Sự Im Lặng Của Bầy Cừu

Phần lớn là loại Simplicity, nhưng cũng có mấy mẫu

Phần lớn là loại Simplicity, nhưng cũng có mấy mẫu

Phần lớn là loại Simplicity, nhưng cũng có mấy mẫu Vogue có vẻ cầu kỳ. Có lẽ cô đã mặc bộ đẹp nhất của mình đi phỏng vấn. Cô đã mặc bộ nào? Starling lật hồ sơ. Đây rồi: lần cuối cùng được nhìn thấy mặc bộ màu xanh lá. Nào, sĩ quan, bộ màu xanh lá là cái quái quỷ gì thế? Fredrica có một gót chân Asin trong tủ quần áo tiết kiệm của mình — cô không có đủ giày, và với trọng lượng của mình, giày của cô hỏng rất nhanh. Đôi giày bệt của cô bị cong thành hình oval. Đôi sandal có miếng lót khử mùi. Lỗ xỏ dây của đôi giày chạy bị kéo ngoác ra. Có thể Fredrica có luyện tập chút ít — cô ta có mấy bộ thể thao ngoại cỡ.

Hiệu Juno. Catherine Martin cũng có vài chiếc quần lớn hiệu Juno. Starling lùi ra khỏi tủ quần áo. Cô ngồi xuống cuối giường, khoanh tay nhìn tủ quần áo đang sáng đèn. Juno là một thương hiệu phổ biến, được bán ở nhiều nơi và chuyên về hàng ngoại cỡ, nhưng điều này đặt ra câu hỏi về quần áo. Bất cứ thị trấn to nhỏ nào cũng có ít nhất một cửa hàng chuyên bán đồ cho người béo. Liệu Bill Bò mộng có theo dõi những cửa hàng bán đồ cho người béo, lựa chọn một khách hàng và đi theo cô ta hay không? Liệu hắn có ăn mặc giả trang rồi vào những cửa hàng bán đồ ngoại cỡ và ngắm nghía không? Bất cứ cửa hàng ngoại cỡ nào trong một thành phố cũng có khách hàng là đàn ông mặc đồ phụ nữ. Ý tưởng Bill Bò mộng tìm cách chuyển giới mới được dùng trong điều tra từ khi bác sĩ Lecter cho Starling lý thuyết của mình. Còn quần áo của hắn thì sao? Chắc rằng tất cả nạn nhân đều đã từng mua bán trong những cửa hàng dành cho người béo — Catherine Martin có thể mặc cỡ 12, nhưng những người khác thì không thể, và Catherine chắc đã tìm kiếm trong một cửa hàng ngoại cỡ để mua một cái áo chui Juno cỡ lớn. Catherine Martin có thể mặc đồ cỡ 12. Cô là người nhỏ bé nhất trong số những nạn nhân. Fredrica, nạn nhân đau tien, là người to lớn nhất. Bill Bò mộng xoay xở thế nào để giảm cỡ khi chọn Catherine Martin? Catherine khá đẫy đà, nhưng không phải là người có vòng thân lớn. Phải chăng chính hắn cũng đã giảm cân? Có thể

gần đây hắn đã gia nhập một nhóm ăn kiêng nào đó? Kimberly Emberg có cỡ người ở giữa, to lớn nhưng có eo… Starling cố tránh không nghĩ đến Kimberly Emberg, nhưng lúc này ký ức lại tràn ngập trong cô trong thoáng chốc. Starling nhìn thấy Kimberly nằm trên chiếc bàn ở Potter. Bill Bò mộng không quan tâm đến đôi chân đã tẩy lông hay bộ móng tay sơn kỹ lưỡng của cô. Hắn nhìn bộ ngực phẳng của cô và khi thấy nó không đủ tốt, hắn lấy khẩu súng ngắn bắn thủng một lỗ hình sao biển trên ngực cô. Cánh cửa phòng nhích ra vài phân. Starling cảm thấy tim mình đập mạnh trước khi biết đó là cái gì. Một con mèo đi vào, một con mèo giống mai rùa to tướng có một con mắt màu vàng và con mắt kia màu xanh dương. Nó nhảy lên giường và dụi vào cô. Tìm Fredrica. Nỗi cô đơn. Một cô gái lớn cô đơn đang tìm cách làm vui lòng ai đó. Cảnh sát đã xóa sổ các câu lạc bộ những trái tim cô đơn hơi sớm. Bill Bò mộng có cách nào khác để lợi dụng nỗi cô đơn không? Không gì làm cho ta dễ tổn thương nhiều hơn nỗi cô đơn, ngoại trừ lòng tham. Nỗi cô đơn có thể mở ra cho Bill Bò mộng cơ hội để tiếp xúc với Fredrica, nhưng không phải với Catherine. Catherine không cô đơn. Kimberly là người cô đơn. Đừng có lại bắt đầu. Kimberly, phục tùng và mềm oặt, không còn cứng đờ như khi mới chết nữa, bị lật lại trên bàn của nhân viên nhà xác để Starling lấy dấu tay. Ngừng lại. Không thể ngừng lại được. Kimberly cô đơn, luôn lo lắng sao cho kẻ khác được hài lòng. Liệu Kimberly có bao giờ phục tùng lật sấp cho

