phần mình, nước Mỹ cũng phải giảm sự hiện diện quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương, nhưng không nên rút hẳn khỏi khu vực này. Giáo sư Chalmers nói thêm: “Nhiều nước trong khối ASEAN (Thái Lan, Malaisie, Singapour, Philippines, Indonésie, Brunei) rất hoan nghênh sự có mặt của Mỹ và xem đó là điều kiện để tránh sự lệ thuộc hoàn toàn vào Nhật Bản”. Còn đối với Trung Quốc, những nhà chiến lược Hoa Kỳ nào còn tiếp tục mơ màng sử dụng con bài Trung Quốc để chống Nhật Bản thì họ sẽ bị lừa. Họ hy vọng cặp đôi Trung-Mỹ có thể chống lại sức mạnh của Nhật, nhưng họ đã tính lầm một cách nghiêm trọng về sức mạnh kinh tế của Trung Quốc tương lai. Nước Nhật có giết chết nước Mỹ hay không ? Giáo sư Chalmers cho rằng đó là câu hỏi cần nhanh chóng tìm câu trả lời: “Nước Nhật cần quyết định điều phải làm khi sức mạnh bá chủ là nước Mỹ bắt đầu suy yếu. Họ có cần giúp cho bá quyền đó tiếp tục hay không ? Hay họ sẽ xóa bỏ và từ bỏ nó cùng với gánh nặng trách nhiệm của nó ? Họ sẽ từ chối điều nào trong hai điều trên và chờ đợi kẻ đối tác nào khác quyết định để tiếp tục cuộc du hành miễn phí với phí tổn của kẻ khác ? Tôi
có cảm giác ở Nhật Bản có những tập đoàn chính trị quan trọng tài trợ cho một quan điểm chính trị có câu trả lời tích cực đối với một trong ba câu hỏi trên”. Thế giới tài chính và kinh doanh Nhật tiếp tục yểm trợ Mỹ bằng cách mua vô số cổ phiếu của Ngân khố Mỹ, bất kể nguy cơ thiệt hại nếu đồng đô la mất giá. Về phía mình, chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản dự đoán Hoa Kỳ đang trở thành một quốc gia lười nhác, và như vậy, tốt nhất là Nhật Bản tiếp tục cuộc hành trình một mình. Trong các giới này có chủ tịch hãng Sony, Akio Morita và chính trị gia cánh hữu, Shutaro Ishihara, tác giả cuốn sách Nước Nhật có thể nói “Không”. Còn đối với những nông gia Nhật, những tiểu thương và những nhà thầu xây dựng, hoạt động của họ tách biệt sự cạnh tranh quốc tế và họ thích sống dựa và cộng đồng quốc tế. Số này khá đông ở Nhật; tiếng nói của họ trong bầu cử là rất nặng ký. Điều đó minh chứng rằng không thể chờ Nhật sớm tự nguyện thỏa thuận về vai trò của họ trên thế giới, về quan hệ của họ với Hoa Kỳ. Chính vì thế, gây sức ép là cần thiết. Nước Nhật bị đặt trước ba đường lối đối ngoại khác nhau. Một là đường lối của Bộ Ngoại giao Nhật gọi là Gaimusho, chủ trương tăng cường lực lượng quốc phòng và viện trợ kinh tế. Nước Nhật đã trở thành một cường quốc quân sự. Chi phí quốc phòng của Nhật Bản tiếp tục tăng lên. Trong kế hoạch 5 năm sẽ kết thúc vào năm 1991, Cục phòng vệ Nhật Bản sẽ chi tiêu tương đương 75 tỷ đô la (360 tỷ franc theo tỷ giá năm 1985). Trong kế hoạch 5 năm tiếp theo, ngân sách quốc phòng Nhật Bản do Cục phòng vệ dự toán là tương đương 175 tỷ đô la (860 tỷ franc theo tỷ giá 1990). Cần ghi nhận rằng số tiền kỷ lục này được chi tiêu trong lĩnh vực quân sự, vào lúc mà ngân sách quốc phòng của các nước phát triển đã khựng lại hoặc giảm sút. Nước Nhật sẽ dùng sức mạnh quân sự ấy vào việc gì ? Chalmers nhấn mạnh rằng, với sự nổi lên của các tiểu quốc ở châu Á nhờ sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nước Nhật cho rằng cần phải có được một khả năng quân sự riêng để có thể ứng phó với những vấn đề sẽ đặt ra trong tương lai. Nhưng lý do đúng nhất là Nhật Bản phải chuẩn bị để tự đảm đương nền quốc phòng của họ, lúc mà cây dù quân sự của Hoa Kỳ không còn nữa. Chẳng hạn những nhà chiến lược Nhật Bản phải hình dung phương thức bảo vệ nguồn nguyên liệu dầu hỏa của họ như thế nào ?
