Quán (Bộ 7 Tập)

Chương 5 Tiệc đỏ

Chương 5 Tiệc đỏ

Chương 5

Tiệc đỏ

Chúng tôi quay lại Nhà Đông đúng lúc Noguchi từ dãy phòng nghỉ kiểu Nhật đi ra tiền sảnh.

“Bác sĩ!” Genji gọi lớn rồi rảo bước lại gần. Tiếng bước chân chìm lấp dưới hồi chuông điểm 10 giờ tối của chiếc đồng hồ quả lắc ở góc tiền sảnh. Chờ chuông lặng hẳn, Genji mới hỏi. “Thanh niên kia thế nào rồi ạ?”

“Cậu ta ngủ rồi.” Noguchi từ tốn vuốt chòm râu hoa râm. “Đừng lo quá. Đúng như chẩn đoán của cậu, không gặp nguy hiểm đến tính mạng, cũng không gãy xương. Chủ yếu là sây sát ngoài da, và vài ba vết bầm. Vết thương bên tay trái và cục u sau đầu đều không nghiêm trọng. Tóm lại chưa phát hiện điểm gì bất thường.”

“Tốt quá.”

“Ngã từ tháp xuống mà chỉ như thế thôi thì phải công nhận cậu ta rất may mắn.”

“Vâng. Mà cậu ta đã tỉnh chưa ạ?”

“Ban nãy tỉnh lại một lần.”

“Cậu ta có nói gì không?”

Noguchi chun cái mũi tròn đỏ ửng, “Không. Cậu ta mở mắt nhưng chẳng nói gì cả, có lẽ còn choáng vì cú ngã.”

“Trông cậu ta có đờ đẫn không?” Genji hỏi tiếp. Tự dưng tôi nhớ lại tình trạng của mình lúc mới tỉnh dậy trong phòng bệnh cách đây năm tháng.

“Có.” Xốc lại chiếc hòm nặng trịch, Noguchi ngoảnh nhìn về dãy phòng nghỉ. “Mặt mũi thẫn thờ, cử động chậm chạp. Hừm... Đúng là đờ đẫn. Nhưng vẫn hiểu được lời chúng tôi.”

“Cậu ta bày tỏ được ý mình à?”

“Cậu ta lúc lắc đầu lúc tôi hỏi thấy thế nào, đau ở đâu. Không có vẻ chóng mặt hay buồn nôn. Chắc muốn nói mà không diễn đạt thành lời được. Hẳn là vẫn quá kinh hãi.”

“Bác còn hỏi gì nữa không?”

“Tôi còn hỏi, cậu nhận ra đây là đâu không, cậu ta lắc đầu.”

“Nhân thân tên tuổi thì sao ạ?”

“Tôi hỏi rồi.” Noguchi chỉ nói thế, và lắc đầu. “Bác có giải thích tình hình cho cậu ta không?”

“Không. Với tình trạng đó, giải thích cũng vô ích. Tuy không bị thương nặng, cậu ta vẫn mệt nhọc. Cứ để nghỉ ngơi đi, tôi đã cho dùng thuốc bổ và an thần, phải đến sáng mai cậu ta mới tỉnh.”

“Vậy ạ?” Genji thở dài, lục túi ngực lấy thuốc lá đưa lên miệng, dáng vẻ bứt rứt, rõ ràng muốn mau chóng xác định lại lịch thanh niên. Kí ức năm tháng trước lại ùa về. Nhìn tình cảnh hiện tại, tôi có thể mường tượng tâm trạng Genji lúc tôi nằm viện. Anh châm thuốc rồi nhả một làn khói tím. “Chuẩn bị sắp xếp cho cậu ta nhập viện chưa ạ?”

“Với tư cách bác sĩ, tất nhiên tôi sẽ khuyên mau đưa người bị nạn đi bệnh viện kiểm tra tổng quát.” Noguchi vuốt vuốt chòm râu. “Nhưng tình trạng cậu ta không đến nỗi cấp bách. Cứ theo dõi thêm rồi tính tiếp.”

“Có cần báo cảnh sát không?”

“Hả? Cảnh sát á?” Noguchi hỏi lại, giọng thoáng bối rối, chân mày điểm bạc nhíu lại. “Cũng được. Người lạ đột nhập còn gặp tai nạn, đúng lý thì nên báo, nhưng…”

“Ý bác là hỏi ba đã?”

“Ừ. Cậu hỏi qua Ryushiro xem thế nào.”

Urado Ryushiro là cha Genji, chủ nhân hiện tại của Ám Hắc Quán, chủ tịch tập đoàn Phượng Hoàng nhà Urado, một tập đoàn kinh doanh nhiều ngành nghề với quy mô toàn quốc. Mặc dù sống ẩn dật trong núi nhưng ông vẫn nắm quyền kiểm soát tuyệt đối.

“Cháu sẽ hỏi.” Genji khẽ nói rồi ngước nhìn gương mặt đỏ gay của bác sĩ. “Tâm trạng ba thế nào?”

“Không tốt lắm.” Giọng Noguchi hơi trầm xuống. “Tôi đến chơi mà anh ấy còn biếng nói biếng rượu này.”

“Ba cháu đang bực gì à?”

“Không.” Noguchi lắc đầu, đôi má phúng phính lúc lắc theo. “Gần đây tâm trạng anh ấy khá thất thường, dễ sa sút tinh thần. Cũng phải thôi.”

“Vâng.” Genji cân nhắc một hồi, “Dù sao cũng phải đến mai cháu mới nói với ba về thanh niên kia được. Bác không quen cậu ta thật a?”

"Ừ."

“Chị Shinobu có nói gì không?”

“Không. Nếu biết, cô ấy đã bảo rồi.”

“Hừm. Chẳng ai biết cậu ta. Hay để mọi người tới nhận diện nhỉ? Mà thôi, mai tính.” Nói đoạn, Genji lôi trong túi quần ra sợi dây đồng hồ màu bạc, “Cháu tìm thấy thứ này. Bác có ấn tượng gì không?” Đó là chiếc đồng hồ quả quýt rơi trên bao lơn tháp Thập Giác.

“Không.” Noguchi quả quyết đáp.

“Thanh niên kia đánh rơi lúc ngã lầu đấy. Mặt sau khắc kí tự ‘T.E.’”

“T.E à...” Noguchi lẩm bẩm, cái cổ ú nần nghiêng nghiêng.

Genji cất đồng hồ vào túi, quay sang nhún vai với tôi.

“À mà, người trẻ tuổi này là ai thế?” Noguchi thình lình nhìn thẳng vào tôi.

Tôi vội đứng ngay ngắn lại.

“A! Quên giới thiệu.” Genji vẫy tay về phía tôi. “Đây là Chuya, bạn cháu. Đang học năm nhất, cùng Đại học T, tình cờ quen nhau mùa xuân vừa rồi. Một tài năng xuất chúng đấy ạ.”

“Chuya à? Hửm, giống tên nhà thơ nhỉ.” Noguchi lập tức chỉnh lại cái áo choàng nhăn nhúm phủ ngoài cơ thể đồ sộ và tiến một bước tới gần tôi.

“Không, cháu…”

Tôi chưa kịp giải thích, Noguchi đã tươi cười chào hỏi, “Chào cậu. Tôi là Murano.”

“Murano?” Tôi bất giác hỏi lại. “Ơ, không phải Noguchia?” Noguchi cười phá lên, “Ha ha. Tôi họ Murano, tên Hideyo. Cha mẹ tình cờ đặt cho tôi cái tên trùng với một vĩ nhân.”

Murano Hideyo? Vĩ nhân ở đây hẳn là tiến sĩ Noguchi Hideyo nổi tiếng về ngôi nhà nghiên cứu bệnh sốt vàng da. Kể cả thế, tại sao... Liếc sang Genji, thấy anh ngậm điếu thuốc mới và cười tủm tỉm, tôi sực hiểu, khẽ à một tiếng.