ai đó, chỉ để được cảm thấy trái tim của hắn ta đập sát lưng cô? Cô tự hỏi không biết Kimberly có cảm thấy mấy cái ria đâm ngưa ngứa trên hai bả vai cô không. Nhìn chằm chằm vào tủ quần áo sáng đèn. Starling nhớ lại tấm lưng đẫy đã của Kimberly, những miếng da hình tam giác bị lột khỏi vai cô ta. Nhìn chằm chằm vào cái tủ quần áo sáng đèn. Starling nhìn thấy những hình tam giác trên vai Kimberly được vẽ bằng những nét vẽ màu xanh dương trên một miếng rập. Một ý tưởng bơi đi rồi vòng lại, lại đủ gần để lần này cô có thể nắm được nó và cô nắm lấy nó với niềm vui sướng mãnh liệt: CHÚNG LÀ MIẾNG ĐÁP — HẮN LẤY NHỮNG MIẾNG DA HÌNH TAM GIÁC LÀM MIẾNG ĐÁP ĐỂ NỚI ĐƯƠC EO CÔ TA. THẰNG KHỐN NÀY BIẾT MAY. BILL BÒ MỘNG ĐƯỢC HỌC MAY THÀNH THẠO — HẮN KHÔNG CHỈ DÙNG ĐỒ MAY SẴN. Bác sĩ Lecter đã nói gì nhỉ? “Hắn làm cho mình một bộ đồ con gái từ những cô gái thực thụ.” Hắn hỏi gì mình? “Cô có biết may không, Clarice?” Chắc chắn là mình có chứ. Starling ngửa đầu ra sau, nhắm mắt một giây. Giải quyết vấn đề chính là một cuộc săn bắt. Đấy là một niềm vui man rợ và chúng ta sinh ra để làm thế. Cô có nhìn thấy một cái điện thoại trong phòng khách. Cô định chạy xuống cầu thang gọi điện, nhưng giọng nói lạo xạo của bà Bimmel đã gọi vọng lên, gọi cô xuống nghe điện thoại.

B 53 à Bimmel đưa điện thoại cho Starling và bế đứa bé đang cáu bẳn lên. Bà ta không ra khỏi phòng khách. “Clarice Starling nghe.” “Là Jerry Burroughs, Starling…” “Tốt lắm, Jerry, tôi nghĩ Bill Bò mộng biết may. Hắn cắt những hình tam giác — đợi chút — bà Bimmel, cảm phiền bà đưa cháu vào bếp được không? Tôi cần nói chuyện một chút. Cảm ơn bà… Jerry, hắn biết may. Hắn lấy…” “Starling…” “Hắn lột những miếng da hình tam giác trên người Kimberly Emberg để làm miếng đáp, đáp quần áo ấy — anh hiểu tôi nói gì chứ? Hắn may giỏi, chứ không chỉ may những thứ lởm khởm. Bên Nhận dạng cần tìm thợ may quần áo, thợ may buồm, thợ may vải trải giường, thợ may bọc ghế trong cơ sở dữ liệu Tội phạm đã biết — hãy quét trường Dấu vết đặc biệt để tìm một khía trên răng hắn ta…” “Được rồi, được rồi, được rồi. Tôi sẽ gọi điện cho bên nhận dạng. Giờ thì nghe này. Có thể tôi sẽ phải bỏ điện thoại ở đây. Jack Crawford muốn tôi báo cho cô. Chúng ta đã có tên và một địa điểm

