Nước Nhật mua cả thế giới

phần còn lại của thế giới. Khác là vì từ

phần còn lại của thế giới. Khác là vì từ

phần còn lại của thế giới. Khác là vì từ lâu họ bị cô lập và vì ngôn ngữ của họ rất khó học. Không có một dân tộc nào như họ ở châu Á. Họ không hẳn là người châu Á mà họ là người Nhật. Từ đó, họ cố gắng thiết lập một đường lối về xã hội công nghiệp. Với tôi, tôi không hề nói “nước” Nhật. “Nước” Nhật không tồn tại. Đó là một xã hội công nghiệp phát sinh từ đường lối công nghiệp, có nghĩa là khuếch trương, là lợi nhuận tối đa, doanh số tối đa. Do đồng yên là đồng tiền rất mạnh, người Nhật hiểu rằng cách cửa thị trường thế giới đã đóng lại. Cho nên, họ đầu tư vào Pháp và ở các nơi khác. Điều này xưa cũ rồi còn gì. Các tập đoàn Pháp như Péchiney, Rhône-Poulenc cũng đã hành động tương tự, với những phương tiện thấp hơn khi đầu tư vào Mỹ. Đó là cách làm cổ điển. Duy chỉ có điều là toàn bộ những việc ấy đã làm tăng thêm sức mạnh của Nhật Bản. Quả là họ rất tốt. Và chẳng có gì khác”. Hiện nay, phải chăng không nước nào trên thế giới có thể đơn độc đóng vai trò “bá chủ kinh tế ?”. “Không. Nhưng như vậy có nghĩa là người Nhật có thể hủy hoại. Họ đang ở vào trường hợp như người Mỹ những năm 60 và 70 hoặc 75. Nghĩa

là có thể hủy hoại. Từ “hủy hoại” có vè quân sự. nhưng đó là những tình thế cực kỳ đau khổ cho nhiều người như chúng ta. Không thể có sự cạnh tranh cục bộ được. Đó không phải là những món ăn theo đơn đặt hàng. Anh chấp nhận cạnh tranh, và lúc đó anh phải tự vệ, nghĩa là phải làm tốt hơn”. Nước Nhật sẽ làm châu Âu hồi sinh Có một so sánh thú vị, vì nhiều người thích so sánh việc đầu tư của Nhật Bản bây giờ với việc đầu tư của Mỹ cách đây 20 năm. Cả Mỹ trước đây và Nhật Bản hiện nay đều làm dấy lên làn sóng phản đối ở châu Âu. Nhưng tư bản Mỹ lúc đó đã có vai trò sinh lợi. Nó đã hồi sinh nền công nghiệp châu Âu. Liệu Nhật Bản có thể có vai trò tương tự như vậy không ? “Có chứ, tất nhiên là có. Trừ trong một số ngành mà chúng ta thấy cần bảo vệ. Điều này rất rõ. Tôi lấy một ví dụ: Hôm qua tôi tiếp ông chủ tịch hãng Canon. Hãng Canon vừa xây dựng ở Pháp một xí nghiệp sử dụng 600 công nhân để sản xuất máy photocopie, máy Fax và các loại máy tương tự. Đó là ngành công nghiệp mà Pháp còn thiếu. Bởi vậy, người Nhật đến là rất hay. Nhất là hôm qua, ông chủ tịch Canon lại báo cho tôi biết ông sẽ xây dựng một trung tâm nghiên cứu cho quy mô 100 người. Quan trọng lắm, 100 nhà nghiên cứu ! Đó là một trung tâm lớn. Ông chủ tịch hãng Canon ấy có một chương trình rất đồng bộ. Có nghĩa là ông ta sẽ xây dựng xí nghiệp sản xuất sản phẩm ở Pháp và bán ở nước ngoài như lời ông hứa. Canon sẽ có ba trung tâm nghiên cứu trên thế giới: một ở Anh, một ở Mỹ và trung tâm thứ ba ở Pháp. Tôi thấy đây là điều tốt. Tôi nhiệt liệt khuyến khích ông ta, tôi nhờ ông chuyển đến đồng nghiệp của ông những điều mong muốn của chúng tôi. Nếu ông ấy đến nói với tôi rằng hãng Toyota muốn xây dựng một xí nghiệp sản xuất xe hơi ở Pháp, tôi cũng đồng ý cả hai tay. Đối với ngành công nghệ mà chúng ta không có hoặc đã mất, thì ta cần tăng cường. Nếu thuộc thẩm quyền của tôi thì tôi chấp thuận ngay. Ông nên hiểu rằng 100 cán bộ người Pháp làm việc theo phương pháp Nhật Bản và sẽ tiếp thu phương pháp đó thì không phải là chuyện nhỏ đâu. Rõ ràng là nếu như những người chủ Nhật Bản muốn cán bộ nghiên cứu mà họ sử dụng làm ăn có hiệu quả, thì họ không thể giấu được nền công nghệ của Nhật Bản. Đó, ta có 100 người Pháp sẽ thừa hưởng được nền công nghệ Nhật Bản trong một lĩnh vực mà chúng ta không biết, hoặc yếu kém. Điều đó rất có lợi. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần thận trọng về những gì liên quan