“Genji hồi nhỏ hay gọi tôi là ‘bác sĩ Hideyo, bác sĩ Hideyo’. Tự dưng vào một ngày nọ, cậu ấy gọi tôi là ‘bác sĩ Noguchi’.”

Quả nhiên, từ xưa Genji đã thích đặt biệt hiệu lung tung cho mọi người.

“Dù sao tên họ cũng chỉ là kí hiệu nhận dạng, tôi không để ý lắm. Sau Genji, dần dà người trong nhà đều gọi tôi là Noguchi cả, cậu gọi theo cũng được.”

“À, vâng.”

“Chuya học kiến trúc đấy ạ. Cậu ấy kể rằng từ hồi cấp ba đã hay đi đó đây thăm thú các công trình theo phong cách phương Tây, cháu bèn mời cậu ấy về chơi.”

Noguchi gật gù ậm ừ, “Cậu học năm nhất, tức là mới mười tám mười chín thôi nhỉ?”

“Cháu tròn 19 tuổi vào tháng Năm vừa rồi ạ.”

“Trẻ thật. Thế mà trông chững chạc quá!”

“Cảm ơn bác.”

“Dinh thự này...” Noguchi đảo mắt nhìn quanh, từ tường tới trần đen kịt. “Hừm, quả thật nơi này rất đáng tham quan, vừa cổ kính vừa độc đáo.”

“Mới ngắm Nhà Đông cháu đã phấn khích rồi.”

“Phấn khích... Ha ha, cảm nhận thú vị đấy.”

“Vậy ạ?”

“Trước đây từng có người nhận xét giống cậu. Phấn khích.” Anh ta đứng ngoài cửa, ngẩng đầu ngắm cái bóng đen thui của dinh thự rồi nói thế.” Noguchi nheo mắt vuốt râu, hơi thở phảng phất mùi rượu.

“Người ấy là ai ạ?”

“Ám Hắc Quán xây từ đầu thế kỉ 20, sau đó còn cơi nới trùng tu vài lần. Genji kể với cậu chưa?”

“Rồi ạ.” Tôi liếc Genji. Anh khẽ gật đầu, điếu thuốc vẫn trên môi.

Noguchi tiếp tục, “Trong các kiến trúc sư từng phụ trách tu bổ dinh thự có một người khá kì quặc. Hôm anh ta đến, tình cờ tôi cũng có mặt ở đây ấy, đúng hôm ấy...”

Ông ta thốt lên là phấn khích à? Tôi sinh ra hứng thú với kiến trúc sư kia. Kì quặc là kì quặc thế nào chứ. Tôi đang đắn đo xem có nên gạn hỏi không thì Noguchi chợt quay đi, nặng nề bước tới chỗ Genji.

“Này,” Ông hạ giọng, xem chừng không muốn tôi nghe thấy. “Đêm mai là Đêm Dahlia đấy. Có sao không?”

Đêm Dahlia? Lần đầu tôi nghe đến từ này.

“Ba cháu biết rồi.” Genji cũng hạ giọng. Không phải do tôi nhạy cảm, mà quả thật bầu không khí đang thoải mái bỗng thành ra bí hiểm.

“Ồ.” Giọng Noguchi nhỏ hơn nữa. “Kể cả thế...”

Đúng lúc này, Shinobu từ phía hành lang phòng nghỉ bước ra. Genji và Noguchi ngừng thì thào, bầu không khí bí hiểm biến mất.

“Hơi muộn rồi, nhưng mọi người lót dạ chút gì chứ?” Shinobu hỏi Genji. “Tôi mang bữa tối lên phòng ăn nhé?”

“Vâng. Nhờ chị.” Genji lặng lẽ tách ra xa Noguchi. “Chuya đói rồi nhỉ. Trưa nay, lúc trên xe cậu gặm mỗi bánh mì. Bác sĩ ăn luôn cùng bọn cháu không?”

“Thôi. Vẫn sớm, lát nữa tôi ăn.” Noguchi làm động tác đưa tay lên uống rượu. “Isao đang mòn mỏi đợi tôi sang uống tiếp bên phòng khách Nhà Bắc kia kìa.”

“Ba cháu…”

“Về phòng rồi.”

“Vậy ạ.”

“Thế thôi, tôi đi trước đây.” Noguchi quay sang dặn Shinobu. “Thanh niên kia tạm thời không đáng ngại, nhưng chẳng may có chuyện gì phải gọi tôi hoặc Tsuruko ngay. Nhờ cô nhé.”

“Vâng.”

Noguchi đổi hòm từ tay trái sang tay phải, quay gót lên hành lang dẫn sang Nhà Bắc.

Ám Hắc Quán gồm bốn nhà ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Phân bổ đại khái là, Nhà Đông dành cho khách, Nhà Bắc cho gia đình Urado, Nhà Nam cho người làm.

“Thế còn Nhà Tây?” Tôi hỏi.

“Là biệt thất của chủ nhân Ám Hắc Quán, nơi ở hiện tại của ba tôi.” Genji đáp. “Cụ Genyo, chủ nhân đời đầu cũng từng ở đó. Ông ngoại Takuzo thì qua đời trước khi trở thành chủ nhân đời thứ hai. Nhà Tây còn có tên là Nhà Dahlia, theo một nghĩa nào đó là trung tâm của dinh thự, nhưng mọi người thường gọi nôm là Nhà trong, đối trọng với Nhà ngoài, tức Nhà Đông.”

“Dahlia?” Nghe tới cái tên này, tôi lập tức phản ứng. “Chính là... ban nãy...”

“À.” Genji nhếch môi cười. “Cậu nghe thấy tôi với bác sĩ nói hả?”

“Tôi nghe lõm bõm mấy chữ Đêm Dahlia. Là đêm gì vậy?”

“Một đêm đặc biệt. Đêm mai luôn này.”

“Đặc biệt đến mức người ngoài không nên xuất hiện?”

“Ừm, có thể nói thế.”

“Đáng lẽ tôi không nên hỏi...”

“Đừng lo. Ban nãy tôi có nói với bác sĩ là ba biết cậu đến mà.”

“Liệu có sao không?”

Genji ngừng cười, trấn an, “Tôi từng kể với cậu rồi, trong nhà này và trong cả gia tộc Urado, ba tôi nắm quyền tuyệt đối. Ba đã đồng ý thì không ai dám phàn nàn đâu, dù cậu ở đây vào Đêm Dahlia hay đêm nào đi nữa.”

Dù Genji đã đảm bảo, tôi vẫn không hồn nhiên đến mức lập tức an tâm. Cuối tháng trước, Genji kể nhà anh ở quê là một dinh thự mang phong cách phương Tây khá kì lạ, tên là Ám Hắc Quán. Nếu thích tôi có thể đi với anh về tham quan. Anh còn nói ba anh cũng thiện chí mời tôi tới chơi. Vì thế chúng tôi thống nhất tháng Chín thi xong học kìI sẽ cùng về. Mặc dù cuối tháng Chín mới kết thúc kì thi, nhưng trước 20 là tôi hoàn tất các môn bắt buộc, còn Genji ngay từ đầu đã chẳng mặn mà thi cử nên đề nghị, “Hay sang tuần triển luôn,” và hào hứng lên kế hoạch cụ thể.

Anh rời Tokyo về nhà trước. Tôi thi xong, lập tức lên tàu đi Kyushu, chiều qua tới nhà nghỉ anh đặt sẵn ở thành phố Kumamoto. Tầm tối, anh lái xe tới gặp, cùng ở trọ một đêm, sáng sớm nay mới chở tôi về Ám Hắc Quán. Tôi không hề biết ngày mai, 24/9 là ngày đặc biệt với nhà Urado. Genji biết thừa mà vẫn cố tình dẫn tôi tới. Càng nghĩ càng ngờ vực và bất an, việc tôi nghe lời Genji, nuông chiều chút tò mò của bản thân để đến đây có phải là sai lầm không? Tôi chậm chạp ngẩng lên hỏi, “Genji! Dahlia là...”