có vẻ không tệ lắm. Nhóm giải cứu con tin từ Andrew đã bay. Jack đang báo tình hình cho họ qua điện thoại mã hóa.” “Đi đâu vậy?” “Thành phố Calumet, ngoài rìa Chicago. Đối tượng tên là Jame, như là ‘Name’ với chữ J ấy, họ là Gumb, còn được gọi là John Grant, đàn ông da trắng, cao 1m9, 34 tuổi, tóc nâu, mắt xanh dương. Jack được Viện John Hopkins thông báo. Tác phẩm của cô — hồ sơ của cô về việc hắn có thể khác với một kẻ chuyển giới — đánh đúng chỗ ở John Hopkins. Ba năm trước có một kẻ đã đăng ký chuyển giới. Gây chuyện với một bác sĩ sau khi họ từ chối hắn ta. Hopkins có biệt hiệu của Grant và một địa chỉ tạm ở Harrisburg, bang Pennsylvania. Cảnh sát có được một hóa đơn mua xăng có số xe của hắn và chúng tôi bắt đầu từ đó. Bị bắt ở California khi là trẻ vị thành niên — hắn giết ông bà của mình khi mới 12 tuổi và phải ở viện tâm thần Tulare trong 6 năm. Bang thả hắn 16 năm trước khi họ đóng cửa viện tâm thần. Hắn biến mất một thời gian dài. Hắn là kẻ thích gây gổ với người đồng tính. Có vài vụ xước xát ở Harrisburg rồi sau đó lại biến mất.” “Có phải anh nói Chicago? Sao anh biết là Chicago?” “Hải quan. Họ có một số giấy tờ dưới biệt danh John Grant. Hải quan đã chặn một cái va – li tại sân bay quốc tế Los Angeles mấy năm trước được gửi từ Surinam đến, đựng những ‘con nhộng’ còn sống — có phải cô gọi thế không nhỉ? — tóm lại là côn trùng, những con bướm đêm. Người nhận là John Grant, chủ một doanh nghiệp ở Calumet có tên là — đây này — Cửa hàng đồ da Mr. Hide. Có thể chuyện khâu vá khớp ở đây đấy. Tôi đang chuyển thông tin may vá tới Chicago và Calumet, vẫn chưa có địa chỉ nhà của Grant, hay là

Gumb, doanh nghiệp đã đóng cửa. Nhưng chúng ta gần lắm rồi.” “Có bức ảnh nào không?” “Tới nay chỉ có ảnh thời trẻ từ Sở cảnh sát Sacramento. Chúng không có ích lắm — khi đó hắn mới 12 tuổi. Trông như thằng bé Beaver Cleaver trong phim ấy. Phòng truyền tin cũng đang gửi ảnh đi rồi.” “Tôi có đi được không?” “Không. Jack nói cô sẽ xin đi. Họ có hai nữ cảnh sát Tư pháp từ Chicago và một y tá để chăm sóc Martin nếu họ tìm được cô ta. Cô cũng chẳng thể đến kịp đâu. Starling.” “Nếu hắn chống lại thì sao? Có thể mất…” “Sẽ không cò cưa gì đâu. Họ tìm được hắn, họ sẽ xử hắn — Crawford đã cho phép được xâm nhập bằng thuốc nổ. Vấn đề đặc biệt của gã này, Starling ạ, là hắn đã từng rơi vào tình huống bắt con tin rồi. Vụ giết người vị thành niên của hắn, họ bắt được hắn trong một tình huống cố thủ ở Sacramento, với con tin là bà hắn — hắn đã giết ông hắn rồi, nhưng cứ giả sử là chúng ta may mắn đi. Giả sử hắn có nhiều toan tính, bằng cách nào đó hắn vẫn chưa làm đến chuyện đó. Nếu hắn mà nhìn thấy ta đến thì hắn sẽ giết cô gái ngay trước mặt chúng ta để trả thù. Hắn chẳng mất gì, đúng không? Vậy họ tìm được hắn và — bùm — cửa bay ngay.” Căn phòng nóng khủng khiếp và có mùi nước đái trẻ con. Burroughs vẫn đang nói. “Chúng tôi đang tìm cả hai cái tên trong danh sách đăng ký Tạp chí côn trùng học, Hiệp hội thợ dao kéo, tội phạm đã biết, công trường — không bỏ qua một ai cho đến khi chuyện này kết thúc. Cô đang ở chỗ những người quen của Bimmel