đến đầu tư của Nhật Bản. Nhưng, nói chung, đó là một cách để “bẫy” người nước ngoài. Một khi người nước ngoài xây dựng một cơ sở ở đất anh, thì đương nhiên anh đã có cơ sở đó”. Roger Fauroux nói về kinh nghiệm của mình: “Hồi tôi làm chủ tịch Saint-Gobain, tôi đã xây dựng những xí nghiệp ở những nước mà chúng tôi có công nghệ đi trước họ một bước, như ở Brésil, Mexique, rải rác khắp thế giới. Chúng tôi làm việc với người Brésil và đem đến cho họ nền công nghệ tốt nhất của nước Pháp. Chúng ta đem đến cho họ không phải là những chiếc xe điện cổ lỗ của Toulouse, mà là cái tinh túy nhất của chúng ta. Có nghĩa là những kỹ sư người Brésil của xí nghiệp chúng ta đã tiếp thu trọn vẹn công nghệ của chúng ta. Brésil hâm mộ nền công nghệ Pháp. Không phải chúng tôi có đầu óc thực dân, đế quốc, mà đó là người Brésil đã “bẫy” chúng ta. Điều đó có ý nghĩa đối với tất cả các nước tương tự”. Nhưng phải chăng người Pháp từ lâu đã quên lãng nước Nhật và Viễn Đông ? – Ông bộ trưởng tán thành: “Nhưng ông biết không, đâu phải dễ ! Không phải chỉ mỗi mình chúng ta gặp khó khăn như vậy. Ông hãy thử đếm xem có bao nhiêu công ty châu Âu đặt được cơ sở ở Đông Nam Á. Không có bao nhiêu ! Tuy nhiên, tại Nhật Bản, chúng ta đã tiến hành được nhiều bước quan trọng. Hãng IBM đã thành công lớn. Ngoài thắng lợi đó của người Mỹ, ông hãy xem một loạt thành đạt khác: Air Liquide đã có mặt khá lâu. Elf, Rhône-Poulenc và Sanofi cũng vậy. Sản phẩm Pháp có mặt ở thị trường Nhật Bản trên những lĩnh vực mà người Nhật còn yếu. Họ không giỏi lắm trên lĩnh vực dầu lửa. Lĩnh vực trực thăng cũng vậy. hãng Aerospatiale bán trực thăng cho họ. Có rất nhiều lĩnh vực mà người Nhật không giỏi: hơi lỏng, khí lỏng, hóa học. Hãy xem những ngành hóa học chính: những nhà hóa học giỏi đều là người châu Âu. Đặc biệt là người Đức, rồi đến người Pháp”. Roger Fauroux chứng minh: “Người Nhật không có dầu lửa, do đó họ không thể làm như chúng ta đã làm. Có nghĩa là không có dầu lửa thì họ không thể xây dựng những công ty dầu lửa như chúng ta. Về mặt này chúng ta mạnh hơn họ. Trong một số

