Quán (Bộ 7 Tập)

Chương 2Lời thì thầm mê hoặc

Chương 2Lời thì thầm mê hoặc

Chương 2

Lời thì thầm mê hoặc

Vừa vòng xe qua một khúc cua lớn rợp bóng bạch dương Nhật Bản, Kawaminami đã nhận ra trục trặc. Đường phía trước bị chặn mất. Có vẻ là do núi lở, đất đá và cây đổ chắn ngang đường núi chật hẹp. Thầm nghĩ không ổn, Kawaminami đành tặc lưỡi rồi đạp phanh, “Chết tiệt!” Chủ tiệm tạp hóa làng I đã nhắc, qua đèo đi thêm một đoạn, thấy lối rẽ bên trái là rẽ ngay, đường thẳng bị chặn rồi. Thật uổng công chủ tiệm nhắc nhở, hình như cậu lỡ đi quá lối rẽ, giờ chỉ còn cách quay xe.

Kawaminami chép miệng, xoay vô lăng, từ từ lùi xe. Mãi mới tìm thấy chỗ đủ thoáng, lại xoay xở một lúc mới quay đâu được. Ở đây mà mù sương giống đoạn đèo ban nãy thì chắc bó tay. Xốc lại tinh thần, cậu bắt đầu lái xe ra khỏi cung đường vừa đi qua.

Vẫn con đường ấy, vậy mà đi ngược lại có cảm giác thật khác lạ, như hình ảnh đã qua xử lý. Màu sắc thô ráp trong khi độ tương phản rõ nét một cách kì quái. Chỗ sáng thì chói mắt. Chỗ tối lại quá âm u. Có cảm giác ban nãy là mặt phải, bây giờ là mặt trái. Lần này không được đi quá lối rẽ nữa. Kawaminami cẩn thận quan sát lề phải, hồi tưởng lại cuộc nói chuyện với chủ tiệm.

Chủ tiệm tạp hóa tóc lưa thưa điểm bạc, bề ngoài trạc ngũ tuần song chắc chưa già đến thế, người hơi lùn và khá vạm vỡ. Trên gương mặt rám nắng là vết sẹo sâu hoắm, kéo dài từ trán qua mí mắt trái xuống tận gò má. Mắt trái nhắm chặt, có lẽ đã hỏng khi bị thương.

“Cậu đi đâu mà qua đèo?” Ông nghi hoặc.

Do dự một hồi, Kawaminami thành thật đáp, “Ám Hắc Quán ạ. Cháu nghe nói nó nằm trong khu rừng bên kia đèo Vọng.”

Chủ tiệm liền nhướng mày phải, khóe miệng phải cũng giật giật, vẻ mặt vô cùng sửng sốt, nói đúng hơn là kinh hoàng, “Cậu đến đó làm gì?”

“Chú biết dinh thự ấy ạ?”

“Dinh thự nhà Urado, bên kia đèo...” Chủ tiệm thấp giọng lẩm bẩm như đang độc thoại. Kawaminami nhận biết được cái tên “Urado”.

“Dinh thự hiện vẫn còn chú nhỉ?”

Chủ tiệm lặng lẽ gật đầu.

“Những người sống ở đó thì sao ạ?”

“Tốt nhất là cậu nên tránh xa nó ra.”

“Ơ, tại sao?”

“Nơi đó kinh khủng lắm. Đến giờ vẫn rất kinh khủng.”

Nghe đến đây, hai chữ “án mạng” lập tức hiện ra trong đầu Kawaminami. Chủ tiệm không nói gì nữa, đưa tay rờ rẫm vết sẹo trên mặt và khẽ thở dài.

“Chú nghe qua cái tên Nakamura Seiji bao giờ chưa?”

"Nakamura?"

“Ông ta là kiến trúc sư, thấy bảo từng tham gia tu sửa Ám Hắc Quán.”

“Nakamura... Nakamura, Seiji...” Chủ tiệm lẩm nhẩm, lắc đầu so vai, lại sờ lên vết sẹo. Thái độ rất khó xác định là có biết hay không. Thấy hỏi thêm cũng vô ích, Kawaminami quyết định rời đi. Đúng lúc ấy... “Đợi đã, cậu trai!” Chủ tiệm gọi với lại, chỉ cho Kawaminami lối rẽ bên kia con đèo, còn dặn “Cẩn thận đấy”, đoạn nheo mắt nhìn xa xăm. “Đó là nơi trú ngụ của cái ác.”

“Cái ác á?”

“Bà tôi hồi còn sống thường kể thế, nhưng con người là vậy, càng dọa thì càng muốn đến xem.”

“Vâng.”

“Tôi không biết tại sao cậu muốn tới đó, có điều nên cẩn thận.”

Khi trở ra xe, Kawaminami nhìn về phía tiệm tạp hóa lần nữa. Bóng ông chủ khuất dần vào cửa tiệm mờ tối. Kawaminami hít một hơi, ngước nhìn biển hiệu. Biển đã cũ nát, hơi xiêu vẹo, sơn tróc loang lổ, bốn góc mòn vẹt. Ắt đã dầm mưa dãi nắng mấy chục năm, chưa từng được thay mới. Kawaminami cố lắm mới đọc ra bốn chữ trên biển: Tiệm tạp hóa Haga.