phải không?” “Phải.” “Bên Tư pháp nói đây là một vụ rắc rối nếu chúng ta không bắt quả tang được hắn. Chúng ta cần hắn với Martin hay với thứ gì đó có thể nhận dạng được — thứ gì có răng hay có ngón tay, nói thẳng ra là như thế. Ngầm hiểu là nếu hắn đã vứt xác Martin rồi thì ta cần có nhân chứng chứng kiến hắn ở cùng với một nạn nhân trước khi sự việc xảy ra. Và như vậy ta vẫn có thể dùng các thứ cô tìm được ở nhà Bimmel cho dù… Starling, không chỉ vì cô bé Martin ấy mà tôi cầu Chúa sao cho chuyện này đã xảy ra từ ngày hôm qua. Ở Quantico họ đã hất cẳng cô rồi à?” “Tôi nghĩ vậy. Họ đã có người đang chờ chỗ trống rồi — họ nói với tôi như thế.” “Nếu ta bắt được hắn ở Chicago thì cô là người có rất nhiều đóng góp. Đám Quantico là bọn khốn cứng nhắc đúng cái cách họ phải như thế, nhưng họ cũng phải thấy được chuyện đó. Chờ chút.” Starling có thể nghe tìếng Burroughs quát mắng, ở xa cái điện thoại. Đoạn anh ta quay lại. “Không có gì — họ có thể triển khai ở thành phố Calumet sau 45 hoặc 50 phút, tùy hướng gió. Nhóm SWAT của Chicago sẽ chịu trách nhiệm nếu họ tìm được hắn sớm hơn. Công ty Điện và Chiếu sáng Calumet đã tìm ra bốn địa chỉ khả dĩ. Starling, hãy tìm bất cứ thứ gì có thể ở đó để thu hẹp diện tìm kiếm. Thấy gì liên quan đến Chicago và Calumet, gọi tôi ngay.” “Chắc rồi.” “Giờ nghe này — xong là tôi phải đi. Nếu chuyện đó xảy ra, nếu

ta tóm được hắn ở thành phố Calumet, thì cô cần đánh giày bóng loáng rồi đến Quantico đúng 8 giờ sáng. Jack sẽ đi ra hội đồng với cô. Và cả tay dạy bắn súng, Brigham. Xin xỏ một chút cũng không mất mát gì.” “Jerry, một chuyện nữa: Fredrica Bimmel có mấy bộ quần áo thể thao hiệu Juno, một thương hiệu quần áo cho người béo. Không biết thông tin này có hữu ích hay không nhưng Catherine Martin cũng có vài bộ. Hắn có thể theo dõi các cửa hàng dành cho người béo để tìm kiếm những nạn nhân to con. Ta có thể hỏi Memphis, Akron và những nơi khác.” “Hiểu rồi. Cười tươi nhé.” Starling đi lại trong một bãi rác ở Belvedere, bang Ohio, cách Chicago nơi đang diễn ra vụ truy bắt 610km. Không khí lạnh làm mặt cô thấy dễ chịu. Cô tung một cú đấm nhẹ vào không khí, cổ vũ cho Đội giải cứu con tin. Nhưng cùng lúc cô lại cảm thấy có chút run rẩy ở cằm và trên má. Cái quái quỷ gì thế nhỉ? Cô sẽ làm quái gì nếu tìm thấy gì đó? Có thể cô sẽ gọi đội không chiến, văn phòng chi nhánh Cleveland, nhóm SWAT Columbus và có thể cả Sở cảnh sát Belvedere. Cứu sống cô gái, cứu sống con gái thượng nghị sĩ Martin khốn kiếp và những nạn nhân có thể tiếp theo — đó mới thực sự là điều quan trọng. Nếu họ làm được, mọi người sẽ ổn. Nếu họ không kịp, nếu họ tìm thấy thứ gì đó khủng khiếp, xin Chúa hãy để họ tóm được Bò… — tóm được Jame Gumb hoặc Mr. Hide hoặc bất cứ cái tên nào mà họ muốn đặt cho thằng mạt kiếp đó.