lĩnh vực khác cũng vậy, do những lý do quân sự mà đến nay họ không thể nghiên cứu. Ở lĩnh vực du hành vũ trụ và không gian, chúng ta đã thắng điểm. Chúng ta nào có yếu. Trong lĩnh vực mà tôi có biết đôi chút, như thủy tinh, chúng ta trao đổi kỹ thuật ngang cỡ với Nhật Bản, chẳng có chút mặc cảm nào. Trong lĩnh vực thủy tinh, Saint-Gobain không sợ gì người Nhật”. Người ta nói người Nhật có kỹ thuật sản xuất khác chúng ta. Cả thói quen làm việc cũng khác. Từ lúc này, cuộc tranh luận vượt ra ngoài khuôn khổ kinh tế, chuyển sang vấn đề xã hội. Để cạnh tranh có hiệu quả với người Nhật, người Pháp có cần thay đổi phần nào xã hội của mình không ? Roger Fauroux ngạc nhiên về câu hỏi, trả lời ngay: “Không, chắc chắn là không. Trước hết, tôi không tin là sẽ phải đi đến mức đó. Trở thành Nhật Bản ư ? Tôi không thể tưởng tượng nổi. Phải với phương pháp của ta, nền văn hóa của ta, chúng ta cố gắng làm tốt như họ”. Điều đó có thể làm được không ? Ông Bộ trưởng thú nhận, vẻ thiếu tự tin: “Tôi không rõ. Trong lĩnh vực văn hóa quả rất khó khẳng định. Những gì tôi có thể nói với ông là: chúng ta có những điểm mạnh, ví dụ trong lĩnh vực nếu không nói quá đáng là ổn định xã hội, chúng ta đã trở thành một trong những nước ít có bãi công nhất thế giới. Đáng ngạc nhiên chứ ! Tôi đã kể lại câu chuyện này biết bao lần. (Cô thư ký của tôi, Clotilde, lại sắp ngáp rồi đấy...) Tôi đã tiếp một nhà công nghiệp người Đức, chủ hãng Bosch. Ông ta đến bảo cho tôi biết ông ta đã đầu tư vào Pháp. Tôi hỏi ông ta tại sao ? Ông ta trả lời: “Vì nước Pháp là nước ổn định về mặt xã hội, rất đáng chú ý”. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng quả thật là như thế. Ở nước chúng ta, việc đình công hiếm thấy, ngoại trừ ở khu vực dịch vụ công cộng. Hơn nữa, ở nước chúng ta, những cuộc đình công gần như biến mất. Đáng chú ý chứ ? Tôi nghĩ rằng đó không phải là tiếng tăm trước kia. Mà là do chúng ta đã có những tiến bộ trong việc tiếp nhận thực trạng công nghiệp. Thực trang công nghiệp hiện nay đã được tiếp nhận ở Pháp. Bây giờ người ta không nói, hoặc rất ít nói đến siêu lợi nhuận. Hai là, người Nhật sẽ ra sao ? Tôi không biết ! Tôi có đọc một bài báo nói rằng ở trong nước họ đã bão hòa. Hãy nhìn vấn đề nô lệ phụ nữ. Phụ