Đường lối đối ngoại thứ hai là của MITI, căn cứ vào việc hình thành một khối kinh tế châu Á, trong đó đồng yên sẽ là đồng tiền chủ đạo, tương ứng với sự hình thành khu vực tự do mậu dịch Mỹ-Canada-Mehico, và cộng đồng kinh tế châu Âu. Chúng ta đã thấy tại châu Á đã bùng nổ những phản ứng mạnh mẽ đối với một dự kiến như vậy bởi ám ảnh khủng khiếp về chủ nghĩa đế quốc Nhật còn sống động trong ký ức. Bởi vậy, giới cầm quyền Nhật Bản tỏ ra rất thận trọng trong hướng này. Nhưng như Chalmers lưu ý, người Nhật đã bắt đầu nghiên cứu để tìm hiểu khả năng hình thành một khối kinh tế do Nhật Bản điều khiển, trong trường hợp cần thiết. Đường lối đối ngoại thứ ba, con đẻ của Bộ Tài chính, là làm sao nền kinh tế Nhật và Mỹ trở thành tương thuộc nhau đến mức không bên nào dám quyết định cắt đứt mối quan hệ đó mà lại không phải trả một cái giá khủng khiếp. Chúng ta sẽ thấy nhiều quan chức kinh tế của Nhật Bản tiếp tục tán thành công thức an toàn, nghĩa là duy trì trục Washington-Tokyo hơn là lao vào bất kỳ một cuộc phiêu lưu nào khác. Nhưng liệu nước Mỹ có sẵn sàng không ? Nước Nhật có thể nói “Không” Nếu gọi là để kích động tâm lý chiến tranh ở Mỹ và đầu độc thêm mối quan hệ đang gay cấn giữa Washington và Tokyo, thì có lẽ không ai đã làm tốt hơn Akio Morita và Shintaro Ishihara. Cuốn sách nhỏ dày 160 trang với tựa tiếng Nhật là No to Ieru Nippon: Shin Nichi-Bei Kankei no Kaado, dịch là: Nước Nhật có thể nói “Không”: Lá bài mới trong quan hệ Mỹ-Nhật. Cuốn sách đã gây chấn động lớn ở Nhật. Nhà xuất bản Kobunsha hài lòng: hơn một triệu ấn bản đã được bán sạch. Nhưng họ không có ý định dịch ra tiếng Anh. Lý do: tài liệu này chỉ để tiêu thụ trong nước Nhật, không phải cho độc giả nước ngoài. Nhưng Lầu Năm Góc đã nhanh chóng cho dịch ra tiếng Anh và cuốn sách đã gây hoang mang trong giới kinh doanh và chính trị Hoa Kỳ. Cuốn sách nói gì vậy ? Shintaro Ishihara là một nghị sĩ cực hữu, theo lập trường dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Ông ta hô hào các công dân Nhật hãy ý thức về sức mạnh của nước Nhật và cần dứt bỏ mặc cảm. Ông nói nước Mỹ đã bắt đầu suy thoái không cách gì tránh khỏi. Đối với nước Nhật, cúi đầu chiều theo các đòi hỏi của họ là điều không thể chấp nhận được nữa. Nếu chính phủ Mỹ
đi quá xa, thì Nhật Bản rất có thể sẽ quay sang Liên Xô. Vả lại, Hoa Kỳ không còn lựa chọn nào khác, vì họ lệ thuộc vào ngành công nghiệp điện tử của Nhật Bản để đảm bảo cho các tên lửa của họ đạt được độ chính xác cao. Sự cân bằng chiến lược Mỹ-Xô sẽ đi đến đâu nếu Nhật Bản từ chối bán cho Mỹ những tổ hợp điện tử, mà giao chúng cho Liên Xô ? Người Mỹ đã có thái độ phân biệt chủng tộc khi giao tiếp với người Nhật, và người Nhật phải luôn nhớ điều đó khi đối xử với họ. Luận cứ chứng minh cho lời kết tội này là gì ? Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, người Mỹ đã bỏ loại bom thường vào những mục tiêu dân sự ở Đức, nhưng họ lại dành bom nguyên tử cho nước Nhật. Họ làm như vậy vì một lẽ duy nhất là họ cư xử theo kiểu phân biệt chủng tộc. Cho nên những giả định về quan hệ Mỹ-Nhật bắt nguồn từ những định kiến phân biệt chủng tộc sâu sắc của Mỹ. Mặt khác, theo Ishihara, người Mỹ cần phải nhìn thẳng vào sự thật: trung tâm sức mạnh thế giới đã chuyển từ Tây sang Đông, sang châu Á. Sự cáo chung của thế kỷ XX đánh dấu sự cáo chung kỷ nguyên thống trị của người da trắng. Từ đó rút ra kết luận: ở buổi bình minh của kỷ nguyên mới này, người Nhật phải thức tỉnh và thoát ra khỏi trạng thái tê dại về tinh thần. Họ cần nói rõ cho người Mỹ hiểu rằng Nhật Bản không cần đến sự bảo hộ quân sự của Mỹ nữa, và nước Nhật phải đảm nhận lấy vai trò trung tâm tại châu Á bằng cách xây dựng những quan hệ hài hòa. Thật vậy: lịch sử sẽ chứng minh nòi giống Nhật Bản có phải là nòi giống thượng đẳng hay không. Akio Morita tuy ít khiêu khích hơn trong lời lẽ công kích của mình, nhưng cũng không tiếc lời phê phán cay độc mà thường rất đúng đối với Mỹ. Ông nói, những nhà doanh nghiệp Mỹ không phải là những chủ nhân xứng đáng với danh hiệu ấy. Những ông chủ người Nhật biết tiên liệu và chuẩn bị tình thế trước 10 năm, còn những ông chủ Mỹ chỉ có thể dự đoán tình huống của 10 phút sắp tới. Họ có thu nhập lớn, sống xa hoa, cờ bạc và đùa giỡn với tiền vốn của công ty mà không hề quan tâm đến sự phát triển dài hạn của cơ sở mình, cũng như số phận của công nhân. Thích có lợi nhuận dễ dàng, họ không ngần ngại sa thải công nhân khi không cần đến nữa. Cách quản lý như vậy dẫn nước Mỹ đến chỗ hủy diệt. Và sự chênh lệch giàu nghèo hiện không thể chịu đựng nổi, 1% dân Mỹ chiếm giữ 36% của cải quốc gia.
Ông chủ hãng Sony giải thích rằng trong một chuyến thăm Hoa Kỳ, một đồng nghiệp người Mỹ của ông đã mời ông đến nhà nghỉ mát mùa hè của anh ta để chơi golf. Là người hay phê phán nước Nhật, nhưng ông chủ Mỹ này lại sử dụng các câu lạc bộ chơi golf Nhật Bản. Ngôi nhà ông đầy ắp sản phẩm Nhật: mô tô trượt tuyết kawasaki, một chiếc tàu có động cơ Nhật, một máy thu hình Sony và nhiều đồ vật hiệu Nhật khác. Làm sao người Mỹ có thể chờ đợi người tiêu dùng Nhật Bản mua sản phẩm của Mỹ nếu chính họ lại chỉ dùng hàng Nhật ? Song theo Morita: tình hình kinh tế Mỹ đang làm cả thế giới quan tâm. Bởi vì sự phá sản của nền kinh tế Mỹ sẽ kéo theo cả một thảm họa cho hành tinh. Để tránh điều đó, đã đến lúc người Nhật phải có dũng cảm cần thiết để nói với người Mỹ những điều cần nói. Cho dù đối với Nhật Bản điều này có khó, vì trái với tập tục Khổng-Mạnh, nhưng nước Nhật phải học nói rõ tiếng “không” khi cần thiết. Từ khi được xuất bản, cuốn sách đó trở thành vũ khí để Mỹ gây sức ép mạnh mẽ đối với Nhật Bản nhằm “kéo nó về với lẽ phải”. Người Mỹ nói, các ý nghĩ thầm kín và những mong muốn của người Nhật giờ đây đã được phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật. Những gì họ chưa dám nói công khai, bây giờ đã được viết lên giấy trắng mực đen rồi. Nhận thức rõ những tác động của cuốn sách, Morita đã lùi một bước: ông phủ nhận những trang viết của ông trong bản dịch chính thức tiếng Anh là do một nhà xuất bản Mỹ mua lại. Mặt khác, ông né tránh mọi công kích công khai. Khi tôi đề nghị được gặp ông ở Tokyo, ông đòi tôi đưa trước một loạt câu hỏi. Tôi đã thật thà trình bày tất cả những câu hỏi mà thực lòng tôi muốn đặt ra với ông, tất cả xoay quanh khát vọng muốn thống trị thế giới của nước Nhật. Cuộc phỏng vấn đã bị từ chối. Tùy viên báo chí của ông cho sứ quán Pháp ở Tokyo biết rằng