Ông Trăm Tuổi Tái Xuất Và Giải Cứu Thế Giới

Triều Tiên

Triều Tiên

Triều Tiên

Rõ ràng cụ Allan rốt cuộc đã có một kế hoạch gì đó rồi. Hơn nữa, cả Julius cũng góp một tay giúp thu thập những gì cần đến. Nhưng chỉ một phần thôi.

Trong phòng ăn sáng hôm sau, Allan tìm thấy một hộp nhựa có nắp đậy đựng đầy muỗng cà phê bên dưới bàn phục vụ. Cụ dốc hết các thứ bên trong ra bàn để lấy cái hộp. Người phục vụ nghe thấy tiếng loảng xoảng liền chạy vào hỏi cụ làm gì.

Allan bèn bảo Julius hối lộ cho người ấy cái bật lửa bằng vàng mà bác chôm được của tay quản lý khách sạn hồi ở Bali.

“Tôi đâu có chôm," Julius cãi trong lúc nhanh chóng lấy lòng người phụ nữ nọ. “Nó chẳng may lọt vào túi tôi thôi"

Allan không muốn bắt đầu tranh luận dài dòng về định nghĩa của thói tắt mắt. Thay vào đó cụ quay ra dặn dò cô nhân viên phục vụ đang mừng húm: “Làm ơn đổ đầy vào đây bột yến mạch thập cẩm và sữa rồi đậy nắp cho thật kín, sau đó đưa lại cho cái ông vừa tặng cô chiếc bật lửa nhé."

Người phụ nữ trẻ thôi nhìn bóng mình trên món đồ mới và chạy vụt đi.

“Bột yến mạch với sữa hẳn là thứ cuối cùng người tài xế của chúng ta muốn có trên xe đấy," Julius nói.

“Ta hiểu nhau đấy,” Allan nói.

Cái món này là để đẩy tài xế ra khỏi xe. Cả Allan lẫn Julius đều không đủ cơ bắp để nhấc anh ta ra, chưa kể hai điều chắc chắn là: một, tài xế không bao giờ tự nguyện rời khỏi xe; hai, anh ta sẽ không chở họ ra sân bay, bất kể họ có nài nỉ thế nào.

Bộ trưởng Ngoại giao Wallström đến ngồi với họ. Bà cầm một tách cà phê và một cái bánh sừng bò đến đứng bên bàn hai người đàn ông, nói rằng mình đang vội. Hộ chiếu ngoại giao đã xong như đã định. Bộ trưởng đưa chúng cho hai người trong một cái gói giấy.

“Xin cảm ơn bà bộ trưởng,” Allan nói. “Mấy giờ thì khởi hành? Hôm nay chúng tôi có vài việc phải lo. Biết sớm một chút cũng không hại gì.”

Bộ trưởng ngoại giao cũng đang nghĩ vậy. Kim Chính Ân đã báo rằng cuộc hẹn sắp tới không chỉ là lần gặp cuối, mà bà sẽ phải rời đi ngay trong chiều hôm đó.

“Tóm lại là ông ta không muốn làm việc với tôi. Trái ngược với Tổng thống Trump, người của ông ấy đã ra lệnh cho tôi đến giải thích vài việc. Sân bay chốt thời gian cất cánh cho máy bay của tôi vào lúc 15 giờ 30."

“Hôm nay luôn?” Julius lo lắng hỏi.

“Tổng thống Mỹ muốn giải thích cái gì?” Allan hỏi.

“Tôi không thể loại trừ khả năng là ông có thể được nêu tên, ông Karlsson ạ."

Bộ trưởng có vẻ buồn. Julius cảm thấy tội nghiệp bà. Nhưng hơn hết bác thương cho cái thân mình.

“Tôi nói rồi, 15 giờ 30," bộ trưởng nói. “Hi vọng các ông có mặt.” Bà không chắc sẽ gặp lại hai ông Jonsson và Karlsson lần nữa.

Julius cũng thế. “Hôm nay à?” bác nhắc lại. “Làm thế quái nào chúng tôi có đủ thời gian..."

“Thôi nào, Julle," Allan nói. “Việc này có thể thành hoặc không. Tôi khó mà nghĩ ra được một lựa chọn nào khác. Nào, đã 9 giờ rồi, chúng ta có việc phải múa may đấy. Nhớ cầm theo bột yến mạch. "

“Tên tôi đâu có phải Julle," Julius hậm hực.

*

Người gác ở cổng nhà máy plutonium tuân thủ những hướng dẫn trực tiếp và cụ thể. Bất cứ ai ra vào đều được đối xử như nhau.

Vào ngày thứ hai, Karlsson và Jonsson xuất hiện, mỗi người diện một chiếc áo choàng mới. Người gác kiểm tra hết các túi và các ngóc ngách nhưng không tìm thấy gì đáng chú ý.