nữ đã bắt đầu nổi loạn, họ đã bắt đầu cựa quậy rồi, vậy là hơi rồi đấy !” (Cô thư ký của ông Bộ trưởng cười”. Nhưng nhiều người Nhật quả quyết rằng sự suy thoái của nước Nhật không còn xa. Chưa ai có thể đứng đầu lâu được. Sự vật chuyển động theo những chu kỳ. Đến năm 2020, liệu người Nhật không phải là một xã hội già nua nhất thế giới sao ? Giới trẻ cũng thay đổi. Não trạng cũng biến đổi chứ bộ trưởng ? – Roger Fauroux nhìn tôi, đắn đo, rồi trả lời: “Tôi tin điều đó là đúng. Quả là đang có những bức bách. Như thời gian lao động quá dài. Liệu cuối cùng họ sẽ thay đổi chăng ? Có thể có mà cũng có thể không. Trong lĩnh vực này, tôi không dám nói gì trước. Tôi đã nói với ông là tôi không muốn làm một cuộc phân tâm tập thể”. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch tự hại mình Một châu Âu theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đối với Nhật Bản sau năm 1992 có cơ may thoát khỏi tình trạng hiện nay không ? “Tốt nhất châu Âu không nên theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch. Trên một số ngành như xe hơi, một số sản phẩm điện tử, cần phải đặt những hàng rào quan thuế tạm thời, điều này tôi tán thành. Nhưng đó phải là tạm thời, mềm dẻo, có phạm vi và rất đặc biệt. Ông biết đấy, người ta không thể bảo hộ mậu dịch một cách hữu hiệu và thường mắc sai lầm. Đối với tôi, đó là điều chắc chắn. Nếu anh muốn nền công nghiệp của anh tàn lụi, cách tốt nhất như người ta đã chứng minh là cứ bảo hộ lấy nó. Điều đó không bao giờ sai cả. Trong chế độ bảo hộ mậu dịch, những nhà công nghiệp dễ trở nên ngây ngô, mất tính chiến đấu”. Cô thư ký của Roger Fauroux xen vào câu chuyện và nói khá chính xác rằng chế độ tự bảo hộ mậu dịch là điều người Nhật đã làm trong những năm 60. Ông Bộ trưởng cười và tiếp: “Trong thời kỳ cất cánh, như vậy là đúng. Nhưng tôi nói về nước Pháp bây giờ. Nước Pháp và châu Âu. Nếu tôi là Bộ trưởng công nghiệp Brésil thì tôi không nói với ông điều đó. Nếu tôi là thủ tướng Sénégal, cũng không. Khi anh ở vị trí thấp kém quá mức, phải biết bảo hộ mậu dịch trong một thời gian nào đó. Và chính trên tinh thần đó, tôi nói với ông về vấn đề

xe hơi. Rõ ràng chúng ta đang bị thất thế, chúng ta phải bảo hộ mậu dịch. Trên lĩnh vực điện tử cũng vậy”. Điều đó có nghĩa là cần có những hạn nghạch (quotas) nhập trong một thời gian nhất định ? “Đúng vậy, nhưng điều này không có nghĩa là bảo hộ mậu dịch trên tất cả các lĩnh vực. Làm như vậy, chúng ta sẽ càng yếu hơn. Người Nhật đã phục vụ chúng ta, ông biết đấy. Họ đã mời chúng ta nỗ lực vươn lên. Tôi chắc không cần mô tả mọi việc đó với ông”. Robert Guillain: Nước Nhật không muốn thống trị Trước cuộc tranh luận trái ngược nhau, đối chọi nhau với lý lẽ phân tán như vậy, tôi đã hỏi Robert Guillain. Thật vậy, đã có được mấy người Pháp tích lũy được nhiều kinh nghiệm về nước Nhật như ông già 80 tuổi này ? Ông đã sống ở châu Á suốt nửa quãng đời mình, chủ yếu là sống ở Nhật Bản. Hơn 10 năm sau khi ông rời khỏi nước Nhật, ở Tokyo, tên tuổi ông vẫn nổi tiếng trong giới báo chí. Ông có rất nhiều bạn thân ở Tokyo. Ông còn tiếp tục gửi bài cho báo Ashahi Shimbun sau khi ông trở về Pháp. Ông rất yêu nước Nhật, dù đôi khi phê phán những năm tháng sống ở đảo quốc này. Robert Guillain không có kẻ thù. Mọi người đều cảm mến ông sâu sắc. “Đó là một đại nhân”. Christian Sautter nói với tôi như vậy. Christian Sautter nguyên là cố vấn của tổng thống Pháp ở điện Elysée, chuyên gia về Nhật Bản và nay là thị trưởng Paris. Các cuốn sách của Guillain đều có tiếng vang lớn. Dù tuổi đã cao, ông còn định viết thêm một tác phẩm nữa. Cuốn sách này sẽ đúc kết những kiến thức của ông về nước Nhật. Ông thường nở nụ cười khi đề cập đến vấn đề ông yêu thích. Niềm say mê của ông đối với nước Nhật vẫn không nguôi và ông cảm thấy một niềm thích thú tự nhiên khi gợi lên vai trò của đất nước này trong thế giới đương đại. Vậy thì phải chăng nước Nhật đang tiến hành cuộc chinh phục thế giới ? “Không, không hề có. Điều đó tuyệt đối không bao giờ là ý định của họ, cũng không phải là tâm trạng của họ. Có thể điều đó còn rơi rớt trong một số cái đầu thừa kế di sản của nước Nhật đã bị ngã quỵ trong chiến tranh vừa qua. Song thực ra nước Nhật đang tìm một con đường mở ra với thế giới và điều đó đương nhiên là người ta âu lo. Nhưng tôi cho rằng đó chỉ là