Xe quay đầu, chạy thêm khoảng mười lăm phút thì gặp lối rẽ. Trái với Kawaminami dự đoán, đường sá không đến nỗi tệ. Tuy gồ ghề nhưng đủ rộng để xe cỡ trung dễ dàng băng qua. Đầu lối rẽ có cây to nên đi trở ra thì dễ thấy, còn từ đèo sang thì khuất bóng cây, ban nãy đi quá cũng dễ hiểu thôi, Kawaminami thầm nghĩ.

Rẽ xong, càng đi càng dốc xuống, càng âm u. Cỏ dại um tùm quẹt vào thân xe loạt soạt. Kawaminami ghì chặt vô lăng. Phía trước, nơi thâm sơn cùng cốc này, thực sự có dinh thự mình muốn tìm ư? Đi tới đây, Kawaminami bỗng cảm thấy bất an.

Bên kia đèo Vọng, trên đảo nhỏ giữa hồ nơi rừng sâu núi thẳm có “dinh thự nhà Urado”. Sở dĩ mang tên “Ám Hắc Quán” là bởi bề ngoài đen kịt, vô cùng u ám... Ám Hắc Quán, cái tên nhuốm đầy xui xẻo. Kawaminami nghe đến lần đầu vào hai hôm trước.

Chiều thứ Bảy 21/9, nhà Kawaminami làm 49 ngày cho mẹ tại tư gia ở thành phố Kumamoto. Làm lễ xong thì ra nhà hàng. Suốt bữa ăn với họ hàng, Kawaminami luôn phải tỏ ra ủ ê cho tròn vai “cậu con hiếu thảo mất đi người mẹ yêu thương”. Tất nhiên cậu đau buồn vì bệnh tật và cái chết của mẹ, nhưng không sao bộc lộ cảm xúc đó một cách tự nhiên cho được. Kể từ chiều 6/7, sau khi mẹ nài nỉ “Giết tôi đi” còn cậu chạy trốn khỏi phòng bệnh, một phần trái tim cậu đã đóng băng. Dù là lúc ở Tokyo nhận tin dữ, hay khi về quê đối diện với thi hài mẹ; dù là ở đám tang hay khi hỏa táng, trong khi họ hàng buồn bã khóc lóc, Kawaminami đều không thể rơi nước mắt, mặt mày vô cảm. Không phải cậu kìm nén nỗi lòng, mà không khóc được thật.

Suốt bữa ăn, Kawaminami đi trò chuyện và mời rượu tất cả già trẻ gái trai, cũng tự uống khá nhiều. Cơn say giúp cậu vơi bớt muộn phiền nhưng không phá băng được trái tim cậu, mà chính cậu cũng chẳng muốn.

Những tiếng huyên náo va đập trong cái đầu phừng phừng cơn say của Kawaminami. “Đi sớm quá, thật là... Giờ này năm ngoái vẫn khỏe mạnh thế mà.” “Takaaki, ở Tokyo cháu sống một mình à? Nhớ giữ gìn sức khỏe.” “Con vẫn dùng cái đồng hồ quả quýt ấy hả?” “Anh trai em chưa con cái gì à?” “Cái này là di vật của ông ngoại nhỉ?” “Em không định lấy vợ hả, Takaaki?” “Tình hình ở Shimabara vẫn nguy cấp lắm!” “Lương lậu xuất bản thế nào?” “Bao giờ núi lửa mới ngừng phun trào đây.” “Takaaki, cháu phải chăm sóc ba cho tốt nhé.” “Ông chẳng thích tiểu thuyết trinh thám lắm!”...

Kawaminami nghe tai này ra tai kia, câu được câu chăng, chẳng đọng lại gì trong đầu... Giữa những thanh âm ồn ào, cậu bỗng chú ý tới một câu hỏi, “Takaaki, con biết Ám Hắc Quán không?”

Người cất giọng khàn khàn hỏi câu ấy là ông trẻ Endo Keisuke, em ruột ông ngoại đã mất bốn năm trước của Kawaminami. “Đó là một dinh thự xây trên hòn đảo giữa hồ, nằm sâu trong rừng gần làng I. Bề ngoài đen kịt, tỏa ra bầu không khí kì dị y hệt cái tên.”

Ông trẻ từng kinh doanh đồ cổ ở thành phố Kumamoto, rất thân với ông ngoại Tomishige. Chiếc đồng hồ quả quýt Kawaminami đang dùng cũng là do ông ngoại trông thấy và lấy về từ cửa hàng của ông trẻ.

“Con biết nó không, Takaaki?”

“Không ạ. Sao tự dưng ông lại hỏi chuyện này?