Ngoài ra, Karlsson còn mang theo cái vali, bên trong có một cái gói bạc cùng xấp tài liệu đầy công thức viết tay.

”Cái gì thế này?” người gác hỏi về các công thức.

“Đây chính là tương lai hạt nhân của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vinh quang,” Allan nói.

Người gác sợ sệt nhét mấy tờ giấy trở lại cặp. “Còn đây?”

Anh ta cầm cái gói lên.

“Mấy thứ đồ tắm rửa ấy mà," Allan nói thành thật. “Gói lại làm quà cho Ông Kỹ Sư. Nhưng làm ơn đừng cho ông ấy biết - phải để ông ấy ngạc nhiên một chút.”

Đúng là vừa khác thường lại vừa tầm thường đi đôi. Một đằng là tương lai đất nước, một đằng lại là... Gì nhỉ?

Người gác cho phép mình nghi ngờ. Anh ta cẩn thận tháo lớp băng dính và thấy ông già lạ lùng này đã nói thật. Trong cái hộp đen có dao cạo, kem cạo râu, xà bông, dầu gội, chất dưỡng tóc, lược, bàn chải răng và kem đánh răng. Anh ta còn mở mấy cái chai ngửi thử.

“Cậu nghĩ ông ấy có thích không?” Allan hỏi.

Kem đánh răng có mùi kem đánh răng; dầu gội có mùi dầu gội. Dao cạo rõ ràng là dao cạo.

“Tôi không biết..” người gác nói. "Đem mấy thứ chất lỏng lạ lùng này vào có đúng không nhỉ?"

“Tôi phải nhờ anh quấn nó lại như cũ,” Allan nói. “Ông Kỹ Sư đến bây giờ đấy, lúc đó thì chắc chắn là khó chịu nếu..." Và ông ta đến thật. Bực quá. “Có chuyện gì vậy? Ta phải bắt đầu từ 10 phút trước rồi mới phải chứ.”

Người gác vội vàng gói món quà lại trong khi Allan mua vui cho ông kỹ sư bằng câu chuyện người gác chẳng qua chỉ đang làm phận sự và rất đáng khen ngợi, Ông Kỹ Sư nên nghĩ đến việc thăng thưởng cho người này thôi. Như Allan thấy, người gác đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ cao hơn. Ít nhất cũng phải là đội trưởng đội gác. Nhưng như vậy thì cần tuyển thêm người gác, chứ không thì anh ta không có ai mà lãnh đạo.

Karlsson hôm nay cũng lại định nói linh tinh nữa đấy à? Không có chuyện đó đâu.

“Đi nào!”

Trong lúc Allan ba hoa, người gác đã có đủ thời gian để gói ghém lại món quà cho ông kỹ sư và đưa chiếc vali đã đóng cho chuyên gia vũ khí hạt nhân người Thụy Sĩ. Anh ta không thấy có gì phải ghi lại cả (món bột yến mạch vẫn nằm yên trên ghế sau xe). Anh ta nhìn theo Allan, Julius và ông kỹ sư hồi lâu khi họ đi vào.

Đội trưởng gác, anh ta nghĩ bụng. Nghe được đấy.

*

Ông kỹ sư đưa Karlsson và Jonsson vào phòng thí nghiệm. Sau ngày đầu tiên, ông báo cáo cho lãnh đạo tối cao rằng nhiệm vụ hút cạn vốn hiểu biết của ông già Thụy Sĩ đang tiến triển chậm nhưng đúng hướng. Nói cho cùng thì ông này đã hơn trăm tuổi; có lẽ nên để ông ấy làm theo nhịp độ của mình chăng? Lãnh đạo tối cao đồng ý. Ông kỹ sư còn năm ngày để mọi cho hết kiến thức. Như vậy xem ra vẫn còn đủ thời gian.

“Để xem nào," Allan bày các trang giấy mới viết chi chít công thức ra bàn ông kỹ sư. “Tất nhiên vào thời tôi, sự phân rã hạt nhân là đáp án cho mọi vấn đề. Hồi đó quy trình phân rã và nấu chảy giống như tay nắm lấy tay, nhưng có lẽ Ông Kỹ Sư cũng biết cả rồi.”

Ông kỹ sư lúng túng. Thông tin này đã vào loại “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mất rồi còn đâu. Thôi được, ít ra thì ông già đã đến gần những gì đáng nghiên cứu rồi.

“Đừng mất tập trung, Ông Kỹ Sư. Nếu ta đi nhanh quá là hỏng hết đấy."

Ông kỹ sư cảm thấy đoạn này lướt nhanh qua cũng có hại gì đâu nhưng quyết định nhẫn nại thêm chút nữa.

Allan nói tiếp, “Cái ta thấy trước mặt mình đây là vấn đề có thể nén được bao nhiêu uranium mà các anh đã rất thành công lấy về.”