những câu hỏi đó không liên quan gì đến những hoạt động của hãng Sony, câu trả lời là thoái thác. Khi nói chuyện trên điện thoại, ông này giải thích cho tôi rằng Akio Morita không phải là “một Nhật Bản đại nhân”. Bằng một giọng nói lịch sự nhưng kiên quyết, ông nói thêm: “Ông Morita không quan tâm đến chính trị - ông ấy là một nhà kinh doanh”. Người Nhật trả lời Để hiểu một tình hình từ trong bản chất, phải hiểu tất cả các trạng thái của nó. Tấm huân chương nào cũng có mặt trái của nó. Nước Nhật đương
đại cũng vậy. Nước Nhật có muốn thống trị thế giới không ? Một số người cho đó là điều tất nhiên. Một số khác lại cho đó là một ý nghĩ quái gở. Không thể có ý kiến, càng không thể đưa ra phán đoán nếu không hiểu người Nhật nói gì về vấn đề đó. Chính vì thế, tôi nhất thiết phải hỏi ý kiến một số nhân vật Nhật Bản đang hoặc đã giữ một số trọng trách trong giới kinh tế, tài chính, thương mại, chính trị và xã hội của bàn cờ Nhật Bản. Mẫu chọn chắc là khó tiêu biểu... Hơn 20 nhân vật, dẫu hiện đang là những diễn viên hàng đầu ở Nhật Bản cũng không thể nói thay cho 120 triệu người Nhật. Được chắt lọc trong thời gian tôi sống ở Nhật, mẫu chọn này cũng không thể có giá trị phổ biến. Một cách khiêm tốn, nó chỉ có thể trình bày một mảng ý khiến phản ảnh quan điểm hoặc của chính phủ, hoặc của xã hội Nhật. Bằng thứ ngôn ngữ khi thì bình dân, khi thì ứng khẩu bất ngờ, đôi khi lại biểu lộ sự kinh ngạc hoặc giận dữ, nhưng nói chung đều là những phát biểu bình tĩnh: những dòng dưới đây chỉ có tham vọng duy nhất là dành diễn đàn cho người Nhật để - nếu có thể - làm rõ thêm một thực tế đang khiến cả thế giới lưu tâm đặt vấn đề. Kato Shuichi : nước Nhật là đứa con hoang đàng Kato Shuichi, giáo sư đại học Tokyo, giám đốc Thư viện quốc gia Tokyo - một nhân vật nổi tiếng ở Nhật Bản. Là một trí thức cánh tả uyên bác và có nhiều ảnh hưởng, ông là một trong số các giáo sư đại học của Nhật Bản đã đi chu du thế giới nhiều nhất. Thường được các trường đại học nổi tiếng mời, ông đã bao lần thuyết trình về đề tài nước Nhật đương đại. Cuộc trao đổi của chúng tôi diễn ra bằng tiếng Pháp. Có thể dùng cả tiếng Anh. Kato Shuichi không phải một trường hợp ngoại lệ: tôi đã gặp nhiều nhà lãnh đạo, kể cả giám đốc xí nghiệp, công ty nói thạo tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Đó là bằng chứng về sự quan tâm thực sự đối với nền văn hóa phương Tây. Và đồng thời cũng là bài học cho chính những người phương Tây chúng ta. Ai trong số những nhà chính trị phương Tây nói thông thạo tiếng Nhật hoặc tiếng Hoa ? Đó là chưa kể đến thứ tiếng Anh dùi đục nơi những nhà lãnh đạo của chúng ta. Câu hỏi đầu tiên của tôi là: Nước Nhật có biết mình đang đi về đâu không ? Kato Shuichi trả lời:
“Từ sau chiến tranh thế giời lần thứ hai, lịch sử nước Nhật là một chuỗi những phản ứng, đôi khi khá tế nhị, khá linh hoạt, khá khôn khéo, đôi khi không đủ. Lịch sử từ sau chiến tranh đến nay là một chuỗi những phản ứng của nước Nhật đối với những nước sự kiện do những nước khác gây ra. Tôi tin rằng đồng bào tôi đã nhận thức được là nước Nhật thiếu hẳn sáng kiến. Bởi vậy, họ cố tìm ra một ý nghĩa, một chiều hướng nào đó. Nhưng tiến trình ấy không đi đến đâu. Tôi tin rằng