“Trông thấy con ông sực nhớ ra thôi.” Ông trẻ vừa xoa cái đầu hói đỏ ửng, vừa tủm tỉm cười như chờ đợi phản ứng của Kawaminami. Đã hơn bảy mươi tuổi, uống cũng khá nhiều, vậy mà ông nói năng vẫn rất rõ ràng trôi chảy. “Chuyện hai ba chục năm rồi, một bạn hàng rủ ông đi... Nghe bảo chủ dinh thự, tên là Urado thì phải, muốn thanh lý vài món đồ, hỏi ông đi cùng không, biết đâu vớ được đồ tốt.”

Thoạt nghe cái tên “Ám Hắc Quán”, Kawaminami đã thấy lòng xốn xang. Ám Hắc Quán... Ám Hắc Quán? Lẽ nào, lẽ nào...

“Ông nghe ngoại con kể..” Như nhìn thấu tâm tư Kawaminami, ông trẻ uống cạn chén rượu rồi tiếp tục. “Hồi đại học, con từng dính líu vào một vụ án khủng khiếp lắm hả, Takaaki? Có mấy đứa bạn bị giết? Ở ngôi nhà kì quái của ông kiến trúc sư nào ấy...”

Ơ, mình kể chuyện đó cho ông ngoại rồi à? Có thể lắm! Sau vụ Thập Giác Quán ở Giác Đảo, mình sa sút tinh thần, có về nhà tâm sự với ngoại cũng là lẽ dĩ nhiên, từ bé đã vậy.

"Nakamura Seiji ạ..."

“Ừ, đúng rồi.” Ông trẻ lại tủm tim cười. “Thôi uống di, Takaaki!"

Kawaminami rót rượu cạn chén với ông trẻ, xong xuôi mới e dè hỏi, “Ám Hắc Quán cũng do Nakamura Seiji thiết kế ạ?”

“Chuyện cách đây hai ba chục năm rồi, ông không nhớ rõ, nhưng đúng là ông từng nghe qua cái tên na ná thế, hoặc không…”

Mơ hồ quá! Hẳn là tại xưa cũ quá rồi, hai ba chục năm cơ mà. Song chắc chắn không phải là trùng hợp. Nghĩ đến đây, Kawaminami càng bứt rứt.

“Lúc ngoại con kể về vụ án đại học, ông sực nhớ ra dinh thự tưởng chừng đã quên từ lâu ấy. Chắc là do ấn tượng với cái tên Nakamura gì đó nên nhớ đến bây giờ. Chưa kể ở Ám Hắc Quán từng có sự cố tương tự.”

“Tương tự ạ?”

Ông trẻ gật gù “Phải” và rót đầy rượu vào chén mình, “Nghe phong thanh, ở dinh thự xảy ra mấy chuyện kinh khủng lắm... Kìa, Takaaki! Không uống nữa à?”

Đêm ấy, Kawaminami đi nằm nhưng không sao chợp được mắt, dù cả ngày đã uống rất nhiều rượu. Hình ảnh dinh thự xa lạ khoác màu đen u ám cứ hiện ra trong đầu cậu, vẹo vọ, méo mó, biến hình liên tục. Vây quanh nó là vô số gương mặt, giọng nói, cảnh vật, con chữ và cả những thứ không rõ hình thù lượn lờ, ẩn hiện. Trằn trọc đến nửa đêm, cậu sực nhớ tới Shishiya Kadomi, bèn gọi điện tới nhà anh ta ở Kaminoge, Tokyo để kể mọi chuyện. Sau hồi tút dài, đáp lại chỉ là tiếng hộp thư thoại.

Bắt đầu là những âm thanh bất thường.

Xen lẫn tiếng động cơ xe là tiếng đất rền lên hàng tràng. Kawaminami chưa kịp nghĩ gì, bầu không khí đã rung chuyển như thể có người khổng lồ cao đến mấy chục mét đang điên cuồng giậm chân.

Vô lăng mất kiểm soát, cậu đoán xe nổ lốp, rồi lại thấy không phải. Hay là vừa động đất? Đạp phanh thì bánh xe trượt đi, thân xe nảy mạnh lên. Tệ thật, mới nghĩ thế thì xe đã lao ra khỏi đường, nhảy vào rừng và xóc nảy dữ dội. Trước mắt bỗng chốc tối sầm, cậu nghiến răng, bám chặt vô lăng, cố đạp chân phanh. Xe húc mạnh rồi khựng lại.

Kawaminami nhắm nghiền mắt, tai ong ong, miệng khô khốc. Cố nuốt nước bọt mà không có gì để nuốt, đến lúc có thì lại không nuốt nổi, người mềm nhũn. Cậu thất thần vài giây rồi dè dặt hé mắt. Trước mặt là một mảng tối lờ mờ. Kính chắn gió chẳng chịt vết nứt, đôi chỗ vỡ vụn. Từ vai phải xuống ngực đau nhói, hằn dấu đai an toàn. Đưa tay trái lên tháo đại bỗng thấy xót. Giơ tay ra xem, cơn đau ập tới khiến cậu bật rên. Máu đỏ lòm, mu bàn tay có vết rạch sâu, chắc là bị mảnh kính vỡ cứa phải. Cậu nhịn đau cởi đai an toàn, xuống xe xem xét tình hình, vừa bước ra đã xây xẩm mặt mày, hẳn là do va đập nên mất cảm giác thăng bằng.