“Cái này tôi biết rồi," ông kỹ sư nói. “Tôi cũng biết là chúng tôi đang chờ đáp án ở ông. Là các tài liệu này đấy hả?”

Allan xịu mặt. Ai mà không biết cụ đã có câu trả lời chứ? Nhưng lúc này ta cần gạt các tài liệu sang một bên đã: ông kỹ sư chẳng lẽ đã quên rồi? Allan nhắc lại rằng cụ lo nhất là học trò của mình không thể theo kịp. Trong trường hợp đó thì có tài liệu cũng chẳng để làm gì.

Ông kỹ sư nói rằng ông Karlsson không nên lo chuyện đó. Với tốc độ của cụ thì trẻ con cũng theo kịp. Về phần mình, ông kỹ sư đã lăn lộn trong ngành này cả thập kỷ nay rồi.

“Nhưng không mấy kết quả” Allan nói, rồi cụ xin lỗi. Cụ có một việc cần bàn bạc với người lái xe ở ngoài kia. “Tôi sẽ quay lại ngay, cụ nói và bước ra.”

Julius hiểu rằng chiến dịch Đại lộn xộn đã bắt đầu. Bác nhún vai ra hiệu hãy yên trí khi bắt gặp ánh mắt của kỹ sư. “Kiểu làm việc của ông ấy thế," bác nói. “Nhưng cuối cùng cũng đâu vào đấy cả."

May ra thì thế, bác nghĩ thầm.

Ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi cứ thế bước qua người gác, đủ bộ áo choàng, vali các thứ, thế là người gác nhảy bật khỏi ghế kêu to, “Dừng lại. Ông đang đi đâu đấy, ông Karlsson?”

“Đi gặp người lái xe,” Allan nói. “Có một việc quan trọng.”

Người gác đánh giá cao đề xuất thăng chức lúc nãy của ông Karlsson nhưng không thể vì thế mà cố tình xem nhẹ nghĩa vụ được. Cụ Allan lại phải chấp nhận để anh ta khám cái vali và áo choàng thêm lần nữa. Mọi thứ trong vali vẫn nguyên xi như trước đó ít phút, chỉ trừ xấp giấy ghi công thức. Thế thì được: công thức đem vào thì được, cấm đem ra.

Tài xế đang lau bảng đồng hồ bằng một miếng giẻ trắng khi Allan gõ vào cửa sổ thu hút sự chú ý. “Về khách sạn hay sao, thưa ngài. Xong rồi à?” tài xế hỏi.

“Không, tôi chỉ muốn kiểm tra lại một thứ. Trời không nóng quá chứ? Nếu thế thì quay cửa xuống một chút cho thoáng.

Tài xế nhìn ông già. “Ngoài trời đang 3 độ," anh ta nói.

“Không nóng lắm nhỉ?”

“Không” tài xế đáp.

Cái máy tính bảng đen của Allan đang đợi chủ trên ghế khách.

“Nếu cậu thích, anh tài xế Không Văn Tên, cậu có thể mượn cái này một lúc trong khi chờ đợi. Trong đó có cả hình khỏa thân đấy, tôi xem qua rồi."

Tài xế hoảng hốt bảo Allan rằng anh ta không có ý định đó.

“Thế thì thôi vậy," Allan nói, quay lại đi vào cổng. Suýt nữa thì cụ đã đi thẳng qua. Chỉ suýt thôi.

“Đưa tôi cái áo choàng, thưa ngài. Và cả cái vali nữa.”

Allan bảo cụ không lấy gì trên xe đâu, nếu cụ nhớ không nhầm, nhưng lại nói thêm anh gác cổng không nên nghe lời cụ. “Tôi nhận thấy ở tuổi mình mọi thứ cứ toàn sai khi tôi tưởng là đúng, nhưng cũng không nhất thiết là đúng khi tôi nghĩ là sai. Cứ kiểm tra những gì cậu phải kiểm tra. Cảnh giác là một đức tính tốt. Tôi biết lãnh đạo tối cao cũng nghĩ như vậy.”

Người gác lại trở nên lúng túng mỗi lần nghe nhắc đến lãnh đạo tối cao.

Trở lại phòng thí nghiệm, Allan nói: “Nghe này, tôi vừa nghĩ ra gì đó.”

“Là gì?” ông kỹ sư trưởng hỏi.

Allan có vẻ trầm ngâm một chút rồi bất ngờ tuôn một tràng như ăn cướp: “MgSO

4

-7H

2

OCaCO

3

Na

2

B

4

O

7

-10H

2

O.” Ông kỹ sư không theo kịp. “Gì cơ," ông bảo.

“Là như thế nếu ta chấp nhận gấp đôi lượng nổ. Nhưng tôi dạng tính tăng lên 10 lần."