Đang dợm bước về phía hành lang mà Noguchi vừa đi qua để sang Nhà Bắc, Genji ngoái lại, “Đợi tôi chút nhé. Bao giờ bữa tối chuẩn bị xong, chị Shinobu sẽ báo, cậu qua phòng kia trước đi.” Anh chỉ cửa đôi sơn đen ở phía Bắc, tính từ cửa chính vào thì nó nằm bên phải tiền sảnh. “Đó là phòng chờ, đi tiếp vào trong là phòng khách kiểu Tây. Cậu cứ đợi tôi ở đấy.”

“Thế còn anh?”

“Tôi đi gọi cho bác Hiruyama hỏi chuyện con thuyền.”

“Gọi bằng cách nào?”

“Điện thoại nội bộ. Hồi xưa phải liên lạc bằng cách đánh chuông cơ. Giờ tiện hơn nhiều rồi.”

Genji sang Nhà Bắc, tôi quay lên phòng nghỉ dành cho mình ở tầng hai để lấy bao thuốc bỏ quên.

Túi du lịch vốn nằm trên ghế đẩu giờ lăn lóc dưới sàn, hẳn là tại trận động đất ban nãy. Thuốc lá tôi để trên bàn nhỏ đầu giường, bên cạnh là gạt tàn chứa đầu mẩu thuốc và một que diêm cháy dở. À phải, sau khi cất hành lý, tôi có ngồi xuống giường, hút điếu thuốc. Lúc ấy là hơn 5 giờ chiều. Đã hơn năm tiếng đồng hồ trôi qua. Chà, thế là nhanh hay chậm? Tự dưng tôi đâm ra băn khoăn, dù đây không phải điều gì đáng kể.

“Phòng chờ” mà Genji bảo là phòng kiểu Tây, rộng chừng 16 m2. Sàn lát gỗ và sơn đen, toát ra cảm giác lạnh lẽo. Ngoài cửa tôi vừa đi vào, còn hai cửa thông sang nơi khác. Cửa đơn bên trái phòng, và cửa đôi ở cuối phòng giống cửa tôi vừa đi. Genji chỉ dẫn “đi tiếp vào trong”, vì thế tôi cứ đi thẳng đến cuối phòng.

Mở cửa ra, dĩ nhiên lại là một căn phòng đen. Đen từ trần, tường, sàn cho tới cửa sổ hai lớp kính-chớp đang đóng im im. Lò sưởi bên trái phòng làm bằng đá đen. Riêng tấm thảm trải giữa phòng lại đỏ thẫm giống thảm trong phòng nghỉ tầng hai của tôi.

Đen với đỏ... Đỏ như máu.

Trên thảm là bộ sofa bọc da màu đen. Tôi ngó quanh một lượt rồi ngồi xuống sofa. Khác với tiền sảnh pha tạp, phòng khách này và phòng chờ bên cạnh đều Tây đặc, y như thể tiền sảnh Nhà Đông là ranh giới chia dinh thự ra làm hai nửa, nửa Nam kiểu ta, nửa Bắc kiểu Tây.

Chùm đèn trần không lung linh lấp lánh gì, thiếu giá trị trang trí. Ánh đèn mang màu cam yếu ớt càng làm không gian tù mù hơn. Không chỉ phòng này mà toàn bộ Ám Hắc Quán, bao gồm tháp Thập Giác chúng tôi vừa leo lên, đều âm u. Tôi ngả người ra sofa. Lớp da bọc ghế truyền hơi lạnh đến sởn gai ốc, tôi lấy bao thuốc mang từ tầng hai xuống, châm một điếu. Vừa đưa đầu lọc lên miệng, vị thuốc đắng ngắt bỗng tràn vào cổ họng. Nicotin từ phổi ngấm dần vào máu, làm tôi chóng mặt, người tê dại.

“Thứ đà khô héo, là trái tim này.” Tôi vô thức lẩm nhẩm câu đầu bài thơ

Cơn mê

của Nakahara Chuya.

Người ngợm sao bẩn thỉu thế kia?

Giọng nói bất ngờ văng vắng bên tai, làm tôi nhớ về những ngày xa xưa, nhớ một người không thể gặp lại.

Nghịch cái gì nữa đấy hả? Con là anh cơ mà...

“Thứ đà khô héo...” Không đúng. Nó chưa khô héo mà vẫn nằm ở đó, ngay trong tầm tay, với ra là chạm tới. Cho nên tôi mới nhớ và nghe thấy giọng nói ấy.

Sao lại tự tiện vào nhà người ta hả...

Lời mắng hơn mười năm trước ùa về trong kí ức.

Chẳng may có chuyện gì thì sao?

Gương mặt, cử chỉ, mùi hương... Mọi điều ở chủ nhân giọng nói chưa hề thay đổi, từ dáng vẻ khi dịu dàng khi dữ dội, lúc gần gũi lúc cách xa, cho đến bản chất tưởng phức tạp hóa ra đơn thuần ấy. Thình lình lửa đỏ tàn khốc bùng lên chực nuốt chửng tất cả.

“Á!” Tôi thở hổn hển, chớp mắt lia lịa. Ngọn lửa cháy rực càng lúc càng dữ, càng lan rộng, như thể hiện hữu ngay trước mắt, bập bùng trên góc tường bên phải. À không, lửa vốn dĩ ở đó, không liên quan tới lửa trong đầu tôi. Chong mắt quan sát thật kĩ, cuối cùng tôi nhận ra là tranh treo tường. Một bức tranh sơn dầu cỡ 81×116 cm đóng khung đen.

Trước khi ngồi xuống, tôi đã cẩn thận đảo mắt quanh phòng, không hiểu sao lại không thấy bức tranh kia. Khung tranh đen như chìm vào nền tường, mặt tranh hòa cùng sắc đen ấy. Tranh vẽ một đường chéo to bản màu xanh tím pha xám chạy từ góc phải trên xuống góc trái dưới. Ngắm kĩ sẽ thấy đường chéo ấy giống tấm ván đang trôi nổi giữa màn đêm, có một đường bạc mỏng xuyên qua theo chiều từ trên xuống dưới, gợi nhớ đến tia sét. Góc phải tranh vẽ cánh tay trái màu xám, giống như tay người vươn lên đỡ lấy tấm ván. Ngoài cánh tay, chỉ còn một chi tiết tả thực nữa là con chim trắng xòe cánh bay ở góc trái. Rìa cánh chim có vài chấm đỏ nhỏ xíu rớt xuống. Dưới góc phần tư bên phải là một mảng đỏ lòm không rõ hình thù oằn oại thoát ra khỏi màn đêm sâu thẳm. Góc tranh ấy vừa tăm tối vừa lung linh, vừa thu mình vừa hùng tráng. Màu sắc ma quái của nó chính là “ngọn lửa” bập bùng tôi vừa thấy. Tuy nhiên xem lại bố cục tranh và quan sát cho kĩ, thì không giống lửa lắm nữa.

Khó hiểu thật. Rốt cuộc thì chủ đề tranh và ý đồ của họa sĩ là gì? Tác phẩm của danh họa nào đây?

Tôi đứng dậy, tiến đến gần và nhận thấy bên dưới “ngọn lửa” bập bùng trong đêm ấy là chữ kí nguệch ngoạc. Tôi gí sát mắt vào, mãi mới đọc ra được năm kí tự La tinh: Issei.

Chị Shinobu vào báo bữa tối đã chuẩn bị xong, tôi bèn rời phòng khách sang phòng ăn. Genji ở Nhà Bắc chưa quay lại. Phòng ăn kiểu Tây khá rộng rãi, giáp với mặt Tây phòng chờ. Giữa phòng trải thảm đỏ và kê bàn ăn dài bằng gỗ xoan. Đồ ăn đã dọn sẵn ra hai đầu bàn.