một thứ “phụ phẩm” của sức năng động, sự hiệu quả to lớn của người Nhật. Đó không phải là cuộc chinh phục thế giới. Hoàn toàn không phải. Người ta muốn gọi nó là gì thì tùy, nhưng tôi thì cho rằng đó là sự “quốc tế hóa” nền kinh tế Nhật Bản. Chúng ta đang bước vào, đúng hơn là “đã” bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Ngay lúc này, chúng ta đang vượt qua năm 2000 và trước mắt chúng ta thế giới tương lai đang được tạo dựng lại. Hình như chúng ta thiếu phấn khởi, và hơi sợ hãi. Chúng ta không đọc nhiều. Báo chí đáng lẽ phải thông tin nhiều hơn các sự kiện đang diễn ra trên thế giới ngày nay”. Về nước Nhật, ý của tôi như thế này: Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên của những đại lượng. Nước Nhật tự nhận thấy mình quá bé nhỏ trong một thế giới các đại lượng. Những đại lượng như Liên Xô, Trung Quốc sẽ là những đại lượng bị vỡ tung, như Liên Xô đã vỡ thành những Xô Viết, tuy rằng vẫn còn hình thức liên bang hay một hệ thống thống trị nào đó. Nước Nhật để đối đầu với những khối ấy, theo cách của họ chính là phân tán và thiết lập ở khắp nơi những cơ sở của Nhật Bản. Về cộng đồng châu Âu thì thiết chế này đang hình thành nhanh chóng. Nhưng sự cố kết của châu Âu diễn ra chậm hơn, bởi vì sự hội nhập của các nước Đông Âu sẽ làm cho quá trình châu Âu hóa chậm lại. Trong lúc đó, nước Nhật sẽ có thời gian tiến hành một chiến dịch, mở đầu từ nước Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Tiếp đến mạnh hơn là ở Pháp, Đức và tất nhiên là cả ở Đông Âu. Đối với nền công nghiệp Nhật Bản, đó là những mảnh đất quá tốt. Người Nhật đến đó với vốn lớn không ai bì kịp, dù là người Đức hay bất cứ ai khác. Cuối cùng người Nhật sẽ đứng chân được ở cộng đồng châu Âu. Chúng ta sẽ được biết một quá trình châu Âu hóa Nhật Bản. Bởi vậy, chúng ta không thể nói rằng Nhật Bản đi chinh phục thế giới. Đây là một vấn đề khác hẳn. Đó là việc xây dựng một thế giới mới bước vào thiên niên kỷ thứ ba, trong đó Nhật Bản không phải là kẻ chinh phục, vì họ không có ý định xâm lược các dân tộc, mà đơn giản là một đất nước có mặt ở khắp nơi, thể hiện toàn bộ các khả năng to lớn của nó”. Nước Nhật của thiên niên kỷ thứ ba Tuy nhiên, tôi lưu ý ông cụ Robert Guillain; dù có hay không có ý thống trị, thì quá trình phi địa phương hóa trên quy mô lớn của các công ty Nhật