“Nói lại lần nữa đi,” ông kỹ sư lại nài.

“Tất nhiên rồi,” Allan nói. “Nhưng ta phải làm mọi việc theo đúng trình tự. Tôi đã nói điều đó chưa nhỉ? Không thì, theo kinh nghiệm của tôi, sẽ có gì đó hỏng mất. Mà cái sảy nảy cái ung, ông có công nhận không?”

Ông kỹ sư lầm bầm rằng mình đồng ý đoạn hỏng là hỏng trong khi Julius đứng bên thì im thin thít. Bạn ông lôi những thứ ấy từ xó nào ra vậy?

Nó tất nhiên là đến từ cái máy tính bảng đen mà ra. Đối với người không biết gì (Julius) hoặc chưa chuẩn bị (ông kỹ sư), nó có thể là giải pháp cho mọi vấn đề liên quan tới vũ khí hạt nhân của đất nước này.

Nhưng không phải. Đó là một công thức, mà nếu đặt đúng hoàn cảnh, lần lượt mô tả công thức hóa học của muối tắm, kem đánh răng và chất tẩy trắng. Allan lên mạng tìm kiếm thứ gì đó liên quan đến hạt nhân, nhưng rốt cuộc lại lạc vào trang web của một nhà hóa học nghiệp dư Canada. Anh này muốn khoe với thế giới những gì mình có trong nhà tắm và tủ hóa chất tẩy rửa. Trái ngược với điều Allan luôn nói, trí nhớ của cụ vẫn ổn. Ngoài những gì đã nói, cụ còn thủ thêm các công thức của aspirin, bột nở, chất rửa bếp lò và vài thứ khác nữa. Tất cả là nhờ một chàng trai trẻ ở Missisauga bên bờ hồ Ontario.

Ông kỹ sư có thể biết aspirin (nhưng mù tịt về bột nở hay chất rửa bếp lò). Vậy là, ông lại trở nên sốt ruột.

“Giờ ông nói toạc ra đi, ta có thể có chút tiến triển nào ở đây không?”

“Tất nhiên là có chứ, Allan đáp, “Tôi chỉ cần phải..."

Rồi cụ vào phòng vệ sinh và ở trong đó 15 phút.

Đến lúc sắp có bước đột phá lớn, Allan lại chạy ra chỗ người lái xe không tên (để hỏi xem tài xế có lạnh không vì ngoài trời chỉ 3 độ) rồi dẫn dắt cuộc nói chuyện với ông kỹ sư thêm vài bước tới trước, hoặc ít ra thì cũng sang ngang. Trong khi đó, Julius cố sức giữ cho ông kỹ sư và chính mình khỏi phát rồ.

Trong lúc vội vàng, Allan quên không nói qua cho Julius biết đóng góp quan trọng nhất của bác ngày hôm đó: vào một thời điểm đặc biệt, bác phải đánh lạc hướng chú ý của ông kỹ sư để Allan tráo cặp. Ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi lấy cớ bắt ông kỹ sư vào trong kho lạnh ngay cạnh đấy để có cơ hội dặn dò chiến hữu.

“Đánh lạc hướng ông ta lúc ông ta quay lại.”

“Đánh lạc hướng?” Julius hỏi. “Bằng cách nào?”

“Cứ đánh lạc hướng ông ta để tôi tráo cái vali".

“Sao không tráo ngay lúc này, khi ông ta không có đây?”

Allan nhìn ông bạn. “Vì tôi đã không nghĩ tới chuyện đó. Không phải lúc nào tôi cũng suy luận xa được như những người quanh tôi tưởng đâu. Nói chung điều đó rất được việc với tôi, nhưng trong những trường hợp nhất định..."

Cụ mới nói đến đây thì ông kỹ sư quay lại.

“Ta có 8 hectogram gallium trong kho,” ông ta nói. “Giờ thì cái đó liên quan ra sao tới việc nén uranium? Làm ơn giải thích cho tôi nghe như một người ngang hàng chứ không phải đứa ngốc.”

“Chỉ có 8 hectogram thôi à,” Allan nói, nét mặt lộ vẻ lo lắng.

Đến đây, Julius đột ngột ngã cắm đầu xuống sàn. “Cứu với, tôi sắp chết mất!”

Ông kỹ sư hết hồn. Ngay cả Allan cũng bối rối, mặc dù cụ là người vẽ ra kế hoạch này.

“Ối!” Julius cứ nằm tại chỗ mà rên. “Ối!”

Allan đứng yên trong khi ông kỹ sư vội lao đến giúp Julius.

“Ông làm sao thế?” ông ta nói và quỳ xuống bên cạnh người trợ lý trông như sắp chết đến nơi. “Ông thấy trong người không khỏe sao?”

Julius nhận thấy Allan đã tráo xong cái vali.