cho đến bây giờ, chưa hề có một phương án toàn cầu nào để xác định vai trò quốc tế của nước Nhật”. Những phải nghĩ thế nào về ý kiến khẳng định: “nước Nhật muốn thống trị thế giới?” “Sai hoàn toàn. Bao giờ cũng thế, người ta lại gán những ý tưởng của phương Tây cho nước Nhật. Hơn nữa, đây lại chính là điều người Châu Âu có thể làm nếu họ có được những điều kiện như nước Nhật. Nếu nước Pháp là một cường quốc tài chính và công nghệ như nước Nhật bây giờ, người ta sẽ thấy là nước Pháp sẽ cho tiến hành soạn thảo nhứng phương án công khai hoặc bí mật. Với một sức mạnh như vậy, chắc rằng người Pháp sẽ lao vào việc xây dựng những phương án vĩ đại mang tính toàn cầu. Nhưng não trạng của người Nhật lại khác”. Thiếu một phương án có tính toàn cầu Khi nói, ông nhìn thẳng vào mắt người đối thoại. Không thể nghi ngờ lòng trung thực của ông. Nhưng, thử đặt vấn đề một cách khác: Vâng, nước Nhật bây giờ không muốn thống trị thế giới, nhưng sắp tới có khả năng đó không ? “Tôi không biết. Có thể có, có thể không. Tôi không biết. Tôi muốn nói với ông thế này: đâu là lí do thận trọng thái quá hoặc hạn chế của não trạng Nhật Bản đối với những trào lưu tư tưởng triết học hoặc chính trị lớn ? Tại sao nước Nhật lại phải quá thận trọng khi xác định một khái niệm toàn cầu về trật tự theo cách nhìn của Nhật Bản ? Đó là do gần như thiếu thói quen xác định trật tự và vị trí của đất nước trong lịch sử ? Tại sao ? Có hai lí do: một là do hoàn cảnh: thiếu một đường lối ngoại giao, nhất là một phương án bao trùm từ những năm 30. Trong những năm 30, chúng tôi bị chi phối bởi thứ chủ nghĩa quân phiệp Nhật Bản, chủ nghĩa siêu quân phiệt. Đường lối ngoại giao đồng nghĩa với đường lối quân sự. Giới quân nhân chi phối
thậm chí cả Bộ ngoại giao, những quan chức dân sự ở bộ có chức năng rất hạn chế. Vì lí do quân sự. Dưới bóng các nhà quân sự, các nhà ngoại giao Nhật lúc đó chẳng những ít được tự do hành động, mà còn ít có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngoại giao thuần túy không phải là quân sự. Cho đến năm 1945, giới quân nhân là người chủ yếu xác định vai trò của nước Nhật trên sân khấu thế giới. Tất nhiên, việc xác định của giới quân nhân lại luôn rất giản đơn, thậm chí siêu giản đơn về tình hình. Kết quả là một thảm họa”. Kato Shuichi nói tiếp: “Sau năm 1945, nước Nhật bị chiếm đóng cho đến năm 1952. Chính phủ Nhật không có quyền hành gì. Sau khi được độc lập, trong một thời gian dài, nước Nhật tập trung phát triển kinh tế và công nghiệp trong khuôn khổ chính trị - quân sự thế giới do người Mỹ xác định. Chúng tôi đã tỏ ra trung thành với Washington. Chính phủ Nhật không hề nghĩ đến một phương án chính trị quốc tế, nhất là một phương án lớn. Bởi vì cái khuôn khổ đã được người Mỹ áp đặt cho chúng tôi. Đường lối chính đã được người Mỹ hoạch định. Bây giờ, chúng tôi ít nhiều đã thoát khỏi sự kiểm soát của người Mỹ. Chúng tôi đã có thể tự hoạch định đường lối cho chính mình. Khả năng thì có đó, nhưng nước Nhật lại không có kinh nghiệm thực hiện. Đó là do thiếu kinh nghiệm ngoại giao từ trước 1950 đến nay kéo dài gần nửa thế kỷ: đó là lý do hoàn cảnh. Lý do thứ hai có tính cơ cấu, truyền thống và thuộc phạm vi văn hóa hơn; có thể là lí do