Xe chết máy. Đầu xe bên trái tông trúng gốc sồi lớn, biến dạng hoàn toàn. Sau khi trượt khỏi đường, xe lao đi một đoạn, húc vào gốc cây mới dừng lại. Đúng là ngàn cân treo sợi tóc. Phanh mà không ăn thì chẳng biết cậu còn sống không nữa. Chấn động vừa rồi là thế nào? Bánh xe vẫn bình thường, không phải nổ lốp. Kawaminami ngó quanh. Khu rừng âm u lạnh lẽo đã trở về trạng thái tĩnh lặng như chưa có chuyện gì xảy ra. Trừ tiếng côn trùng và chim rừng, bốn bề không một tiếng động kể cả tiếng gió lao xao qua đám lá. Vừa có động đất thật ư? Hình ảnh núi Unzen Fugen thoáng qua tâm trí cậu. Núi lại phun trào chăng? Nên mới dẫn tới động đất... Không thể nào. Theo lý thuyết, chuyện này không thể xảy ra, chưa kể Unzen cách đây khá xa. Nhưng vừa rồi rung chấn lại mạnh đến mức xe mất kiểm soát...

Kawaminami thở dài, cúi đầu nhìn vệt nắng xuyên qua tán cây um tùm. Cổ hơi đau, đầu đã bớt choáng váng, song bước đi vẫn loạng choạng. Nhìn chung tình hình không khả quan. Sao lại xảy ra chuyện quái quỷ này? Kawaminami tự hỏi, và lôi khăn tay trong túi sau quần bò ra để băng bó vết thương trên tay trái. Xe chắc là hỏng rồi, không khởi động được. Khởi động được cũng khó quay ra con đường ban nãy. Quay ra được cũng khó đi xa. Vậy là chỉ còn nước đi bộ? Mới nghĩ tới thời gian công sức cần bỏ ra, Kawaminami đã nản lòng.

Nản cũng phải quay ra, hi vọng gặp xe khác hay gì đấy đi qua. Xét một cách toàn diện, đây là phương án tối ưu. Kawaminami ngó quanh lần nữa rồi về xe, lấy áo khoác màu be để trên ghế lái mặc ra ngoài sơ mi. Cậu vặn chìa khóa xe. Đúng như dự đoán, xe không nổ máy. Cậu bỏ cuộc, rút chìa khóa lại không rút nổi. Nó bị kẹt cứng do bánh xe và vô lăng vẹo hẳn sang bên, không thể bẻ về vị trí cũ.

“Thật là...” Kawaminami bất lực thở dài, lại rời xe, sờ vào túi trong áo khoác và phát hiện ví mình không cánh mà bay. Cuống cuồng tìm trong xe, cậu thấy ví tiền màu nâu đậm rơi dưới chân ghế lái, cạnh đống kính vỡ, liền nhặt lên kiểm tra một lượt giấy tờ trong ví cho an tâm. Tiền, thẻ ngân hàng, bằng lái xe, thẻ nhân viên... và một tấm ảnh nhỏ, đã cũ, phai màu. Trong ảnh là hai người chụp trên nền lá đỏ, một phụ nữ đứng tuổi mặc kimono, bên cạnh là cậu bé ốm nhom ốm nhách.

Người phụ nữ cười rạng rỡ, cậu bé mím môi vẻ lo lắng. Mặt sau ảnh có dòng chữ ghi bằng bút chì: Chụp ngày 7/11/1975, sinh nhật 11 tuổi của Takaaki.

Ảnh này chụp mười sáu năm trước, Kawaminami mới lên lớp Năm, mẹ thì khoảng bốn mươi tuổi. Không nhớ ai chụp, ở đâu, hoàn cảnh khi ấy thế nào. Chiều hôm qua, cậu bắt gặp khi mở album ảnh của mẹ ra xem, bèn lặng lẽ cầm theo... Kawaminami lại thở dài, nhét ví vào túi áo trong rồi rời xe, tìm cách trở ra con đường ban đầu. Đi thẳng đường ấy sẽ tới Ám Hắc Quán, ở đó ắt có người. Thời buổi này nhà nào chẳng lắp điện thoại, kể cả vùng sâu vùng xa. Cứ trình bày hoàn cảnh rồi xin giúp đỡ, chắc không bị đuổi đi đâu. Trước hết mượn điện thoại gọi cho cứu hộ giao thông... Vậy đi, đến đâu thì đến.