“Xin lỗi để cậu đợi lâu.” Tôi an tọa một lúc thì Genji bước vào, uể oải nói và đi tới đầu bàn đối diện. “Trước tiên ta cứ ăn đã. Tay nghề đầu bếp nhà chúng tôi khá lắm, cậu thưởng thức xem.”

Ở đây ngoài Tsuruko và Shinobu, còn có người làm khác nữa ư?

“Anh liên lạc với bác Hiruyama chưa?”

Genji đang trải khăn ăn, nghe tôi hỏi liền dừng tay, ỉu xìu đáp, “Đường dây trục trặc thì phải.”

“Không gọi được à?”

“Ừ. Không hẳn là mất kết nối, nhấc ống nghe lên vẫn có âm thanh lạo xạo... Chẳng rõ đầu dây bên kia có đổ chuông không. Chắc động đất làm nhiễu sóng”

“Không ai nghe máy à?”

"Ừ."

“Bác Hiruyama kia, hình như không khỏe. Không khỏe phải nằm nghỉ, không dậy nghe điện được chăng?” Tôi nói, trong đầu hiện lên dáng lưng gù lặng lẽ lái thuyền của bác gác cổng. Từ lúc bước ra khỏi ngôi nhà ven hồ cho đến khi đưa chúng tôi lên đảo, bác không mảy may hé răng, trừ phi trả lời Genji. Tôi chào hỏi, bác cũng chỉ cau có gật đầu.

“Lúc nào bác ta cũng khó đăm đăm. Tại còi xương đấy. Người mắc bệnh ấy đều như vậy cả.”

“Còi xương là do thiếu vitamin phải không?”

“Do nhiều nguyên nhân, chủ yếu vẫn là tại thiếu hụt hoặc chuyển hóa kém vitamin D. Vì thế cớm nắng không tốt đâu.”

“Cớm nắng…” Tôi bất giác nhìn quanh. Phòng ăn có mỗi một dãy cửa sổ kính mờ nhỏ xíu, cửa chớp đen đóng kín mít. Dù ngoài trời có nắng chói chang, trong phòng vẫn tối om om.

Tôi chưa kịp cất tiếng, Genji đã nói, “Cậu muốn hỏi, có phải bác Hiruyama như thế là tại sống ở dinh thự không hả? Cậu nhầm đấy. Mười sáu năm trước, bác ta đến đây làm thì đã thế rồi.”

Mười sáu năm trước Genji 11 tuổi, nhớ là đúng rồi.

“Hơn nữa, Chuya này...” Genji trải khăn ăn lên đùi. “Những người sinh ra và lớn lên ở đây, bao gồm tôi, không ai gù hết. Dù thực sự chẳng ưa nắng nôi, nhưng đâu có nghĩa là từ bé chúng tôi chỉ ru rú trong bóng tối. Trường hợp lý tưởng thì thế, cũng không biết là phúc hay họa...”

“Trường hợp lý tưởng?” Tôi thấy khó hiểu vì cách diễn đạt lạ lùng. “Nghĩa là sao?”

“Tóm lại, bác Hiruyama có nghe điện hay không thì trưa mai vẫn phải sang đây ăn cơm, lúc đó hỏi chuyện con thuyền cũng được. Vấn đề giờ chỉ là phải giải quyết thanh niên kia thế nào thôi.”

“Anh thưa chuyện với ba chưa?”

“Chưa. Ba đi nghỉ rồi, đành để mai nói. Ăn xong chúng ta cũng nghỉ ngơi thôi.”

Nếp sinh hoạt của Genji ở Tokyo thuộc kiểu cú đêm. Tôi vốn hay thức khuya dậy muộn mà vẫn không so được với anh. Anh thường thức thâu đêm tới sáng bạch mới ngủ. Lần này về quê, thói quen ấy lại thay đổi. Đêm qua ở nhà nghỉ Kumamoto, anh lên giường từ lúc 1 giờ sáng.

“Ăn nào, đồ ăn nguội hết rồi.” Genji thử một thìa xúp đặc quánh, hài lòng khen ngon.

Tôi bắt chước anh, cầm thìa gỗ màu nâu đặt bên phải đĩa lên. Đúng là ăn xúp nóng thì nên dùng thìa gỗ hơn thìa kim loại. Trong lúc tôi còn ăn chậm vì sợ bỏng, Genji đã ăn xong.

Bộ đồ ăn chỉ có thìa và một đôi đũa màu đen, không thấy dao dĩa gì. Mặc dù bữa tối chủ yếu là món Âu, ví dụ cốt lết chiên xù, nhưng đều được cắt sẵn thành miếng vừa miệng nên chẳng cần tới dao dĩa.

Genji không hề nói quá về tay nghề đầu bếp, món nào cũng ngon. Ăn được một lúc, bụng tôi bắt đầu lưng lửng. Genji đang thoải mái nhâm nhi rượu vang. Vì anh mời, tôi có uống một chút, tửu lượng kém nên ngà ngà say, mặt đỏ bừng bừng ngay. Tôi hỏi Genji, “Bức tranh sơn đầu trong phòng nghỉ trông lạ nhỉ. Còn kí tên ‘Issei’ nữa. Nó là thế nào vậy?”

“À!” Genji vừa rót rượu vừa đáp, “Là tác phẩm của danh họa Fujinuma Issei. Cậu biết ông ấy không?”

“Không.”

“Issei là họa sĩ hư ảo khá nổi tiếng, thích vẽ tranh phong cảnh trừu tượng. Từng được nhận xét là thiên tài có khả năng tái hiện ảo ảnh vô cùng độc đáo. Ba rất quý ông ấy. Ngày xưa từng mời tới nhà chơi mấy lần. Trong dinh thự còn vài tác phẩm khác của Issei. Bức treo ở phòng nghỉ tên là Tiệc đỏ.”

Tôi lặng lẽ gật đầu. Vậy là ngọn lửa ở góc phải dưới là chỉ bữa tiệc? Tôi tiếp tục nhâm nhi rượu, đầu óc vẫn quẩn quanh với lửa đỏ rừng rực của quá khứ xa vời và lửa đỏ bập bùng trong tranh. Cuối bữa, Shinobu mang cà phê và hoa quả tráng miệng lên. Trong thời gian chúng tôi dùng bữa, chị vẫn ra vào vài lần để phục vụ. Dọn dẹp bát đĩa trên bàn xong, chị định rời đi thì Genji gọi lại, “À, chị Shinobu! Cậu Rikichi đi suốt từ hôm qua chưa về à?”

Đây là lần đầu tôi nghe tới cái tên Rikichi.

Shinobu dừng tay, “Hình như thế.”

“Cậu đi đâu, chị biết không?”

“Tôi không rõ. Ông ấy có báo tối nay sẽ về.”

Shinobu rời khỏi phòng ăn, Genji liền cầm khăn ăn trên đùi lên lau miệng, đôi môi nhợt nhạt trên gương mặt tai tái trở nên hồng hào lạ kì. Tôi cho đường vào cà phê, vừa khuấy vừa nghĩ... Genji nhắc đến “cậu Rikichi”, Noguchi lúc trước nhắc tới “Isao”... Rốt cuộc dinh thự này có bao nhiêu người?

Genji chủ động giải thích, “Người tên Rikichi ấy, tôi gọi là cậu, nhưng không phải anh em ruột của mẹ tôi đâu.”

“Chắc vẫn có quan hệ thân thích chứ?”

“Ừ, cứ cho là thế đi. Nhà tôi nhiều họ hàng xa lắm, gọi chung là ‘gia tộc Urado’.” Giọng Genji không mấy vui vẻ. “Bà ngoại tên là Sakura, con gái độc nhất của nhà Urado. Ông ngoại Takuzo phải ở rể và lấy họ vợ. Cậu Rikichi là con của em gái ông. Tên đầy đủ là Suto Rikichi.”

“Con của em gái ông...” Tôi lẩm nhẩm, cố mường tượng trong đầu phả hệ nhà Urado. “Ơ, khoan! Bà ngoại anh là con gái độc nhất nhà Urado... suy ra ba anh cũng ở rể?”