“Không sao, cảm ơn,” bác nói. “Tôi ổn. Đột nhiên bệnh nhớ nhà tái phát thôi.”

“Nhớ nhà?” ông kỹ sư nói. “Ông ngã vật ra sàn mà.”

“Nhớ nhà cấp tính. Nhưng giờ thì qua rồi."

Ông kỹ sư vẫn cho rằng trong hai người ngoại quốc thì Julius biết điều hơn, nhưng giờ thì tin là nồi nào úp vung nấy cả. “Tôi đỡ ông đứng lên nhé, ông Jonsson?”

“Cảm ơn ông kỹ sư tốt bụng,” Julius nói và đưa tay ra.

*

Ông kỹ sư đang ở vào một tình thế tuyệt vọng. Trước hết vì nhà khoa học chỉ có vài phút ngắn ngủi ở cảng Nampo để xác định Allan có phải một kẻ bịp bợm hay không, thâm tâm đã rõ nếu đúng vậy thì chính mình sẽ phải xuống tay giải quyết vấn đề một cách nhanh gọn - điều mà ông vẫn chưa sẵn sàng. Ông kỹ sư bèn quyết định rằng Karlsson nói thật, lý do phần nhiều bởi khát khao sống sót. Sau đó, ông đau đớn nhận ra có lẽ lão già không hẳn là bịp bợm, nhưng đầu óc đã lú lẫn cả rồi; mà tình hình ông trợ lý có thể cũng không hứa hẹn gì hơn.

Ông kỹ sư vẩn vơ nghĩ cách giải thích cho lãnh đạo tối cao rằng câu hỏi ban đầu chỉ xoay quanh việc có lừa đảo hay không chứ chẳng đả động gì đến khả năng bị lão suy cả. Nhưng ông nhận ra rằng làm vậy không xong. Chỉ còn cách nói dối lãnh đạo tối cao (một suy nghĩ lạ lùng), bảo rằng không còn cần đến mấy ông này nữa: ông kỹ sư đã nắm được cơ chế của áp lực rồi nên chỉ trong vòng vài tuần là có thể biến hiểu biết này thành kết quả thực tế. Trong trường hợp nào, ông cũng chỉ còn sống thêm được vài tuần hoặc phải hoàn thành những gì mình hứa hẹn.

Karlsson đã chứng minh mình đang cất giữ các công thức hóa học trong cái đầu nhăn nheo ấy, và đã viết một vài trong số chúng ra giấy. Khi ông già Thụy Sĩ ấy ra về, ông kỹ sư dự định sẽ xem xét chúng kỹ hơn.

Trong giờ ăn trưa, ông nổi nóng với Karlsson vì cụ đã kể lại, theo trí nhớ, một câu chuyện moi được trên máy tính bảng. Chuyện kể về một người dẫn chương trình truyền hình Mỹ đã thực hiện hàng loạt vụ quấy rối tình dục, sau đó lại tức giận với Chúa trời vì đã không đến bảo vệ mình. Ông kỹ sư tức quá quát ẩm lên, rằng ông không cóc cần biết Chúa trời hay tay người Mỹ của nợ kia, hay áp lực hetisostat và những gì nó làm được vì ông sắp có 500 kí uranium đã làm giàu để chơi rồi. Khi nào nó được chuyển đến đây, người ta chẳng còn cần đến Karlsson nữa. Ông kỹ sư hứa sẽ tống cổ ông già ra khỏi phòng thí nghiệm nếu cụ không bắt tay vào việc ngay.

Năm trăm kí? Đây là lần thứ hai Karlsson nghe thấy thông tin này. Chỉ 4 kí thôi đã tệ lắm rồi.

“Thôi nào, thôi nào, Ông Kỹ Sư," cụ nói. “Việc gì ta phải nóng nảy với nhau như thế, đúng không? Một vị lãnh đạo ở Moscow cũng từng nổi nóng với tôi và chỉ cần thế thôi là tôi đã bị tống cổ sang Siberia rồi. Nhưng nộ khí xung thiên như vậy chỉ tổ khiến ông ấy bị đột quỵ. Nóng tính không có lợi cho sức khỏe đâu, tôi luôn nói vậy.”

Ông kỹ sư cũng cảm thấy không ổn. Nhưng ông không chịu bỏ qua cuộc đấu khẩu với lão già Karlsson chậm hiểu này.

Đến một lúc, ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi để ý kỹ hơn một bức ảnh trên tường, trong đó lãnh đạo tối cao đang tươi cười bên một quả tên lửa tầm trung. Ông già Thụy Sĩ có vẻ để ý đến phần đầu quả tên lửa; cụ trầm ngâm lẩm bẩm một công thức. Thực ra đó là kết hợp của vitamin C và muối ngửi, nhưng ông kỹ sư thiếu cảnh giác thì lại chắc mẩm rằng rốt cuộc đã có hi vọng.

