một điều rất quan trọng.”

Trang giây có các cột số. Tôi nhận ra các tiêu để trên cột: “Alpha Centauri”, “Sirius”, “ Luyten 726-8”,…

“Các ngôi sao ư?” Tôi nói. “Đây là tất cả các ngôi sao trong cụm sao địa phương của chúng ta. Và đợi đã - có phải bà đã nói các nhà thiên văn học nghiệp dư không? Nếu bà có thể bảo Bộ trưởng Ngoại giao Đức phải làm gì, tại sao bà không bảo các nhà thiên văn học chuyên nghiệp làm việc cho mình?”

“Có chứ,” Stratt nói. “Nhưng đây là dữ liệu lịch sử được thu thập trong nhiều năm qua. Các nhà thiên văn học chuyên nghiệp không nghiên cứu các ngôi sao trong vùng. Họ quan sát những thứ xa xăm. Những người nghiệp dư ghi nhận dữ liệu về những thứ trong vùng. Giống như người yêu thích tàu hỏa vậy. Những người chơi không chuyên trong sân nhà của họ. Vài người trong số họ có những thiết bị trị giá hàng chục nghìn đô la.”

Tôi nhặt tờ giấy lên. “Được rồi, vậy tôi đang nhìn cái gì đây?”

“Các chỉ số về độ sáng. Được chuẩn hóa trên hàng nghìn bộ dữ liệu do người không chuyên tạo ra và được hiệu chỉnh cho các điều kiện thời tiết và tầm nhìn đã biết. Với sự tham gia của các siêu máy tính. Điểm mấu chốt là: Mặt Trời của chúng ta không phải là ngôi sao duy nhất đang trở nên mờ đi.”

“Có thật không?” Tôi nói. “Ồ! Điều này hoàn toàn hợp lý! Thực tinh thể có thể di chuyển với tốc độ bằng 0,92 lần tốc độ ánh sáng. Nếu nó có thể đi vào trạng thái không hoạt động và sống đủ lâu, nó có thể lây nhiễm sang các ngôi sao gần đó. Nó phát tán bào tử! Giống như nấm mốc vậy! Nó lây lan từ ngôi sao này sang ngôi sao khác.”

“Đó là lý thuyết của chúng ta, đúng thế,” Stratt nói. “Dữ liệu này có từ nhiều thập kỷ trước. Không đáng tin cậy lắm nhưng xu hướng là vậy. NSA đã tính toán ngược lại rằng—”

“Chờ đã. NSA? Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ?”

“Họ có một số siêu máy tính tốt nhất trên thế giới. Tôi cần các siêu máy tính và kỹ sư của họ để thử tất cả các kịch bản và mô hình phát tán để biết cách Thực tinh thể di chuyển trong thiên hà. Quay lại vấn đề: Những ngôi sao trong khu vực này đã bị mờ đi trong nhiều thập kỷ. Và tốc độ mờ đi tăng lên theo cấp số nhân - giống như chúng ta đang nhìn thấy với Mặt Trời.”

Cô ấy đưa tôi một tờ giấy khác. Nó có một loạt các dấu chấm nối với nhau bởi các đường kẻ. Trên mỗi dấu chấm là tên một ngôi sao. “Do tốc độ ánh sáng, các quan sát của chúng ta về độ mờ đi phải được điều chỉnh theo khoảng cách của các ngôi sao và những thứ khác nhưng có một mô hình rõ ràng về sự ‘lây nhiễm’ từ ngôi sao này sang ngôi sao khác. Chúng ta biết khi nào một ngôi sao nào đó bị nhiễm và do đâu. Mặt Trời của chúng ta bị lây nhiễm bởi một ngôi sao có tên là WISE 0855-0714. Ngôi sao đó bị lây nhiễm bởi Sirius, vốn bị lây nhiễm bởi Epsilon Eridani. Từ đó, bị mất dấu vết.”

Tôi nhìn vào biểu đồ. “Hừ. WISE 0855-0714 cũng lây nhiễm cho Wolf 359, Lalande 21185, và Ross 128.”

“Đúng vậy, cuối cùng thì mọi ngôi sao đều lây nhiễm cho tất cả các hàng xóm của nó. Căn cứ vào dữ liệu của chúng tôi, chúng tôi nghĩ rằng Thực tinh thể có phạm vi tối đa chỉ dưới tám năm ánh sáng. Bất kì ngôi sao nào trong phạm vi đó của một ngôi sao bị nhiễm thì cuối cùng sẽ bị lây nhiễm.”