Không biết cuốc bộ bao lâu mới tới Ám Hắc Quán, chỉ biết là gần hơn quay lại làng I. Đã quá 5 giờ, sập tối đến nơi rồi. Đang đắn đo suy nghĩ, chợt nghe thì thầm

Đi nào! Đi nào! Không lạc đâu. Cứ thẳng đường này sẽ mau tới thôi...

cậu bèn loạng choạng tiến bước. Tay trái đã ngừng chảy máu, chỉ hơi đau. Cổ và vài chỗ khác sây sát ở mức nhẹ, đi lại không ảnh hưởng. Được một đoạn, Kawaminami sực nhớ tới chủ tiệm tạp hóa Haga ở làng I, nhớ cảnh ông sờ lên vết sẹo trên mặt và dặn đi dặn lại, “Cẩn thận đấy!” Đồng thời, “Cẩn thận nhé, Conan,” giọng Shishiya cũng văng vẳng bên tai, nhưng lần này cậu không thể nói “Không sao đâu. Tôi đi xem một chút thôi” được nữa. Chưa biết chừng sự cố hỏng xe ban nãy là do năng lượng xui xẻo từ “Quán của Seiji” mà ra, Kawaminami bất giác nghĩ. Mình đang rơi vào một cái bẫy vô hình. Không thể quay đầu. Không thể trốn chạy. Không thể...

Sau mười lăm phút vừa đi vừa tư lự, Kawaminami bất ngờ phát hiện bên đường có một tấm biển gỗ cũ kĩ, mòn vẹt bốn góc. Tấm biển nghiêng ngả chực đổ, chắc là tại trận động đất ban nãy. Biển đề dòng chữ đỏ ngay ngắn, hơi phai màu:

Địa phận nhà Urado, Không phận sự miễn vào.

Tiếng thì thầm xa lạ kia lại cất lên, Đi nào!

Hôm qua, mãi gần trưa Kawaminami mới tỉnh giấc, người nồng nặc mùi rượu tối hôm trước. Tuy không đến mức đau đầu nôn nao vì say song cũng chẳng dễ chịu gì. Vừa dậy cậu đã gọi ngay tới nhà Shishiya ở Kaminoge, chỉ muốn mau chóng kể về Ám Hắc Quán và hỏi anh xem liệu đấy có phải dinh thự do Nakamura Seiji tham gia thi công thật không. Thế mà...

“Đây là hộp thư thoại.” Y hệt tối hôm trước, đầu dây bên kia vang lên giọng ghi âm của Shishiya. “Vui lòng để lại tên và lời nhắn. Đừng lo, kể cả đang ở ngoài tôi vẫn kiểm tra được thư thoại. Sau tiếng bíp, hãy nói ngắn gọn trong ba mươi giây.”

Tối hôm trước say quá, Kawaminami không để ý, giờ mới nhận ra có mấy cụm từ ngày thường Shishiya không dùng, như “sau đây là” hay “kể cả đang ở ngoài tôi vẫn kiểm tra được thư thoại”, chứng tỏ anh đang đi vắng xa. Nhắc mới nhớ, đợt trước anh bảo mùa thu này phải về quê, có khi đang ở Oita rồi.

Một lúc sau Kawaminami gọi thêm lần nữa, vẫn không gặp được Shishiya. Suy tư một hồi, cậu bỗng nhớ đến Kumashiro Shunnosuke, nguyên giáo sư Khoa Kiến trúc Đại học T đã về hưu. Cậu quen biết ông vào mùa hè năm ngoái, nhân vụ Hắc Miêu Quán. Kumashiro là thầy dạy Nakamura Seiji môn Lịch sử kiến trúc cận đại ở đại học, không phải môn chính của Seiji, song hai người rất hợp tính nhau. Seiji thường xuyên lui tới phòng nghiên cứu của ông, còn ghé thăm nhà ông ở Yokohama vài lần.

Sau khi tốt nghiệp về quê, rồi chuyển đến Lam Ốc ở Giác Đảo, Seiji vẫn thư từ qua lại với giáo sư. Kumashiro biết đến Hắc Miêu Quán, có lẽ ít nhiều cũng biết đến Ám Hắc Quán chăng.

Nghĩ vậy, Kawaminami lập tức gọi điện tới nhà Kumashiro ở Yamate, Yokohama. Người nhấc máy là cháu gái Hiroyo của ông. Đó là một nữ sinh cấp ba xinh xắn, đáng yêu như búp bê Nhật, đặc biệt yêu thích truyện của Shishiya. Kawaminami vẫn nhớ lần đầu họ đến nhà Kumashiro, cô bé nằng nặc xin chữ kí Shishiya, làm anh ta ngượng vô cùng.

Kawaminami vừa xưng tên, Hiroyo đã hồ hởi, “Ôi! Lâu lắm không gặp! Anh vẫn khỏe chứ? Dạo này em sắp thi nên chẳng đọc sách mấy, nhưng vẫn xem hết sách của chú Shishiya đó ạ. Ông nội dự định, sắp tới em đỗ đại học sẽ mời chú với anh tới ăn mừng” .

Một năm đã qua, cô bé vẫn vô tư như cũ, khiến Kawaminami không khỏi ghen tị. “Giáo sư có nhà không? Anh muốn hỏi thầy chút chuyện.”

“À vâng, vâng. Anh đợi chút nhé.”