“Phải, ba cũng ở rể và lấy họ vợ. Người mẹ quá cố của tôi tên Kanna. Mẹ là con đầu lòng của bà Sakura...”

Ông Takuzo và bà Sakura không sinh được con trai ư? Hay con họ mất sớm?

“Nhân tiện, Isao là con trai của cậu Rikichi với vợ trước.”

“Chú ấy tái hôn?”

“Ừ, với một phụ nữ trẻ hơn rất nhiều. Cậu xấp xỉ tuổi ba, đã ngoại ngũ tuần mà vợ sau mới độ ba mươi. Mợ tên Kayako, một mỹ nhân thành thị, cảm giác là người toan tính.”

“Isao có phải người ban nãy bác sĩ nhắc tới không?”

“Phải. Mẹ với cậu Rikichi là anh em họ nên tôi và Isao cũng thành anh em họ. Giờ này chắc nó đang chén tạc chén thù cùng bác sĩ trong phòng khách Nhà Bắc. Nó là nghệ sĩ tự phong, kém tôi ba tuổi. Nghiện rượu và thường xuyên say xỉn. Hợp tính bác sĩ lắm.”

“Nhà Suto bình thường vẫn sống tại Ám Hắc Quán à?”

“Không.” Genji lắc đầu. “Nhà họ ở Fukuoka. Cậu Rikichi điều hành mấy công ty con quanh khu vực ấy, thường viện cớ thăm ba để đến đây, dẫn theo con trai và vợ. Lần này họ tới dự Đêm Dahlia...”

Lại Đêm Dahlia? “Sao anh biết chú Rikichi ra ngoài chưa về?"

Genji chậm rãi nâng tách cà phê không đường không sữa, nhấp một ngụm rồi nhăn mũi đưa điếu thuốc lên miệng. “Họ lái xe tới đây từ ba hôm trước. Hôm qua cậu Rikichi ra ngoài một mình. Lúc tôi rời nhà không thấy xe cậu ở bãi đỗ. Hôm nay chúng ta về, vẫn không thấy xe đâu nên tôi đoán cậu chưa về.”

Tôi gật gù, nhớ lại bãi đỗ xe bên hồ.

“Giờ mà còn chưa về thì...” Genji lẩm bẩm, đăm chiêu nhìn mảng tường trên lò sưởi. Nơi đó treo chiếc đồng hồ cổ hình lục giác, có viền gỗ đen và mặt số màu trắng sữa. Hai kim đồng hồ đang gần như trùng nhau, cùng hướng thẳng lên trên. Đã tới nửa đêm, tiếng chuông nhẹ nhàng, trong trẻo. Nối theo là âm thanh trầm đục của đồng hồ quả lắc ở tiền sảnh.

“Chà, Chuya!” Genji uống nốt cà phê rồi đứng dậy. “Cậu muốn tắm bồn không? Để tôi sai người đun nước.”

“Muộn rồi, tối nay tôi xin kiếu.”

“Thế nghỉ ngơi thôi. À quên...” Genji dúi điếu thuốc vào gạt tàn trên bàn. “Sáng ra nhà tôi dậy muộn, cậu dậy trước mà đói thì bấm nút này...” Anh chỉ vào bức tường cạnh cửa ra tiền sảnh. Dưới bảng công tắc đèn bằng gỗ là một tấm biển khác y hệt với nút tròn đen lồi ở chính giữa. “Chuông bên Nhà Nam sẽ reo vang, người làm nào chạy sang thì cậu bảo người ta chuẩn bị bữa sáng cho.”

“Thật ra cũng không cần lắm. Tôi có hay ăn sáng đâu.”

“Phòng tôi trên tầng hai Nhà Bắc, có gì... À không, tốt nhất cậu đừng nên đi loanh quanh một mình. Cứ ngoan ngoãn ở Nhà Đông chờ tôi dẫn cậu đi thăm thú.”

“Anh lo tôi lạc à?”

“Ừ, có khả năng đấy. Nơi này có con quái vật đầu bò ăn thịt người đáng sợ lắm.”

“Vậy nhờ anh chuẩn bị giúp tôi cuộn chỉ.” Tôi thản nhiên đáp khiến Genji cười khùng khục.

Tôi gặp tai nạn tối 20/4. Sau ba tuần tá túc tại nhà Genji ở Hakusan, tầm hạ tuần tháng Năm thì khôi phục kí ức, không phải khôi phục toàn bộ một lúc mà là dần dần, cũng không phải nhờ tác động trực tiếp nào như gặp người quen hay chấn thương vùng đầu lần nữa. Nói là thế, song cũng không phải không có nguyên do.

Khoảng thời gian ở cùng Genji, tôi hầu như không ra khỏi nhà. Hễ ra là bị anh trêu chọc, bắt đội mũ phớt mặc áo choàng đen. Nhưng tôi ru rú trong nhà không phải vì ghét trang phục ấy, mà vì không khoái đi lang thang. Dĩ nhiên Genji đã từng đưa tôi quay lại hiện trường tại nạn gần vườn thực vật Koishikawa. Anh chỉ tận nơi tôi bị đụng xe, chỗ tôi ngã úp mặt xuống rãnh, tuy nhiên điều đó chẳng gợi lên trong tôi chút cảm giác nào. Một thời gian ngắn sau, chúng tôi tới hiện trường lần nữa và kết quả vẫn vậy. Tuy nhiên hôm ấy tôi để ý thấy cờ cá chép tung bay trong sân nhà dân sống gần đó. Đã qua 5/5, cờ cá chép hết nhiệm vụ, đáng lẽ phải cất vào kho rồi chứ. Bỗng dưng tôi thấy khó chịu. Trong gió ấm, cờ cá chép phấp phới, bóng theo ánh chiều tà đổ xuống mặt đất trông như sinh vật kì lạ ở thế giới khác.

“Sao thế Chuya?” Genji hỏi, ngó theo hướng tôi đang nhìn. “Cậu để ý thứ kia à?”

Tôi không đáp, chỉ kéo sụp vành mũ rồi bước đi. Trong đầu văng vẳng giọng trẻ con ê a.

Nhấp nhô hàng ngói, nhấp nhô đụn mây...

Bài đồng dao quen thuộc dịp tết Đoan Ngọ 5/5.

Đến chịu với thằng bé này.

Ba hình bóng quái dị phất phơ theo gió. Sâu trong phòng khách tối tăm.

Con trai gì mà...

Màu đen bóng của bộ áo giáp. Mùi sắt lạnh lẽo. Mùi nước thủy xương bồ thoang thoảng đầy hoài niệm, phảng phất trên phố nhuộm ánh hoàng hôn.

Mấy hôm sau, vào buổi tối, Genji nhâm nhi rượu vang ở phòng khách như thường lệ. Tôi cũng ở đó, lơ đãng xem ti vi. Thình lình có tiếng còi hụ vọng vào. Xe cứu hỏa. Mà không chỉ một xe. Chúng tôi còn đang đoán xem hỏa hoạn ở đâu thì tiếng còi càng lúc càng gần và cứ inh ỏi sát bên... Có hỏa hoạn ở khu này. Thậm chí đường này.

“Ra xem không?” Genji hỏi. “Nhỡ cháy to lan cả sang sang đây thì chết dở.”

Tôi và Genji lao ra ngoài. Ngôi nhà cách chúng tôi mấy căn đang cháy phừng phừng. Với hướng và sức gió lúc ấy, không thể loại trừ khả năng lan lửa. Xe cứu hỏa đỗ la liệt trên đường, đèn báo đỏ rực. Đám đông tò mò xôn xao. Lính cứu hỏa bắt đầu phun nước. Genji không biết sợ, chạy về phía đám cháy. Tôi hoang mang đuổi theo.