Tôi nhìn vào dữ liệu. “Tại sao lại là tám năm ánh sáng? Tại sao không phải nhiêu hơn? Hay ít hơn?”

“Phỏng đoán tốt nhất của chúng tôi là Thực tinh thể chỉ có thể sống sót một thời gian nhất định mà không có một ngôi sao nào và nó có thể trôi dạt khoảng tám năm ánh sáng trong thời gian đó thôi.”

“Điều đó hợp lý, từ quan điểm tiến hóa”, tôi nói. “Hầu hết các ngôi sao có một ngôi sao khác trong vòng tám năm ánh sáng, vì vậy đó là khoảng cách mà Thực tinh thể phải tiến hóa để di chuyển trong khi tạo bào tử.”

“Có lẽ vậy,” Stratt nói.

“Không ai nhận ra là những ngôi sao đó đang trở nên mờ đi?” Tôi hỏi.

“Chúng chỉ trở nên mờ đi khoảng 10% trước khi ngừng mờ đi. Chúng tôi không biết tại sao. Không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng—”

“Nhưng nếu Mặt Trời của chúng ta mờ đi 10%, chúng ta sẽ chết hết,” tôi nói.

“Gần như vậy.”

Cô Tập vươn người sát vào bàn. Dáng vẻ của cô ấy vô cùng đúng mực. “Bà Stratt vẫn chưa nói với ông phần quan trọng nhất.”

Gã người Nga gật đầu. Đây là lần đầu tiên tôi thấy anh ta di chuyển.

Cô Tập nói tiếp. “Ông có biết Tau Ceti là gì không?”

“Tôi có biết không ấy hả?” Tôi hỏi. “Ý tôi là - tôi biết đó là một ngôi sao. Tôi nghĩ là nó cách chúng ta khoảng 12 năm ánh sáng.”

“11,9 năm,” Tập nói. “Rất tốt. Hầu hết mọi người sẽ không biết điều đó.”

“Tôi dạy môn khoa học ở trường trung học cơ sở,” tôi nói. “Những thứ này cứ hiện ra thôi.”

Cô Tập và gã người Nga nhìn nhau đầy ngạc nhiên. Sau đó, cả hai đều nhìn Stratt.

Stratt nhìn thẳng vào họ. “Ông ta còn hơn thế nữa.”

Cô Tập lấy lại sự bình tĩnh (dù cô ấy không mất nhiều). “E hèm. Dù sao thì Tau Ceti nằm hoàn toàn bên trong cụm sao bị lây nhiễm. Trên thực tế thì nó nằm ở gần trung tâm.”

“Được thôi,” tôi nói. “Tôi cảm thấy nó có gì đó đặc biệt phải không?”

“Nó không bị lây nhiễm,” Tập nói. “Mọi ngôi sao quanh nó đều bị lây nhiễm. Có hai ngôi sao bị nhiễm nằm trong phạm vi tám năm ánh sáng của Tau Ceti nhưng nó vẫn không bị ảnh hưởng.”

Tại sao?

Stratt lướt nhẹ trên đống giấy tờ của mình. “Đó là thứ chúng tôi muốn tìm hiểu. Vì thế, chúng tôi sẽ chế tạo một con tàu và gửi nó đến đó.”

Tôi khịt mũi. “Bà không thế chỉ ‘chế tạo’ một con tàu di chuyển giữa các vì sao. Chúng ta không có công nghệ đó. Chúng ta không có bất cứ thứ gì gần với công nghệ như vậy.”

Gã người Nga lần đầu tiên mở miệng nói. “Bạn của tôi, thực ra là chúng ta có đấy.”

Stratt ra hiệu về phía gã người Nga. “Tiến sĩ Komorov là—”

“Hãy gọi tôi là Dimitri,” anh ấy nói.

“Dimitri phụ trách nghiên cứu của Liên bang Nga về Thực tinh thể,” cô nói.

“Hân hạnh được gặp anh,” anh nói. “Tôi rất vui khi thông báo rằng chúng ta thực sự có thể du hành giữa các vì sao.”

“Không, chúng ta không thể,” tôi nói. “Trừ khi anh có một con tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh mà anh chưa từng thông báo với bất kì ai.”