Bên kia đầu dây văng vẳng tiếng gọi, “Ông ơi!” Lát sau, giọng nói cũng vẫn như cũ của Kumashiro cất lên, “Kawaminami à? Dạo này thế nào? Thi thoảng đến nhà tôi chơi. Hiroyo chưa có người yêu đâu. Tôi tạo cơ hội cho rồi mà cậu chẳng biết nắm bắt gì cả.”

“Ơ, dạ, không…” Kumashiro tuổi đã cao, tai hơi nghễnh ngãng nên nói rất to. Kawaminami cũng phải cao giọng để ông nghe thấy. “Em xin lỗi, lâu rồi không liên lạc với thầy. Lần này em gọi là muốn hỏi thăm một chuyện.”

“Ha ha, lại liên quan tới Nakamura Seiji hả?”

“Sao thầy biết ạ?”

“Không biết mới lạ đấy. Cậu muốn hỏi gì?”

Kawaminami liền kể về Ám Hắc Quán trong rừng sâu núi thẳm Kumamoto. Kumashiro vừa nghe vừa lẩm bẩm “Ừ, ừ”, xen lẫn là tiếng vò đầu bứt tai, dường như ông đang cố nhớ lại điều gì. “Hừm... Ám Hắc Quán ở Kumamoto? Đúng là Nakamura có liên quan... Ừm, chính cậu ta kể với tôi.”

“Liên quan thế nào ạ?”

“Sao nhỉ? Tham gia cải tạo thì phải.”

Đó là tất cả thông tin Kawaminami thu thập được. Còn những câu đại loại như Ám Hắc Quán trông thế nào, ai là chủ nhân, dinh thự về sau ra sao... Kumashiro đều trả lời, “Lâu quá rồi, tôi không nhớ.” Cuối cùng Kawaminami đành cúp máy cùng lời hứa đợi Hiroyo đỗ đại học sẽ qua chơi. Ít nhiều đã xác nhận được Nakamura Seiji có liên quan tới Ám Hắc Quán. Thế là đủ để cậu nhấp nhổm. Quyết đi xem sao, Kawaminami lại gọi cho ông trẻ hỏi địa chỉ dinh thự. Tối xuống, cậu gọi cho Shishiya lần nữa, đáp lại vẫn là tiếng trả lời tự động, cậu đành gửi tin nhắn, “Có một ‘Quán của Seiji’ trong rừng núi Kumamoto, tên là Ám Hắc Quán. Ngày mai tôi sẽ tới đó...”

Băng qua tấm biển, Kawaminami tiến vào “địa phận nhà Urado”. Hoàng hôn dần buông. Cây cối um tùm hai bên làm con đường càng tăm tối. Gió lặng, chim và côn trùng cũng im bặt, không gian cực kì tịch mịch. Có cảm giác mọi âm thanh, kể cả tiếng thở, tiếng bước chân đều bị sự tịch mịch ấy nuốt chửng. Kawaminami xốc áo khoác, rảo bước nhanh hơn. Lát sau gặp ngã rẽ phải, đi thêm một đoạn lại gặp ngã rẽ trái, nhưng Kawaminami đều không đắn đo, cứ thẳng đường lớn mà tiến. Chẳng rõ cậu lấy đâu ra lòng tin là đi thế này mới đúng.

Được một quãng, cây cối thưa dần, tầm nhìn rộng mở. Trời bất ngờ nổi gió, cây rừng ngả nghiêng, chim chóc hoảng hốt kêu vang rồi bay tán loạn.

Kawaminami giữ tóc cho khỏi gió thổi, đăm đăm quan sát quang cảnh trước mắt. Cách nơi cậu đứng không xa có một hồ nước nằm thấp hẳn xuống giữa rừng già. Mây đen đã tan tự khi nào, ráng chiều rực rỡ nhuộm đỏ mặt hồ lấp lánh. Giữa hồ có đảo nhỏ, quanh đảo là tường bao bằng đá trông như thành lũy. Ngôi nhà đó là Ám Hắc Quán sao? Do vướng tường bao nên trông không rõ lắm, chỉ thấy thấp thoáng bóng dinh thự đen tuyền, tách ra một quãng về bên phải dinh thự là một ngọn tháp chơ vơ.

Đường dẫn xuống hồ rẽ thành hai hướng viền quanh bờ, hướng trái có cầu tàu kéo ra mặt nước. Kawaminami liền quả quyết tiến sang trái. Đầu cầu tàu là một ngôi nhà vuông vức, tường đá nâu, mái bằng sơn đen, cửa lớn giáp mặt đường cũng sơn đen, bên trên cửa trổ mái hiên đơn giản. Nhìn chính diện không thấy cửa sổ, nhà trông giống quan tài đá cho người khổng lồ, nhỏ nhưng thô nặng, không hợp để gọi là “nhà” cho lắm.

“Xin lỗi?” Kawaminami gõ cửa gọi. “Có ai ở đây không ạ?”

Không nghe trả lời. Toan gõ lần nữa, Kawaminami phát hiện ra cạnh cửa gắn chuông, bèn ấn nút đỏ dưới cái loa, tiếng chuông tiếng đáp đều không thấy. Hay chuông ở đây nối thẳng ra nhà chính ở đảo? Cậu bấm chuông lần nữa, đợi mãi vẫn vậy. Chuông hỏng chăng? Hoặc...