Lửa hừng hực xé tan màn đêm. Dù có dập được lửa, chỉ e ngôi nhà cũng đã cháy rụi. Người sống trong nhà thì sao? Lính cứu hỏa cố giữ một phụ nữ tầm ba mươi mặc đồ ngủ đang gào khóc để chị ta khỏi xông vào.

“Trong nhà còn trẻ con.” Genji lên tiếng, giọng thản nhiên đến mức lạnh lùng. “Khổ thân. Cháy lớn thế kia chắc không cứu được.” Nói xong, anh hít một hơi thật sâu.

Tôi bất giác liếc sang Genji. Hai sắc đỏ của lửa và đèn xe cứu hỏa hắt lên gương mặt nhợt nhạt mà bình thản lạ kì của anh. Liệu có khi nào nhìn ngọn lửa dữ dội trước mắt, anh lại liên tưởng tới thứ khác? Ý nghĩ này bỗng nảy ra trong đầu tôi. Bởi, tôi cũng vậy. Dường như trong khoảnh khắc đối diện ngọn lửa rừng rực ấy, cánh cửa dẫn tới miền kí ức ngỡ đã đóng lại của tôi dần dần mở ra. Tôi còn nghe thấy cả tiếng kèn kẹt của cửa sắt hoen gỉ. Chưa kịp định thần thì lửa đã phụt ra qua khe hở giữa hai cánh cửa. Giờ tôi mới vỡ lẽ. Đây là kí ức của tôi. Kí ức bị về nhiều năm trước. Một đêm nào đó, tôi từng chứng kiến ngọn lửa đỏ rực xé toạc màn đêm, hệt như cảnh tượng trước mắt...

Không được lại gần.

Tiếng ai quát ngay bên cạnh.

Nguy hiểm! Lùi lại mau!...

Có lẽ vụ hỏa hoạn ở Hakusan là một trong những yếu tố giúp tôi phục hồi trí nhớ. Tuy nhiên tôi không nhớ ra toàn bộ ngay lập tức, thế nên mới bảo “không phải khôi phục toàn bộ một lúc mà là dần dần”. Hôm sau, rồi hôm sau nữa... Kí ức của tôi sống lại theo thời gian. Tôi nhớ ra tên tuổi, quê quán. Nhớ rằng mình vừa tốt nghiệp cấp ba ở quê, đang học khoa Kiến trúc cùng trường đại học với Genji. Hiện đang trọ tại Sendagi. Tôi nhớ được gia đình và bạn bè. Cha tôi thuộc dạng giàu có trong vùng, mẹ tôi đã mất từ lâu, tôi còn có cậu em kém ba tuổi. Ngoài ra, mười chín năm trước, tôi sinh ra vào đúng tết Đoan Ngọ. Mỗi ngày, tôi lại nhớ ra đôi chút.

Cứ như vậy, tới hạ tuần tháng Năm tôi đã nhớ lại gần hết, trừ lúc gặp tai nạn. Tôi rời Hakusan, trở về phòng trọ ở Sendagi. Genji đưa tặng cuốn sách làm quà chia tay. Đó là một tập thơ của Nakahara Chuya, trong ấy có bài

Cơn mê

. Tôi quay lại trường, giải trình cụ thể sự tình, đăng kí tín chỉ bắt buộc và chăm chỉ lên lớp. Tôi chỉ lỡ bài vở một tháng nên học đuổi cũng không vất vả, kết giao thêm kha khá bạn bè cùng khóa, thi thoảng tham gia tiệc tùng này nọ, uống rượu làm ồn như bao người.

Tôi cũng thường xuyên tới nhà Genji. Sau thời gian ở chung, tôi đem lòng quý mến và coi anh như người thân. Có lẽ anh cũng vậy, luôn chào đón tôi tới chơi, thậm chí còn rủ rê “Hay cậu trả phòng trọ, dọn qua đây ở cùng tôi”. Do dự một hồi, tôi vẫn từ chối, bởi mỗi lần ở đấy, tôi đều thấy lòng giăng sương mờ hệt như quãng thời gian mất trí nhớ. Lớp sương trắng xóa, lạnh lẽo khó tả, tưởng chừng làm nhạt nhòa cả thực tại xung quanh. Thế mà tôi lại thấy sảng khoái khác thường. Vì vậy...

Genji vẫn gọi tôi là “Chuya” như trước. Biệt thự luôn đóng cửa chớp ở Hakusan vẫn tối om ngay cả giữa ban ngày. Chúng tôi tán gẫu với nhau không biết chán. Genji từng nói thấy một phần của anh trong tôi, dù tôi đã lấy lại trí nhớ, suy nghĩ ấy của anh vẫn không thay đổi. Mối quan hệ tiếp tục như vậy. Xuân qua hè tới, cho đến cuối tháng trước, lúc vừa qua Hạ chí...

“Trong núi sâu vùng Kyushu có dinh thự mang cái tên rất lạ là Ám Hắc Quán.” Genji chợt kể với tôi. Bấy giờ tôi không hay biết đó là nhà cha mẹ anh. “Dinh thự kiểu Tây, rất độc đáo, không tìm thấy ở đâu khác. Thế nào Chuya? Có hứng đi xem không?"

Tôi tạm biệt Genji, quay về phòng mình trên tầng hai Nhà Đông, thay sang bộ yukata được chuẩn bị sẵn, xong xuôi thì đã 12 rưỡi đêm. Cứ ngỡ đặt lưng xuống là ngủ được luôn, ai ngờ lại tỉnh như sáo. Người thì mệt nhọc mà tinh thần rạo rực. Kéo chăn lên, nhắm mắt mãi vẫn trằn trọc, tôi đành ngồi dậy, bật đèn ngủ ở đầu giường, uống chút nước trong chiếc bình trên bàn nhỏ bên cạnh rồi châm thuốc lá. Thong thả hút hết điếu thuốc, tôi đứng lên ra cửa sổ, muốn hít thở khí trời.

Cửa sổ phòng tôi là kiểu kéo lên xuống, giống các cửa sổ khác trong nhà. Cửa lắp kính mờ nên dù đang ban đêm thì từ bên ngoài cũng không nhìn rõ trong phòng. Tôi ghé mặt lại gần, khẽ thở ra, mặt kính mờ liền xuất hiện lớp hơi nước mỏng. Tôi áp má vào đó. Cảm giác mát lạnh dễ chịu vô cùng.

Phòng tôi nằm trên hành lang phía trong tầng hai Nhà Đông. Cửa sổ mở ra hướng Tây, tức là nhìn xuống sân Ám Hắc Quán. Tôi kéo cửa kính lên, đầy nhẹ cửa chớp. Không khí ẩm ướt pha hương cỏ cây tràn vào phòng. Vòm trời giăng kín mây, khoảnh sân không một ánh đèn... Đêm mù mịt đến rợn người. Chỉ có gió vi vút và lá cây xào xạc.

Ngôi nhà bên kia sân, thẳng hướng cửa sổ phòng tôi nhìn ra hẳn là Nhà Tây, tên khác là Nhà Dahlia. Tôi nheo mắt, cố quan sát xem hình dạng nó thế nào, nhưng không thể. Trước mắt tôi chỉ có màn đêm đen đặc, không trông thấy gì. Mà ngay cả khi có ánh sáng lọt ra từ các ngôi nhà khác thì...

Gió thổi rất mạnh, mạnh hơn nhiều lúc tôi và Genji tới tháp Thập Giác và ra cầu tàu. Trở trời rồi, không biết thời tiết sẽ thế nào? Dĩ nhiên tôi muốn phác họa được thật nhiều trong thời gian ở đây nên chỉ mong trời không mưa.

Tôi cứ đứng bên cửa sổ, đối mặt với đêm đen. Mắt đã thích nghi với bóng tối mà vẫn không thể nhìn rõ khoảnh sân và các nhà xung quanh. Chỉ thấy bóng tối vô tận. Chỉ thấy màn đêm đen đặc. Chỉ thấy...