sâu xa. Toàn bộ hệ thống xã hội của Nhật Bản, kể cả hệ thống giáo dục, đã khiến cho người Nhật chúng tôi tỏ ra rất hữu hiệu trong việc tạo ra những phương tiện để đạt đến mục đã định, nhưng lại khiến chúng tôi trở nên kém cỏi trong việc hình thành những giải pháp hợp lí để xác định được mục tiêu chung cuộc. Có sự tương phản giữa tính khéo léo và tính hiệu quả trong xã hội Nhật Bản trong việc hình dung ra phương tiện và tình trạng non kém đặc biệt của Nhật Bản trong việc lựa chọn các mục tiêu. Trong lĩnh vực kinh tế, mục tiêu lại cực kỳ dễ xác định: chi phối thị trường hoặc kiếm lợi nhuận. Khi mục tiêu ấy được xác định rõ ràng và được mọi người chấp nhận, vấn đề phức tạp còn lại là vấn đề phương tiện. Chẳng hạn bằng cách nào chi phối thị trường thế giới về xe hơi ? Cực kỳ khó. Nhưng lại vô cùng đơn giản trong việc định ra mục tiêu chi phối thị
trường xe hơi. Trẻ con cũng làm được. Nhưng trong đối ngoại, thì ngược lại: việc chọn lựa đường lối chủ đạo rất khó, rất phức tạp, trong lúc đó phương tiện cần thiết lại cực kỳ đơn giản. Ví dụ: khi Nhật đặt quan hệ ngoại giao với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào năm 1972, sau chuyến thăm Bắc Kinh của Nixon ít lâu; việc công nhận Bắc Kinh có phải vì lợi ích quốc gia hay không ? Đó là một câu hỏi khá phức tạp. Song một khi đã có quyết định công nhận Bắc Kinh, thì việc thực hiện nó lại rất dễ: chỉ cần mua vé khứ hồi Bắc Kinh - Tokyo là đủ ! Bởi vậy, Nhật Bản là một đại cường quốc về kinh tế công nghệ, nhưng là một tiểu quốc trên lĩnh vực chính trị quốc tế. Sự tương phản là cực kỳ lạ lùng”. Người Nhật, những con vật kinh tế Tôi lưu ý Kato Shuichi về những cố gắng gần đây trong lĩnh vực ngoại giao của Nhật Bản vượt qua cái ô giám hộ của Hoa Kỳ, để hình thành mọt đường lối đối ngoại của riêng nước Nhật. Ý định này biểu hiện đặc biệt rõ trong việc tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cuộc xung đợt ở Kampuchia, trong việc bình thường hóa quan hệ với Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, con đường đi đến sự già dặn về chính trị dường như còn dài và khúc khuỷu. Đến độ người Trung Quốc còn quen đánh giá người Nhật là những “Jingji dongwu”, những con vật kinh tế tầm thường. Kato đáp: “Đúng vậy. Ở chỗ chúng tôi thường quen nghĩ đến kinh tế trước tiên. Người Trung Quốc nói như vậy là có lý của họ. Thậm chí ở từng cá nhân cũng vậy thôi. Cao hơn thì nghĩ đến kinh tế, hoặc tệ hơn thì chỉ nghĩ đến tiền ! Những hiện tượng đó chẳng những liên quan đến hoàn cảnh mà đến cả tập quán. Trước chiến tranh, vào năm 1930, người ta chỉ nghĩ đến quân sự. Bây giờ người ta chỉ nghĩ đến kinh tế. Người Nhật có tâm lý kì cục là mỗi lúc chỉ nghĩ đến một chuyện mà thôi (Kato cười). Nhiều khi như thế cũng đáng sợ thật. Hơn nữa, tự lâu đời nước Nhật là một xã hội hướng về tập thể. Một xã hội duy tập thể, trong đó mọi người đều ứng xử giống nhau trong cùng một khuôn khổ. Tất nhiên, từng cá nhân thì khác nhau. Nhưng tất cả mọi người chấp một khuôn khổ. Thậm cí người ta không hề nghĩ đến việc bài bác cái khuôn khổ hiện có nữa. Cho nên, khi ở Bắc Kinh, người Trung Quốc gặp một người Nhật chỉ biết nghĩ đến kinh tế, thì cho là người đó tiêu biểu của phần đông Người Nhật !