“Theo một cách nào đó, chúng ta có,” anh nói. “Chúng ta có rất nhiều phi thuyền ngoài hành tinh. Chúng ta gọi chúng là Thực tinh thể. Anh hiểu chứ? Nhóm của tôi đã nghiên cứu về cách thức quản lý năng lượng của Thực tinh thể. Chúng rất thú vị.”

Đột nhiên, tôi quên hết mọi thứ khác diễn ra trong căn phòng. “Ôi trời, xin hãy nói với tôi là anh biết về nơi đến của nguồn nhiệt. Tôi không thể hiểu nó đang làm cái quái gì với nhiệt năng!”

“Chúng tôi đã tìm ra điều này, đúng vậy,” Dimitri nói. “Bằng lazer. Đó là một thí nghiệm rất sáng sủa.”

“Đó có phải là một cách chơi chữ không?”

“Đúng vậy!”

“Hay đấy!”

Cả hai chúng tôi đều cười. Stratt trừng mắt nhìn chúng tôi.

Dimitri hắng giọng, “Ừ… vâng. Chúng tôi hướng tia lazer cường độ 1 kilôoát tập trung cao độ vào một tế bào Thực tinh thể. Như thường lệ, nó không trở nên nóng hơn. Nhưng sau 25 phút, ánh sáng bắt đầu bật ra. Thực tinh thể bé nhỏ đã no. Một bữa ăn ngon lành. Nó tiêu thụ 1,5 megajun✻ quang năng. Không muốn nhiều hơn nữa. Nhưng chừng đó là rất nhiều năng lượng! Vậy nó đặt tất cả số năng lượng này vào đâu?”

Tôi đang nghiêng người quá về phía trước bàn nhưng tôi không cưỡng lại được. “Vào đâu?!”

“Tất nhiên là chúng tôi đo tế bào Thực tinh thể trước và sau thí nghiệm.”

“Dĩ nhiên.”

“Tế bào Thực tinh thể bây giờ nặng hơn 17 nanogam. Anh có thể thấy điều này dẫn đến đâu, phải không nào?”

“Không, không thể nào. Chắc hẳn nó đã tăng khối lượng đó từ phản ứng với không khí hay thứ gì đó.”

“Không, tất nhiên là phép thử được thực hiện trong chân không.”

“Ôi trời ơi! Tôi lảo đảo. “17 nanogam… nhân 9 lần 1016… 1,5megajun!”

Tôi ngồi phịch xuống ghế. “Ôi… ý tôi chỉ là… tuyệt vời!”

“Tôi cũng nghĩ vậy đấy, vâng.”

Sự chuyển đổi khối lượng. Như Albert Einstein vĩ đại từng nói: E = mc2. Có một lượng năng lượng khổng lồ trong khối lượng. Một nhà máy hạt nhân hiện đại có thể cung cấp năng lượng cho cả một thành phố trong một năm chỉ với năng lượng tích trữ trong 1 kilôgam Urani. Đúng thế. Chỉ thế thôi. Toàn bộ sản lượng của một lò phản ứng hạt nhân trong 1 năm đến từ 1 kilôgam khối lượng.

Thực tinh thể dường như có thể làm điều này theo một trong hai hướng. Nó nhận nhiệt năng và bằng cách nào đó chuyển thành khối lượng. Sau đó, khi nó muốn có năng lượng trở lại, nó chuyển khối lượng đó trở lại thành năng lượng - dưới dạng ánh sáng với tần số Petrova. Và nó sử dụng năng lượng đó để tự đẩy mình trong không gian. Vì vậy, nó không chỉ là một phương tiện lưu trữ năng lượng hoàn hảo, mà còn là một động cơ tàu vũ trụ tuyệt vời.

Sự tiến hóa có thể cực kì hiệu quả khi để nó yên trong vài tỉ năm.

Tôi gãi đầu. “Điều này thật điên rồ. Mặc dù theo một hướng tốt. Anh có nghĩ rằng nó sinh ra phản vật chất bên trong không? Đại loại thế?”

“Chúng tôi không biết. Nhưng nó chắc chắn tăng về khối lượng. Và rồi, sau khi sử dụng ánh sáng làm lực đẩy, nó mất đi khối lượng tương ứng với năng lượng giải phóng ra.”

“Cái đó…! Dimitri, tôi muốn tụ tập với anh. Giống như - chúng ta có thể tụ tập không? Tôi sẽ đãi anh bia. Hoặc vodka. Hay bất cứ thứ gì. Tôi cá là có một câu lạc bộ cho các sĩ quan trong con thuyền này, phải không nào?”