Đột nhiên... Một linh tính lạ lùng lướt qua tâm trí tôi. Linh tính gì đây nhỉ? Dường như mọi thứ tồn tại trong Ám Hắc Quán đều méo mó. Có vết nứt vô hình ở đâu đó. Một phần trật tự thế giới đang lung lay... Ôi! Thật không biết diễn tả thế nào... Cảm giác này... Phải chăng tôi đang bị thứ gì rình rập?

Tôi bất giác nín thở, đảo mắt nhìn quanh. Thứ gì mới được chứ? Rình rập tôi ở đâu? Có khi nào đang đứng ngay sau lưng tôi không. Đột nhiên tôi sinh nghi, sắp xảy ra chuyện gì chăng...

Linh tính trôi qua rất nhanh. Có lẽ màn đêm quái dị trước mắt làm tôi gặp ảo giác hoặc rối trí trong chốc lát. Tôi hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh rồi toan đóng cửa chớp, đúng lúc ấy... Có tiếng lạch cạch sau lưng. Tiếng gió lùa ư? Không, có vẻ là... Lại lạch cạch.

“Ai đấy?” Tôi quay phắt ra, cất tiếng hỏi. Dưới ánh đèn ngủ mờ ảo, cửa phòng đang he hé lập tức sập vào.

“Ai đấy? Genji à?” Tôi chỉnh lại vạt áo yukata và rảo bước tới cửa, thò đầu ra ngoài ngó nghiêng quan sát thì thấy có bóng trắng nhạt ở góc ngoặt cuối hành lang bên trái. Phải chăng là kẻ vừa mở cửa nhìn trộm vào phòng tôi? Chần chừ một lúc, tôi mới hô to “Đợi đã!” rồi vùng chạy ra hành lang mờ tối trải thảm đen. “Ai vậy? Tìm tôi làm...” Tới góc ngoặt, tôi sững sờ nín lặng. Rẽ sang vài mét là hết đường, vậy mà không thấy bóng dáng ai cả. Kẻ kia tàng hình à? Cuối lối ngoặt là tường đen, không có cửa sổ. Xung quanh không có chỗ nấp. Kẻ kia biết tàng hình thật sao? Chuyện như vậy lẽ nào lại xảy ra...

Đến đây, tôi mới phát hiện ở bên phải hành lang, gần sát bức tường chặn đường, có một cánh cửa đen. Kẻ kia trốn vào đó chăng? Nghĩ đoạn, tôi bước ngay tới, gõ nhẹ lên cửa. Không thấy trả lời. Tôi run run xoay tay nắm. Cửa mở ngay.

Bên trong tối đen như mực. Tôi lần mò trên tường và tìm thấy công tắc. Nhờ ánh đèn lờ mờ, tôi nhận ra đây cũng là phòng nghỉ kiểu Tây, nhỏ hơn phòng tôi nhiều song bài trí tương tự. Có giường, bàn nhỏ và ghế đẩu. Có cả cửa sổ kéo lên xuống đang đóng chặt... Không trông thấy ai, cũng không có cảm giác ai đấy đang trốn ở đây. Tôi cẩn thận kiểm tra cửa sổ. Cửa chốt chặt.

Chuyện gì thế này? Đầu óc tôi rối bời. Lẽ nào tiếng động ban nãy, cánh cửa đóng lại, bóng trắng ở góc ngoặt hành lang, tất cả đều do tôi tưởng tượng? Còn không thì kẻ kia thực sự đã tàng hình? Nhưng... chắc chắn từng có chuyện gì đó xảy ra trong dinh thự này... Không thể nào, đúng là tôi tưởng tượng rồi. Tại mệt quá đấy thôi.

Ngoài trời, gió thổi càng lúc càng mạnh. Dù không đứng gần cửa sổ vẫn nghe rõ tiếng gió thét gào, tôi đưa tay day trán và lúc lắc đầu. Về giường nào. Phải ngủ cho bằng được. Biết đâu những chuyện xảy ra nãy giờ chỉ là mơ. Đúng. Thế là tốt nhất.

Liếc nhìn bức tường chắn lối lần nữa, tôi chầm chậm xoay gót rời đi.

Giao đoạn 1

Rời khỏi “tôi” đang chìm trong mộng mị, “điểm nhìn” trốn ra ngoài nhà. Giữa đêm đen u tối, nó lại bay vút lên trời. Khung cảnh dưới “điểm nhìn” lúc gần lúc xa, hối hả rồi thong dong, liên tục xoay vần không theo quy luật nào. Nó vượt qua mọi quy tắc như thể bị thao túng bởi thứ gì đó không thuộc về thế giới này.

Dòng thời gian trôi ngược lại mấy tiếng trước. Từ dinh thự u ám xây trên đảo nhỏ giữa hồ cùng cánh rừng bao quanh, dẫn ra đường mòn nhỏ lẩn khuất trong bóng chiều chạng vạng. Dưới bóng chiều ấy, một cậu bé tầm mười hai mười ba tuổi đang loạng choạng bước xuống con dốc hiểm trở. Cậu mặc sơ mi dày dặn màu trắng, khoác áo gió màu chàm, đầu cạo trọc đội mũ bóng chày đen, vai đeo ba lô màu kaki, giày và quần lấm lem bùn đất.

“Điểm nhìn” nhập vào cậu bé đang đăm chiêu bước trên đường, hòa theo dòng thời gian của cậu.

23/9. 17:30.

Cậu bé dừng chân, đưa tay lên xem giờ. Đồng hồ đeo tay này là quà bố tặng để chúc mừng cậu lên cấp hai vào mùa xuân năm nay. Xem xong cậu thất vọng than thở, “Ôi trời!” Sao lại thành ra thế này cơ chứ! Theo kế hoạch ban đầu thì bây giờ cậu đã đạt mục đích và lên đường về làng I rồi mới phải. Vậy mà...

Nghĩ nhiều vô ích. Cậu hiểu song vẫn không thể ngừng nghĩ ngợi. Sáng nay, lúc rời khỏi nhà, cậu báo với gia đình là mình đi leo núi quanh đây với mấy người bạn. Tuy áy náy vì đã nói dối, nhưng ngại bị mắng nên không thể nói thật. Người lớn đâu hiểu cuộc phiêu lưu hôm nay có ý nghĩa với cậu nhường nào. Ai ngờ...

Cậu bé lau mồ hôi trán và ngẩng đầu. Bầu trời vẫn xám xịt, phủ đầy mây đen, chẳng thấy mặt trời đâu. Gió mang theo hơi nóng ẩm. Chắc sắp trở trời. Cậu bé thở hắt ra, cúi nhìn xuống chân. Con đường hiểm trở mọc đầy cỏ dại, khắp nơi là nước đọng do cơn mưa rả rích mới tạnh hôm qua. Ngoài ra có hai vết bánh xe khá mới. Giờ chỉ còn cách dựa vào vết bánh xe mà đi thôi. Không về làng được nữa, xét cả thời gian và điều kiện thực tế, đi tiếp là hợp lý nhất. Vết bánh xe này là của chiếc ô tô đen vượt lên cậu một tiếng trước. Bấy giờ, cậu bé vừa qua đèo Vọng sau một hồi chật vật mò mẫm trong màn sương trắng dày như ở thế giới khác. Lâu và mệt hơn tưởng tượng, cậu vừa nén nỗi bất an lớn dần trong lòng, vừa tiến bước trên đường núi ngoằn ngoèo. Thình lình có xe chạy tới. Cậu bé vội nấp sau cái cây bên đường. Không có gì đáng sợ mà cậu lại phát hoảng, chẳng kịp quan sát người trong xe. Người đó cũng không để ý thấy cậu thì phải. Chiếc xe đen phóng vụt qua cùng tiếng động cơ khe khẽ. Cậu bé chắc mẩm xe tới dinh thự, vì thế chỉ cần theo vết bánh xe...