Nhưng dẫu sao, đã đến gần đến thế, gần chạm được tay vào nó rồi nhưng lại biết mình rõ ràng chậm mất một ngày, rơi vao một nơi cách xa vụ bắt giữ, bị đuổi học, tất cả những thứ đó có mùi thất bại. Từ lâu Starling đã nghi ngờ một cách tội lỗi rang co thể dòng họ Starling đã tận phúc được vài trăm năm rồi — và rằng tất cả những người trong dòng họ Starling cứ mãi lang thang với mối uất hận và hoang mang trong làn sương mờ của thời gian. Rằng nếu cô có tìm được dấu vết con đường của ông tổ Starling thì nó cũng là một vòng luẩn quẩn. Đó là tư duy cổ điển của kẻ thất bại, và khốn nạn cái thân cô nếu cô cứ tư duy cái kiểu ấy. Nếu họ tóm được hắn vì bản hồ sơ cô lấy được từ bác sĩ Lecter thì nó sẽ giúp được cô trong rắc rối với Bộ Tư pháp. Starling phải nghĩ một chút về điều đó. Hy vọng về sự nghiệp của cô teo tóp như một cánh tay ma. Cho dù điều gì xảy ra chăng nữa thì phát hiện đột ngột về những miếng đáp cũng làm cho cô cảm thấy dễ chịu hơn bất cứ điều gì. Vẫn còn thứ để mà cất giữ. Cô đã tìm được sự dũng cảm rồi ký ức về mẹ cũng như cha cô. Cô đã chiếm được và giữ được lòng tin của Crawford. Đó là những thứ để cất giữ trong chiếc hộp xì gà White Owl của riêng cô. Công việc của cô, trách nhiệm của cô là nghĩ tới Fredrica và Gumb có thể làm như thế nào để bắt cô ta. Vụ truy tố hình sự Gumb đòi hỏi phải có tất cả các sự kiện. Hãy nghĩ đến Fredrica, bị kẹt ở đây cả tuổi thanh xuân. Cô sẽ tìm lối ra ở đâu? Liệu sự chờ mong của cô ấy có cộng hưởng với mong chờ của Bill Bò mộng? Liệu điều đó có đưa họ đến với nhau? Một ý nghĩ kinh khủng, rằng hắn có thể thấu hiểu cô do những gì hắn đã

nếm trải, thậm chí còn đồng cảm, vậy mà vẫn đang tâm lột da cô ta. Starling đứng bên bờ nước. Gần như nơi chốn nào cũng có khoảnh khắc của mình trong một ngày, lúc mà ánh sáng có góc chiếu và cường độ để chỗ ấy đẹp nhất. Nếu bị kẹt ở đâu đó, ta sẽ tìm được thời điểm đó và ta sẽ mong nó đến. Lúc này, giữa buổi chiều, có thể chính là thời khắc của dòng sông Licking chảy sau phố Fell. Có phải đó là lúc để cô bé nhà Bimmel mơ mộng? Ánh nắng dịu đã làm bốc đủ hơi nước để nhòa nhạt đi những chiếc tủ lạnh và bếp lò cũ bị vứt bên kia dòng nước tù đọng. Gió Đông Bắc thổi, ngược hướng mặt trời, đẩy đám cỏ nến về phía mặt trời. Một đoạn ống nhựa trắng chạy từ nhà ông Bimmel ra sông. Nó ục ra một dòng nước đỏ như máu làm bẩn đám tuyết cũ. Bimmel đi ra chỗ có ánh náng. Mặt trước cái quần dài của ông ta lấm tấm máu, ông ta cầm theo một cái túi nhựa đựng thức ăn trong đó có một mớ hỗn độn hồng hồng xám xám. “Bồ câu ra ràng,” ông ta nói khi thấy Starling đang nhìn. “Cô đã ăn bồ câu ra ràng bao giờ chưa?” “Tôi chưa,” Starling nói, quay lưng lại phía bờ nước “Tôi có ăn bồ câu thường thôi.” “Ăn những con này thì không bao giờ lo bị cắn phải đạn ghém.” “ông Bimmel, Fredrica có quen ai ở thành phố Calumet hay vùng Chicago không?” Ông ta nhún vai và lắc đầu. “Theo ông biết thì cô ấy có bao giờ đến Chicago không?”

“Ý cô ‘theo ông biết’ là sao? Cô nghĩ con gái tôi đi Chicago mà tôi lại không biết ư? Không bao giờ có chuyện nó đến Columbus mà tôi lại không biết.” “Cô ấy có quen người đàn ông nào biết may, là thợ may hay thợ may buồm không?” “Con bé may cho tất cả mọi nguôi. Nó may giỏi y như mẹ nó vậy. Tôi không biết người đàn ông nào cả. Nó may cho cửa hàng, cho các bà. Tôi không biết ai.” “Bạn thân của cô ấy là ai, thưa ông Bimmel? Cô ấy hay chơi bời với ai?” Mình không có ý định nói “chời bời”, hay rồi, từ ấy làm ông ta chối tai — ông ta điên tiết rồi. “Nó chẳng bao giờ chơi bời như cái bọn vô tích sự đâu. Lúc nào nó cũng có việc làm. Chúa không cho nó sắc đẹp, nhưng Người cho nó công việc.” “Theo ông thì ai là bạn thân nhất của cô ấy? “Stacy Hubka, tôi nghĩ thế, chúng là bạn bè từ

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 34

Đang tải bình luận...