“Một số người Nhật thuộc tầng lớp ưu tú, một số tri thức thì khác. Nhưng nói chung, xu hướng chính là hòa trộn vào xã hội tập thể. Không phải chỉ có xã hội Nhật Bản mới chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất, mà trong giàn giao hưởng lớn này, tất cả mọi người đều có đều hướng về một mục tiêu duy nhất. Bởi vậy, xã hội Nhật Bản tỏ ra khá hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu là điều dễ hiểu, nhất là khi mục tiêu đó là kỹ thuật hoặc công nghệ ! Ngoài ra, còn lại thì... Một số nhà lãnh đạo, một số quan chức cao cấp, kể cả trong đảng bảo thủ cầm quyền, đều đã ý thức được điều đó. Họ thiếu một đường lối đối ngoại, trong khi nước Nhật có cả một sức mạnh kinh tế và công nghệ trên trường quốc tế. Họ nhận thấy một tình thế như thế là không thể kéo dài được. Cần phải làm một cái gì đó. Họ cảm thấy cần phải có một đường lối riêng của Nhật Bản mà hiện nay họ chưa có. Bởi vậy, họ đã tiến hành một số sáng kiến hiểu như vấn đề CPC. Cho đến nay, nước Nhật không hề có một đường lối nào đối với CPC. Chẳng có gì cả. Trống rỗng. Không có một sáng kiến nào! Bây giờ, phải bắt đầu từng bước, nhưng chúng tôi chưa đạt đến mức vạch ra một kế hoạch toàn cầu, một mục tiêu lớn, một tư tưởng lớn”. Nước Nhật, một đứa trẻ non nớt và mồ côi Nhìn nước Nhật trần trụi, người ta liền so sánh nó với một đứa trẻ chưa trưởng thành, còn cần cha cầm tay dẫn đi. Tôi chọn hình ảnh này và nhấn mạnh: người cha đỡ đầu của nước Nhật là Hoa Kỳ, cũng chẳng làm được chức năng đó. Vậy thì, nước Nhật trở thành mồ côi ư ? - Kato kêu lên: “Vâng, vâng ! Đúng vậy. Nước Nhật là một đứa con hoang đàng. Không thể chối cãi được nữa. Nhưng lại có não trạng của một đứa bé non nớt. Mỗi khi tôi từ Mỹ hoặc một nước nào đó trở về Tokyo, tôi nhận ra ngay tính chất ấu trĩ đó. Chẳng hạn tôi vừa từ Ý trở về. Ở Nhật Bản một số lĩnh vực đã có tiến bộ hơn, và hoàn thiện hơn, trên bình diện kỹ thuật. Ông cứ nhìn xem điện thoại, bưu điện và nhiều chuyện khác. Tất cả tiến triển rất tốt, hiếm xảy ra trục trặc. Song nếu mở truyền hình thì các chương trình của Nhật Bản là rất ấu trĩ. Ở Ý, cũng như ở mọi nơi, chương trình truyền hình thường là ngớ ngẩn và tầm thường nhưng không ấu trĩ. Còn ở Nhật Bản, thì chẳng những ngây ngô, mà còn rất Nhật: những buổi phát hình thật ấu trĩ ! Đó là điều kỳ lạ.
Tôi đã từng giảng dạy ở trường đại học. Tôi có thể so sánh: trí thông minh của sinh viên Nhật, Ý, Mỹ gần như nhau. Một số thì rất thông minh, một số khác thì không. Nhưng ít khi ngây ngô. Hãy cứ nhìn gương mặt các sinh viên này. Sự thông minh có thể cảm nhận được ở sinh viên Châu Âu, rồi đến Mỹ. Một số sinh viên Mỹ có thể còn trẻ con, nhưng không quá nhiều như ở Nhật Bản. Về mặt thông minh thì không có gì khác nhau. Nhưng về mặt trưởng thành trong cuộc đời, nhất là về tình cảm thì rất khác nhau. Sự tương phản rất rõ. Tôi cho rằng đó là triệu chứng của toàn bộ xã hội Nhật. Ngoài ra, có một tập quán rất xưa của Nhật, xưa hơn chủ nghĩa quân phiệt hay tình trạng thiếu một đường lối đối ngoại năm 1930, đó là tình trạng khép kín của nước Nhật. Cuộc chiến tranh năm 40, cuộc xâm lược Trung Quốc và cuộc chiến tranh Thái Bình Dương chỉ là một giai đoạn ngắn trong đó chúng tôi có dịp tiếp xúc với người nước ngoài. Ngoại trừ thời gian đó còn thì từ thế kỷ XVIII, nước Nhật không hề tiếp xúc với người nước ngoài. Tình trạng thiếu tiếp xúc đó đã đúc thành một não trạng khép kín của Nhật Bản. Cho nên, với một não trạng như vậy, nếu như nước Nhật tham gia chính trường quốc tế, hay đúng hơn khi nó bị buộc phải tham gia, nó chỉ có thể giải thích thế giới quanh nó theo những chuẩn mức của một đất nước từ lâu đã khép kín”. Báo chí Nhật: dành đất cho Base-ball và Sumo “Hãy nhìn báo chí của chúng tôi. Nó phản ánh nước Nhật hiện