Kawaminami vặn tay nắm, kéo đẩy thế nào cửa cũng không mở, bị khóa thì phải, cậu bèn vòng sang bên cạnh xem có cửa sổ không, thình lình khựng lại. Ngôi nhà bị sập, vỡ mất một mảng tường, vết sập còn mới. Chẳng lẽ là tại trận động đất vừa rồi? “Có ai ở đây không?” Kawaminami rón rén bước tới, nhòm vào nhà qua chỗ hở. Bên trong tối đen, không nhìn thấy, cũng không nghe được động tĩnh gì. Kawaminami vòng ra sau nhà, thấy vài cái cửa sổ, cửa chớp đều đóng im im nên vẫn không thể nhìn vào trong, cậu đành đi tiếp ra cầu tàu. Cuối cầu tàu buộc một con thuyền nhỏ, mạn trái đuôi thuyền gắn mái chèo. Xem ra chỉ còn nước chèo thuyền ra đảo. Mặt cầu xập xệ, ván đã long, một người bước cũng đủ lắc lư kẽo kẹt. Kawaminami cố giữ thăng bằng để nhảy lên thuyền. Hồi nhỏ được ông ngoại dẫn đi chơi, cậu từng ngồi thuyền giống thế này, còn nghịch ngợm khua mái chèo. Cậu chèo không giỏi nhưng vẫn đủ xoay xở. Cởi dây thừng hơi mất công, khi chèo lại thấy nhanh bất ngờ.

A... Ngắm hòn đảo chìm trong ánh chiều tà, Kawaminami bỗng hoài nghi, rốt cuộc mình đang làm gì... Hoài nghi nhanh chóng biến thành bất an, bất an hóa hãi hùng, cậu sợ đến đờ người. Tuy nhiên cảm giác ấy chỉ thoáng qua.

Thuyền lướt càng lúc càng nhanh, cảm xúc và lý trí của Kawaminami như bị hút cả xuống mặt hồ nhuộm đỏ ráng chiều... Ôi, thế này là sao? Chuyện quái gì đang diễn ra? Đây là đâu? Sao lại khó thở thế? Sao người cứ lắc lư? Sao lại thấy đau? Đây là màu gì? Âm thanh gì? Mùi vị gì? Sao mà lạnh quá?

Trôi theo ý thức vô ngã, cảm giác mơ hồ kì lạ nọ lại nổi lên, như lúc lạc giữa sương trắng trên đèo Vọng. Cảm nhận về thực tại mờ nhạt dần... Đây là đâu? Tôi đang làm gì? Trông thấy gì? Cảm thấy gì? Tôi là ai? Rốt cuộc... “tôi” là ai?

Cầu tàu bên này nằm dọc theo rìa đảo, cạnh đó neo thuyền máy. Kawaminami loay hoay cập vào rồi bước lên khỏi thuyền. Khi chân đứng vững trên cầu tàu ọp ẹp, cảm xúc và lý trí cũng dần dà quay trở về. Từ cầu tàu có các bậc đá men theo tường bao dẫn lên cổng đảo. Kawaminami mới leo vài bước đã mỏi nhừ chân, thở dốc, đành dựa vào tường nghỉ một lát. Đi hết bậc đá là cổng lớn hai cánh có vòm che đơn giản, cũng sơn đen như cửa nhà đá trong bờ. Kawaminami chống tay lên cổng, ngẩng đầu thở hổn hển. Sắc trời loang lổ như hòn than sắp tàn, bóng chim vội vã về rừng, mây tím lững lờ trôi, liên tục thay hình đổi dạng. Chẳng bao lâu nữa là trời tối.

Thình lình, cánh cổng rít lên và từ từ hé rộng. Kawaminami giật thót co rúm mình. Không có ai cả, hóa ra là tại cậu dựa vào nên cổng mở mà thôi. Thấy khoảng hở vừa người đi, Kawaminami liền lách qua, tai bỗng ong ong như bị ù... À, ra là tiếng côn trùng rả rích trong bụi cỏ.

Ám Hắc Quán rộng hút tầm mắt. Kawaminami đi theo lối nhỏ dẫn từ cổng vào khu vườn um tùm cây lá. Giữa cảnh nhập nhoạng của thời khắc giao thoa ngày và đêm, dinh thự đen thoắt ẩn thoắt hiện, gây liên tưởng đến con dơi khổng lồ nằm xoãi cánh trên đất. Kawaminami đứng lại, lôi đồng hồ quả quýt trong túi quần ra, giơ lên xem giờ. 6 giờ 7 phút chiều. Mặt trời sắp xuống núi. Xác định đi thẳng lối này sẽ tới cửa chính, Kawaminami toan bước tiếp, thình lình...

Không phải đằng đó. Tiếng thì thầm thì ban nãy bỗng văng vẳng, làm cậu dừng chân.

Đằng kia... Đến tháp!