*

Khi chỉ còn một, hai phút nữa là hết giờ, Allan lại nịnh ông kỹ sư đến mức ông này không còn cự nự gì khi bị vị chuyên gia tự xưng sai chạy vào kho lạnh thêm một chuyến vô ích nữa. Là thứ gì đó liên quan tới hạn sử dụng của nước cất. Tất cả các chai.

Khi ông kỹ sư đi khuất, Allan bảo: “Tôi nghĩ đã đến lúc chuồn rồi. Phải mất mấy phút nữa ông ta mới quay lại.

*

“Dầu gội không đúng,” Allan đặt cái vali lên bàn người gác và mở ra. “Mùi oải hương không đủ thơm. Hay là gì đó. Ông kỹ sư là người cái gì cũng phải chất lượng. Mai tôi sẽ có gói khác cho ông ấy.”

Trước khi người gác kịp xem kỹ cái gói mà mình đã biết bên trong có gì, Allan cởi áo choàng của mình.

“Nhưng cậu cứ phải kiểm tra cho kỹ thứ này. Nhiều lần tôi hay vô tình bỏ vào túi cái này cái kia mà không nhớ vì sao. Một lần đi mua hàng, tôi còn phát hiện trong túi có hẳn một ổ khóa đấy. Đến tận hôm nay tôi vẫn không nhớ mình định móc nó vào đâu.”

Người gác lục hết các túi áo choàng của Karlsson rồi sang áo của Jonsson.

“Tính tôi cũng thế,” Julius nói “Nhưng tôi hay cầm nhầm bật lửa hơn”

Mắt người gác đảo từ áo này sang áo khác trong khi Allan thản nhiên đóng cặp lại.

“Ta không thể đứng đây tán chuyện hết ngày được dù có vui thế nào. Lãnh đạo tối cao đang chờ. Xong mấy cái áo chưa? Được rồi. Đi nào, Julius."

Hai ông già bước đến chỗ người lái xe đang chờ, Julius rão cẳng còn Allan thì vẫn đi như bình thường. Họ vào xe, chiếc xe chuyển bánh trong khi người gác cứ ngẫm nghĩ về cái ổ khóa, bật lửa, lãnh đạo tối cao và sự việc vừa rồi.

Ba mươi giây sau, ông kỹ sư ra cổng. Với vẻ cáu kỉnh hơn bao giờ hết.

“Mấy gã ngốc ấy đâu rồi?”

“Ơ, họ đi rồi thưa ngài.”

“Tuyệt vời. Mai tôi sẽ bóp lè lưỡi cái lão Karlsson đó ra."

*

Người tài xế không tên ngạc nhiên thấy hai ông khách ngoại quốc muốn về khách sạn khi mới có hai giờ.

“Không phải về khách sạn, cậu Không Văn Tên thân mến. Trước hết ta sẽ đến dinh đón lãnh đạo tối cao. Một cuộc họp quan trọng. Hồi hộp không?”

Người lái xe mặt tái dại. Một nhân viên Triều Tiên mà được chở lãnh đạo tối cao thì chẳng khác gì một mục sư ngồi cùng xe với Jesus Christ. Thực ra anh chỉ được lệnh chở hai ông khách về khách sạn chứ không đi đâu khác, nhưng dinh lãnh đạo thì cũng thuận đường.

“Tôi hiểu là việc này căng thẳng lắm," Allan nói. “Nhưng tôi quá rành lãnh đạo tối cao mà. Ông ấy rất dễ mến. Thực ra chỉ có một thứ làm ông ấy khó chịu. Hoặc hai thứ, nếu tính cả Mỹ vào."

Người lái xe không tên hỏi đó là gì.

“Bẩn thỉu," Allan nói. “Bẩn, bụi, rác và lộn xộn. Tôi nhớ một lần có cậu trợ lý chẳng may làm đổ một ly nước quả lên... Ờ, thôi không nói chuyện đó nữa. Mong cậu trai ấy yên nghỉ thôi. Giờ phải tăng tốc lên. Ta không muốn lãnh đạo tối cao phải chờ đâu”

Xe chạy nhanh hơn bao giờ hết. Bằng tiếng Thụy Điển, Allan bảo Julius hùa vào.

“Đừng nhanh thế,” bác nói. “Tôi bị say xe."

“Tôi đã bảo mình phải nhanh lên chưa?” Allan nói.

Tất nhiên làm sao vừa chạy nhanh lại vừa đừng nhanh thế cho được. Người lái xe nghĩ rằng lãnh đạo tối cao quan trọng hơn cái ông già vừa vừa ngồi ghế sau. Quan trọng hơn rất nhiều.