Quay đầu liếc con đường vừa đi qua, cậu bất giác rùng mình. Bây giờ đã quá muộn, đường thì xa và cậu cũng chẳng còn sức về làng. Không quay lại được nữa, cứ tiến lên đi. Phải tin rằng bám theo vết bánh xe là con đường duy nhất dẫn tới “dinh thự bên kia đèo của nhà Urado”. Không còn cách nào khác. Cậu bé bước tiếp.

Bao giờ mặt trời lặn? Một tiếng hay nửa tiếng nữa? Dù thế nào thì thời gian cũng khá eo hẹp. Cậu mong sẽ tới được đâu đó trước khi trời tối. Đồng thời... giả sử cậu tìm thấy dinh thự, người ta có giúp cậu không? Có cho cậu vào nhà không? Nghĩ tới đây, cậu chợt chùn bước.

Cấm qua đèo Vọng.

Đó là câu căn dặn mà bất cứ đứa trẻ làng I nào cũng được nghe ít nhất một lần.

Cấm qua đèo Vọng. Không được vào khu rừng bên kia đèo hay bén mảng tới gần hồ nước và dinh thự.

Sinh ra và lớn lên ở làng, từ lúc có nhận thức cậu bé đã phải nghe không biết bao lần lời răn đe như nguyền rủa ấy, nhất là từ bà nội.

Trên hòn đảo giữa hồ là dinh thự nhà Urado. Đừng đến gần. Biết chưa? Không được tự tiện tới đó, tai họa khủng khiếp sẽ giáng xuống đâu.

Sáng nay cậu đã phá vỡ cấm kị, một mình rời làng, vượt đèo tới Dấu chân Người Vượn, nhằm chiêm ngưỡng tận mắt dinh thự nhà Urado xây trên đảo nhỏ giữa hồ. Đây chính là nội dung cuộc phiêu lưu.

Bà nội từng nghiêm khắc nhấn mạnh đó là nơi trú ngụ của hắc ám. Nhưng khi cậu hỏi hắc ám là gì thì bà không đáp, chỉ lắc đầu với vẻ sợ hãi. Như vậy, liệu những người trong dinh thự có giúp cậu không? Dù thấp thỏm, cậu cũng chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài đi tiếp. Xuống dốc rồi đi thêm một lúc, cậu chợt nhận ra điều bất thường. Vết bánh xe đột ngột ngoặt sang trái, lao ra khỏi đường và biến mất.

“Ơ?” Cậu bé thốt lên. Sao lại... Chưa kịp suy đoán, cậu đã trông thấy... Nằm giữa đám cỏ um tùm đổ rạp là chiếc xe đen lấm lem bùn đất. Đầu xe cắm vào gốc sồi lớn, thân khuất trong bụi cây.

“Tai nạn...” Là do tài xế mất lái lao vào rừng? Đơn giản là sự cố lúc lái xe? Không, không thể. Vô số cảnh tượng hiện lên trong đầu cậu bé. Núi rừng rung lắc dữ dội kéo theo tiếng rền vang dị thường. Giống như quái thú cổ đại bị đánh thức sau giấc ngủ dài. Do trận động đất ban nãy chăng? Xe băng qua cậu không bao lâu thì động đất mà.

Cậu bé e dè bước tới gần chiếc xe chết máy giữa rừng âm u. Xe hư hỏng khá nặng, đâm thẳng vào gốc sồi. Dòng xe thì cậu không biết, song vẫn nhận ra là xe năm chỗ. Mui xe nát tươm, kính chắn gió vỡ vụn, văng tung tóe. Cửa sổ cũng nứt toác. Lần đầu cậu trông thấy tai nạn xe ở cự li gần, lại là vụ nghiêm trọng nhường này. Cậu bé nhòm vào ghế lái, không thấy ai. Mảnh kính vỡ vương vãi khắp nơi. Đôi chỗ còn bết máu. Băng ghế sau chỉ có cái chăn màu xám. Chống một tay vào cửa xe, cậu hoang mang ngó quanh. Làm sao bây giờ? Ở đây vắng tanh, tức là người lái đã bỏ xe hỏng lại, đi bộ tới dinh thự kia nhỉ?

Cậu bé toan rời đi thì phát hiện có thứ gì vàng vàng dưới chân, bèn nhặt lên. Đó là hộp diêm nhỏ màu vàng, hình chữ nhật dèn dẹt. Lắc lắc thì thấy tiếng động. Bên trong còn que diêm. Biết đâu thứ này lại có ích. Nghĩ đoạn, cậu nhét hộp diêm vào túi quần rồi đứng dậy, ngó quanh lần nữa...

Giữa rừng âm u đang tối dần, có một thứ thu hút sự chú ý của cậu bé. Thứ đó nằm không xa chiếc xe, lấp ló trong cỏ ướt, hoàn toàn lạc quẻ với cảnh vật, toát ra cảm giác xui xẻo làm người ta khó chịu, ghê sợ, chỉ chực tránh xa. Gì thế nhỉ? Mặc dù không muốn tới gần, cậu bé vẫn vô thức nhích lại, mỗi bước đi nặng trĩu những linh tính chẳng lành.

“Ááá!” Linh tính đúng rồi. Đó là một người đàn ông nằm sấp, tay chân co quắp dị dạng, đầu như quả dưa vỡ bê bết máu, cổ ngoẹo sang một bên, nọng cằm đầy mỡ, cái mũi tẹt cùng cái miệng khép hờ đều tím tái. Mắt ông ta mở thao láo vô hồn.

Người này là ai? Chưa thắc mắc xong, nhận thức ập đến, cậu hoảng sợ hét toáng, chấn động cả rừng chiều.

“Điểm nhìn” như bị thanh âm ấy đẩy bật ra, bay vút lên trời.

4:20. 24/9.

Trong màn đêm, cậu từ từ mở mắt. “Điểm nhìn” lập tức nhập vào cậu.

Không gian tối đen như mực. Đã tỉnh mà chưa trông thấy gì. Đầu óc mơ màng, toàn thân tê dại, nhưng thi thoảng vẫn cảm nhận được cơn đau nhói lên. Cố cất tiếng mà không ra lời. Không phải cậu muốn gọi ai, đơn thuần chỉ định nghe giọng mình và xác nhận bản thân vẫn sống...

Mình đang ở đâu? Cậu nhúc nhích đầu ngón tay phải, chạm vào lớp nệm ấm áp. Mùi chiếu cói thoảng qua. Mình đang nằm ngủ trên nệm trong phòng trải chiếu của nhà nào thì phải.

Cậu cử động thêm đầu ngón tay trái. Cơn đau nhói lên ở mu bàn tay. Bị thương chăng? Tại sao mình lại ở đây? Tại sao mình... Mình? Một câu hỏi lớn đột nhiên xuất hiện. Mình... Rốt cuộc... Cậu bất giác ớn lạnh. Tại sao? Mình... Tên mình là...

Tâm trạng bỗng nôn nao khó chịu, cậu lần mò từng hồi ức bằng tâm trí mơ màng, và chỉ tìm được những miếng ghép đứt gãy, cỗ máy công nghệ cao gỉ sét, công thức toán học rời rạc. Rồi cậu thấy mình đứng lẻ loi thơ thẩn bên bờ cát vắng. Có thứ gì chìm nổi giữa những con sóng xô bờ. Cậu vươn tay với lấy nhưng sóng bất ngờ kéo nó đi...

Không nhìn thấy, không nói được. Chỉ lắng nghe âm thanh yếu ớt vọng tới từ đêm đen thẳm sâu. Ý thức của cậu lại chìm xuống vực tối như vật thể trôi mất lực nổi. Ở góc tối ấy, giữa những con sóng dập dềnh có một thứ kì lạ nhấp nhô. Nó là mảnh vỡ của miếng ghép hình từ đâu dạt tới. Miếng ghép chứa đựng cả hình ảnh và âm thanh.

Người phụ nữ nằm trên giường bệnh.

Gương mặt, cảm xúc, giọng nói... Mẹ.

Thoắt cái, “điểm nhìn” rơi xuống “tôi” của hiện tại.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 242

Đang tải bình luận...