“Đằng kia” là đâu? “Tháp” nào? Kawaminami nhìn quanh, thấy lối rẽ phải cách đó không xa, dẫn tới ngọn tháp nằm tách biệt với dinh thự.

Leo lên. Nào, leo lên tháp đi.

Ý nghĩ khác lạ ấy lớn dần, như tơ nhện giăng khắp tâm hồn, khống chế Kawaminami làm cậu không thể phản kháng, cứ thế loạng choạng bước qua lẫn ranh vô hình, thực tại càng lúc càng nhạt nhòa, tay vẫn nắm chặt đồng hồ quả quýt.

Rẽ phải, băng qua mấy bụi cây thấp, ngọn tháp đen dưới bóng chiều sừng sững hiện ra trước mắt. Tháp không tròn không vuông mà có hình đa giác đều, với các góc và cạnh tường bằng nhau. Không cần xem xét xung quanh, Kawaminami chỉ liếc qua đã biết có bao nhiêu cạnh. Mười cạnh. Tháp hình thập giác.

Cửa đôi trước mặt kia hẳn là lối vào. Cửa và tường đều sơn đen, y hệt màn đêm đang chuẩn bị bao phủ thế giới. Cậu bước tới, dứt khoát giơ tay đẩy, cửa mở ra cùng tiếng động nặng nề. Tháp đen thập giác chào đón khách tới thăm.

Bên trong tối mò. Dựa vào đường nét lờ mờ, Kawaminami dò dẫm bước lên cầu thang xoắn ốc nhỏ hẹp. Không có cửa sổ, càng lên cao bóng tối càng bủa vây làm cậu phải bám lấy tay vịn. Sau mấy vòng cầu thang, cuối cùng cũng tới đỉnh tháp. Trên này để thông sàn, không gian rất rộng rãi, bốn trên mười mặt tường trổ cửa sổ. Nương theo vài vệt sáng yếu ớt hắt vào, Kawaminami đi đến mở một trong các cửa sổ, bên ngoài là bao lơn kiểu dáng đơn giản. Trời tối hẳn. Kawaminami trèo lên bao lơn, tay trái buộc khăn, tay phải nắm chặt đồng hồ. Sàn bao lơn cọt kẹt theo chuyển động của cậu. Lan can sơn đen, cao hơn thắt lưng Kawaminami một chút.

Từ đây nhìn sang phải sẽ thấy cả quần thể kiến trúc đồ sộ màu đen, gồm bốn ngôi nhà. Ám Hắc Quán... Nơi sinh ra vọng tưởng về việc chống lại cái chết. Cây thánh giá phong ấn những tâm hồn và xác thịt không thể cứu rỗi.

Ở tầng hai ngôi nhà ngoài cùng, có cửa sổ đang mở. Một bóng người vận đồ nâu đứng ở đấy, sau lưng là ánh đèn vàng của căn phòng. Đàn ông thì phải, đang nhìn sang tháp. Người ta có trông thấy mình không nhỉ? Kawaminami nhoài người khỏi lan can. Đúng lúc ấy...

Như thể có ai sắp đặt, mặt đất rền vang kèm rung lắc đột ngột. Lan can cọt kẹt, tháp đen ngả nghiêng. Kawaminami mất thăng bằng, hoa mắt chóng mặt, vô thức giơ tay phải đỡ trán, làm rơi đồng hồ quả quýt đang chỉ 6 giờ rưỡi. Chân nam đá chân chiêu, cậu ngã nhào khỏi bao lơn, không kịp tóm lấy lan can, người cứ thế rơi thẳng xuống...

Nhưng “điểm nhìn” bay lên. Không gian bỗng nhiên rộng mở. Ánh sáng chớp tắt và màn đêm vô tận đan xen. Đất trời quay cuồng đảo lộn... Cơ thể theo lực hút rơi vù vù, “điểm nhìn” lại bay xoáy lên cao theo hình xoắn ốc.

Từ trên cao nhìn xuống, hồ nước nhỏ giữa rừng trông giống hệt vết chân thú, có đủ năm ngón và gót chân như người. Chẳng trách dân trong vùng gọi là “Dấu chân Người Vượn”.

“Điểm nhìn” quay cuồng, khung hình bắt được lúc rộng lúc hẹp, lúc nhanh lúc chậm, cuối cùng đáp xuống hòn đảo ở “gót chân” hồ. Nơi đây có dinh thự hắc ám đang tối dần theo thời khắc nhập nhoạng và miễn cưỡng chào đón “màn đêm”, thứ nó vốn thuộc về. “Điểm nhìn” tiếp tục rơi nhanh dưới chiều tà, hướng tới cửa sổ duy nhất đang mở ở tầng hai dinh thự. Trong căn phòng sáng ánh đèn vàng có hai người đàn ông. Một người mảnh khảnh, tuổi độ đôi mươi. Người còn lại cao hơn, cũng lớn tuổi hơn. “Điểm nhìn” chui vào phòng, hòa vào ánh mắt của thanh niên bên cửa sổ.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 240

Đang tải bình luận...