“Đó là niềm vinh hạnh của tôi.”

“Rất vui khi hai ông kết bạn,” Stratt nói. “Nhưng các ông còn rất nhiều việc phải làm trước khi có thời gian gặp gỡ ở quán bar.”

“Tôi ư? Tôi phải làm cái gì đây?”

“Ông cần thiết kế và tạo ra một cơ sở nhân giống Thực tinh thể.”

Tôi chớp mắt. Rồi tôi bật đứng dậy. “Ông sẽ chế tạo một con tàu sử dụng năng lượng từ Thực tinh thể.”

Tất cả đều gật đầu.

“Trời ơi! Đó là nhiên liệu tên lửa hiệu quả nhất từ trước đến nay!” Chúng ta cần bao nhiêu để — ồ. 2 triệu kilôgam, đúng không? Đó là lý do tại sao bà muốn biết mất bao lâu để kiếm được chừng đó?”

“Đúng vậy,” cô Tập nói. “Đối với một con tàu 100. 000 kilôgam, chúng ta sẽ cần 2 triệu kilôgam Thực tinh thể để đưa nó đến Tau Ceti. Và nhờ có ông, giờ đây chúng ta biết cách kích hoạt Thực tinh thể và khiến nó tạo ra lực đẩy theo ý muốn.”

Tôi ngồi xuống, rút điện thoạt ra và khởi chạy ứng dụng tính toán. “Điều này sẽ tốn, khoảng… rất nhiều năng lượng. Giống như, nhiều năng lượng hơn so với thế giới có được. Sẽ vào khoảng 1023 Jun. Lò phản ứng hạt nhân lớn nhất trên Trái Đất tạo ra khoảng 8 gigawat (GW). Lò phản ứng đó sẽ cần hai triệu năm để tạo ra lượng năng lượng lớn như vậy”.

“Chúng tôi có ý tưởng để tìm ra năng lượng,” Stratt nói. “Việc của ông là tạo ra thiết bị nhân giống. Bắt đầu với quy mô nhỏ và thực hiện trên một nguyên mẫu.”

“Ok, chắc chắn rồi,” tôi nói. “Nhưng tôi không thực sự thích chuyến du lịch vĩ đại của ‘các quân đội trên thế giới’ trên đường đến đây. Tôi có thể đi máy bay chở khách về nhà không? Xe buýt cũng được.”

“Ông đang ở nhà rồi”, Stratt nói. “Nhà chứa máy bay đang trống. Chỉ cần cho tôi biết ông cần gì - bao gồm cả nhân viên - và tôi sẽ biến điều đó thành hiện thực.”

Tôi nhìn những người còn lại trong phòng họp. Tập, Voigt và Dimitri đều gật đầu. Đúng rồi, điều này là sự thật. Không, Stratt không đùa.

“Tại sao?!” Tôi gặng hỏi. “Tại sao bà không thể bình thường được, Stratt?! Nếu bà muốn vận chuyển quân sự nhanh chóng, ừ thì tốt thôi, nhưng tại sao không chỉ làm việc tại một căn cứ không quân hoặc một cái gì đó mà những người bình thường sẽ làm?!”

“Bởi vì chúng ta sẽ thử nghiệm với một lượng lớn Thực tinh thể khi chúng ta tạo ra nó. Và nếu chúng ta vô tình kích hoạt dù chỉ vài kilôgam thứ đó, thì vụ nổ diễn ra sẽ lớn hơn quả bom hạt nhân lớn nhất từng được chế tạo.”

“Tsar Bomba✻,” Dimitri nói. “Được chế tạo bởi đất nước tôi. 50 megaton✻. Bùm.”

Stratt tiếp tục. “Vì vậy, chúng tôi muốn ra giữa đại dương, nơi chúng tôi sẽ không xóa sổ bất kì thành phố nào.”

“Ồ.” Tôi nói.

“Và khi chúng ta ngày càng có nhiều Thực tinh thể, chúng ta sẽ ngày càng tiến xa hơn ra phía biển. Dù sao đi nữa. Hãy đi xuống boong chứa máy bay. Những người thợ mộc đang xây chỗ ở và văn phòng khi chúng ta đang nói chuyện. Chọn vài thứ ông thích và chúng là của ông.”

“Bây giờ đây là cuộc sống của chúng ta,” Dimitri nói. “Chào mừng.”

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 6

Đang tải bình luận...