Lúc ra đến xa lộ vắng người, Julius lại kêu ca xe chạy nhanh quá. Người lái xe không tên chẳng thèm để ý, mà Allan thì lại hùa vào, cứ luôn mồm ca ngợi các phẩm chất tốt đẹp của lãnh đạo tối cao cũng như ông ấy bực mình thể nào khi gặp một đống lộn xộn.

“Phải nói là xe của cậu được giữ gìn rất tuyệt," cụ bảo. “Lãnh đạo tối cao thể nào cũng hài lòng. Thử nghĩ khi ông ấy hỏi tên cậu mà xem, lúc ấy thì chúng tôi cũng sẽ biết tên cậu thôi.”

Tài xế không tên lúc này một tay cầm lái, một tay lau bảng đồng hồ đã sẵn bóng lộn.

“Tôi say xe," Julius vừa ca cẩm vừa cẩn thận nhặt cái hộp đựng bột yến mạch trộn sữa dưới sàn lên. Lúc này nó đã sền sệt rồi."

Chuyện diễn ra ngay sau đó là thứ tiếng động rùng rợn nhất người lái xe không tên từng nghe trong 52 năm cuộc đời. Julius làm giả tiếng nôn và tạt tóe loe sữa trộn yến mạch từ ghế sau qua khe hở giữa hai ghế trước, bắn lên cả cổ người lái. Tài xế không tên phát hoảng, đúng như kế hoạch.

Anh ta ngoặt gấp 180 độ sang làn đường bên kia, tấp vội vào một điểm đỗ đoạn lao vọt ra ngoài. Họa gì mà lớn thế này?

Khi đã 101 tuổi, người ta ai mà nhanh nhẹn như xưa được. Tuy nhiên, Allan cũng đã xoay xở với tay đóng và chốt được cửa xe ngay khi tài xế ra khỏi. Việc đó diễn ra cùng lúc Julius chốt cửa sau và trèo lên phía trước. Thao tác không gọn gàng lắm vì dù sao bác đã bảy chục rồi chứ ít gì. Nhưng chỉ sau vài giây, bác đã ngồi gọn trong ghế lái. Còn người tài xế hoảng hồn nhất bán đảo Triều Tiên thì bị bỏ lại bên ngoài.

“Giờ để xem cái xe này làm ăn thế nào,” bác nói, nhấn ga và phóng đi.

“Ta phải đi hướng ngược lại," Allan nhắc bác.

Thế là hai người bạn vòng ngược lại một đoạn ngắn trên con đường hoang vu và ngẫu nhiên lướt qua tay tài xế không tên đang đứng như trời trồng vì không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Allan xoay cửa xuống chào từ biệt.

“Tạm biệt nhé. Mai không cần phải đón chúng tôi nữa đâu. À, mà giờ tôi mới nghĩ ra là anh cũng chẳng còn xe để đón chúng tôi nữa.”

*

Chiếc xe đi xuôi xuống phía nam, hướng sân bay quốc tế Sunan. Allan nói rằng họ còn đủ thời gian nên Julius không cần phải lái xe như tên trộm giống hồi nào. Với lại ở đây không có nguy cơ tắc đường. Hay các nguy cơ khi tham gia giao thông nói chung.

Julius gật đầu và băn khoăn không biết Allan đã tính lúc đến nơi sẽ làm gì tiếp chưa. Cả hai vẫn tạm gác chuyện ấy lại hồi kế hoạch còn nhiều trở ngại.

Nhưng Allan đã lại chúi mũi vào cái máy tính bảng đen của mình.

“Ô hô. Nói về việc lái xe, xem ra phụ nữ sắp có quyền đó ở Arabia Saudi rồi này. Hoàng thân Abdulaziz có vẻ là một người thực dụng. Hèn gì người Saudi có chân trong dàn nữ ủy viên của Liên Hợp Quốc.”

“Bố có thể bỏ cái máy đọc tin chết tiệt đó xuống để dành vài giây cho chuyện sống còn của ta được không?” Julius, vốn đã bực mình suốt từ nãy đến giờ, lên tiếng.

“Nhưng mặt khác, mọi thứ đều tương đối thôi," Allan nói tiếp. “Vị hoàng thân này là người Wahhabi, mà người Wahhabi thì phản đối hầu hết các thứ, theo như tôi hiểu. Từ người Hồi giáo dòng Shiite, người Do Thái, người Thiên Chúa giáo, âm nhạc và vodka. Cậu đã nghe chuyện gì khủng khiếp thế chưa? Chống cả vodka nữa chứ!”

Julius lầu bầu rủa Allan.

“Bố nói tôi nghe ta phải làm gì bây giờ? Ta cứ tông thẳng qua hàng rào đến chỗ máy bay của ngoại trưởng hay sao? Nếu bị bắt là xong phim đấy! Hay ta cứ lái qua cổng chính Nếu vậy thì nói gì với lính gác ở cổng đây? Ta bắn họ chắc? Bằng gì? Lạy Chúa tôi, Allan!”

Ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi tắt cái máy tính bảng đen và ngẫm nghĩ một lúc.

“Hay tốt nhất là bỏ lại xe ngoài bãi, lấy vali và hộ chiếu ngoại giao rồi vào check-in?”

Có một quầy check-in khác hẳn các quầy khác. Nó nằm ở ngoài cùng và có một tấm biển vàng đề mấy chữ Triều Tiên cùng một dòng giải thích bằng tiếng Anh bên dưới: Quầy check-in ưu tiên.

Allan chào người đàn ông ở quầy và tự giới thiệu mình là đặc phái viên kiêm nhà ngoại giao Karlsson từ vương quốc Thụy Điển. Cụ hỏi máy bay của Bộ trưởng Ngoại giao Wallström đã sẵn sàng chưa.

Người kia cầm hộ chiếu của Allan và Julius rồi nhìn họ. “Được rồi," anh ta nói. “Tôi không nhận được thông báo rằng các vị... "

“Thông báo chỉ mang chính thủ tục nếu xét đến bản chất tự phát của ngoại giao bí mật,” Allan nói. “Những người như chúng tôi luôn sẵn sàng lên đường. Anh có thể làm ơn đưa chúng tôi ra máy bay được chứ?”

Không được, người này không làm ơn kiểu đó.

“Chờ một chút,” anh ta nói và đi tìm sếp.

Julius thấy rằng Allan xử sự rất tuyệt ở sân bay, nhưng vẫn không đi đến đâu. Chừng một phút sau, một người mặc quân phục bước đến và hỏi liệu có thể giúp gì.

“Chào đại tá” Allan nói với người chả phải đại tá gì, chỉ là tay phụ trách an ninh sân bay,

“Có chuyện gì vậy?” người phụ trách an ninh hỏi.

“Có phải ông là người sẽ đưa chúng tôi ra máy bay của Bộ trưởng Wallström không? Tuyệt quá! Ông xách dùm tôi cái vali được chứ? Nó nhẹ thôi, có điều tôi hơi già và hơi yếu mất rồi," Allan nói, đặt cái vali đựng uranium lên quầy.

“Trước khi biết các vị là ai, tôi sẽ không đưa các vị đi đầu hết,” phụ trách an ninh thủ thế.

Đúng lúc đó thì phép màu xảy ra.

“Các tùy viên Karlsson và Jonsson! Các ông đã đến rồi sao? Tốt quá!” Margot Wallström từ cổng chính rảo bước về phía họ. “Tôi vừa mới ăn trưa với lãnh đạo tối cao xong. Chúng tôi toàn nói chuyện về ông đấy, ông Karlsson. Lãnh đạo tối cao gửi lời chào chân thành đến hai ông và nhiệt tình mời các ông quay lại sớm nhất có thể.”

Mặt tay phụ trách an ninh tái dại. Ông ta biết Wallström là ai - ông ta là một trong những người đã đón bà hai ngày trước.

“Rồi, ta đi đâu đây?” Allan hỏi. “Cầm giúp tôi cái vali được chứ?”

Hai giây phân vân. Năm. Mười. Sau đó người phụ trách an ninh vồn vã: “Tất nhiên rồi, thưa ngài.”

Đến đây thì ông ta đưa bộ trưởng/phái viên Liên Hợp Quốc, hai tùy viên của bà, cái vali của phái viên cùng cái vali của một tùy viên qua cửa kiểm soát đến tận chiếc máy bay mới được nạp đầy nhiên liệu đang đứng đợi.

Mười tám phút sau, sớm hơn dự định 36 phút, máy bay của ngoại trưởng Thụy Điển đã ra khỏi không phận Triều Tiên, chở nhiều thêm hai hành khách so với lúc hạ cánh xuống đây trước đó hai ngày.

Ba giờ sau, lãnh đạo Triều Tiên Kim Chính Ân nổi trận lôi đình chưa từng thấy. Ấy là ông còn chưa được ông kỹ sư ở nhà máy plutonium báo tin chiếc vali đựng uranium đã qua làm giàu bây giờ lại đựng một lô đồ dùng vệ sinh cá nhân thơm tho. Đó là vì chính ông kỹ sư ấy đã tìm đường sang thế giới bên kia trong kho lạnh (ngay khi hiểu ra công thức đầu tiên của Karlsson là thành phần chính trong tất nylon), còn người tài xế không tên - và không cả xe - thì đứng chờ suốt 25 phút bên lề đường cao tốc cho đến khi thấy một chiếc xe tải phóng tới cùng với cánh cửa dẫn đến một kiếp sống khác. Phụ trách an ninh sân bay vẫn còn yêu đời, nhưng dương thọ của ông ta cũng chỉ dài thêm được bốn mươi tám giờ.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 22

Đang tải bình luận...