nay. Những sự kiện thuần túy Nhật Bản và thế giới đều được phản ánh tốt. Xã hội Nhật được thông tin về mọi điều như thế. Nhưng nếu những sự kiện đó không đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi của nước Nhật hoặc người Nhật, thì báo chí sẽ dành cho nó chút ít đất thôi. Bởi vậy, ngay cả báo chí hiện cũng phản ánh trung thực cái não trạng khép kín đó. Ở Nhật, không có tờ báo chất lượng cao như tờ New York Times hoặc tờ Times ở Luân Đôn, hoặc tờ Le Monde. Không hề có. Báo chí thông tấn, theo chuẩn mực ở Nhật Bản, chỉ bao gồm một công chúng hạn chế, tức là khoảng nửa triệu người Nhật. Với số bản in nửa triệu, một tờ báo không thể sống được ở đây. Những nhật báo lớn như Asahi, Yomiuri, không phải in vài trăm ngàn bản, mà hàng triệu bản, 6 hay 7 triệu. Song chúng chỉ nhỉnh hơn những tờ báo bình dân ở phương Tây một chút thôi. Ở Anh hoặc ở Mỹ, báo chí thật khủng khiếp, một tai họa. Tờ Asahi tốt hơn những tờ báo bình dân, nhưng ẳ
không bằng tờ Le Monde chẳng hạn. Thế thì, điều gì diễn ra với nửa triệu người Nhật trí thức, tầng lớp ưu tú ? Họ chỉ có tờ Asahi để được thông tin. Vậy mà trong tờ Asahi, có ba trang dành cho base-ball và sumo, so với chỉ có một trang rưỡi dành cho toàn bộ thông tin quốc tế. Như vậy, đối với tờ báo tốt nhất ở Nhật, dường như mối quan tâm của xã hội Nhật đến tin tức thế giới chỉ bằng nửa mối quan tâm đến tin tức thể thao. Điều đó không thể hiểu nổi đối với tờ Le Monde hay tờ Libération. Cần phải nhấn mạnh rằng khối công chúng Nhật đọc một tờ báo như tờ báo như tờ Asahi có thể được thông tin tốt hơn những người Châu Âu đọc những tờ báo bình dân. Nhưng những người Nhật có trình độ học vấn cao, trong số nửa triệu nói trên, rõ ràng được thông tin ít hơn những độc giả của tờ Le Monde. Bởi vậy vì sao ở Nhật Bản, trong chính phủ lẫn ở các xí nghiệp hàng đầu, các cán bộ cao cấp, các chuyên gia hiểu biết làu làu công việc của học, nhưng rất dốt về mọi điều khác. Một chuyên viên về xe hơi thì không có ai bì kịp anh ta trên lĩnh vực đó, nhưng anh ta lại chẳng biết gì ngoài lĩnh vực ấy cả, chẳng hạn như về tàu hỏa, hay máy bay, chưa kể là anh ta không thể phát biểu được gì về tình hình kinh tế chung hoặc tình hình chính trị - xã hội. Những người đó không biết gì hết, hoàn toàn không biết. Đấy là tóm tắt một trong những khó khăn mà Nhật Bản gặp phải nếu Nhật Bản muốn mở cửa ra bên ngoài. Vậy, ông cứ thử nghĩ xem khi nó lại phải xác định cả một đường lối đối ngoại nhất quán thì làm thế nào được ?” Nhưng phải chăng cần chờ có những đảo lộn trong tương lai ở Nhật Bản? Nhiều nhà ngoại giao Nhật Bản nói là cần có để có lẽ tháo ngòi nổ cho những kẻ thiếu kiên nhẫn ở phương Tây. Nhưng theo Kato Shuichi tỏ ra trung thực: “Tôi không nghĩ rằng sẽ có những đảo lộn lớn xảy ra trong những năm sắp tới, cho là 10 năm sắp tới đi. Xu hướng hiện nay sẽ tiếp tục nghĩa là ưu tiên cho kinh tế và công nghệ. Nước Nhật vẫn là một tiểu quốc về phương diện chính trị.” Một sự mất cân đối như vậy có nguy cơ khiến chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy không?
“Chủ nghĩa dân tộc thì có thể. Nhưng là một thứ chủ nghĩa dân tộc chưa kết tinh thành một ý thức chính trị. Cũng như chưa kết tinh thành một triết lí chính trị. Những tình cảm về thứ chủ nghĩa tân- dân tộc thì còn rất phân tán, rất mơ hồ, song cũng rất phổ biến, nhưng không đạt đến trình độ kết tinh vào một chương trình chính. Tất nhiên là có ngoại lệ thôi. Có những người theo đường lối tân - dân tộc chủ nghĩa, như Shintaro Ishihara. Nhưng những người đó rất ít và không có ảnh hưởng lắm.” Nước Nhật nói “không” với chủ nghĩa quân phiệt Như phần đông giới trí thức Nhật Bản, Kato Shuichi cho rằng nguy cơ chủ nghĩa quân phiệt hiện nay là ở Nhật Bản là hoàn toàn không có. “Cái gì cản trở sự phục