và sức mạnh tài chánh to lớn của Nhật Bản, trên thực tế chính là sự thống trị. Nhưng Guillain vẫn vững tin vào tương lai: “Tôi nghĩ rằng người ta không thể trả lời câu hỏi của ông được. Không loại trừ thực tế đó. Nhưng nền kinh tế của thiên niên kỷ thứ ba sẽ cực kỳ năng động và cực kỳ cạnh tranh. Nhưng tôi không thấy có lý do nào để cuối cùng nước Nhật sẽ thống trị cả nước Mỹ. Nước Mỹ đã có lúc biểu hiện suy yếu, nhưng người ta có thể đoán chắc rằng nước Mỹ đâu có để cho tên mình bị xóa khỏi bản đồ. Nước Mỹ không thể để cho nước Nhật thống trị mình”. Sức mạnh của nước này (Nhật) sẽ dẫn nó đến đâu ? Phải nói thế nào về những khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa ? Nước Nhật có thể một lần nữa bị những con quỷ nguy hiểm cám dỗ không ? Guillain trả lời: “Tất nhiên là có thể có những biến đổi và những biến động. Cho đến nay, có thể chứng minh rằng khi nước Nhật có những bối rối nghiêm trọng, thì đó là những vấn đề đến từ bên ngoài chứ không phải từ vận hành bên trong của bộ máy. Bộ máy bên trong luôn chạy khá tốt. Đã có những cú sốc như cú sốc đồng yên, cú sốc dầu hỏa, song qua đó, nước Nhật đã đứng vững như con tàu trong cơn bão tố, điều này chỉ ra rằng con tàu được điều khiển bởi những hoa tiêu giỏi. Tôi không hiểu tại sao lại không để cho nó tiếp tục như vậy. Song có những hiện tượng thuộc lĩnh vực tâm lý xã hội có tầm quan trọng lớn hơn chúng ta tưởng. Nước Nhật là một sân khấu của những biến đổi to lớn mà người ta chỉ mới bắt đầu nhìn thấy và tìm hiểu. Nước Nhật, trước kia nghèo nàn, đạm bạc, đã biết từ sự nghèo nàn và lạc hậu ấy làm nên phân nửa sức mạnh của mình. Và có thể Nhật đang chuyển biến, từ một nước giàu có thành một nước trục lợi, thành một nước biếng nhác – nếu ta giả thiết có người Nhật biếng nhác, điều đó hơi khó tưởng tượng – nhưng tôi chấp nhận rằng nước Nhật có bắt đầu chậm bước. Thế hệ mới, theo ý kiến chung là một thế hệ đáng kinh ngạc, họ không có những phản ứng như trước, tức là những phản ứng của lòng yêu nước, của tình đoàn kết, của tình cảm gắn bó với tập thể như từng có ở một nước Nhật cổ xưa. Ngược lại, thế hệ này lại học đòi chủ nghĩa cá nhân, và bắt đầu làm việc theo đơn vị cá thể”.

Nước Nhật muốn trả đũa, không phải trả thù Một câu hỏi nữa về nước Nhật tương lai. Sau khi được bảo hộ dưới đôi cánh của nước Mỹ, trở thành hùng cường, liệu nước Nhật có thể trở thành “kẻ giết cha” ? Nước Nhật sẽ giết nước Mỹ chăng ? “Tôi không hề nghĩ nước Nhật có ý định ấy. Nhưng tư tưởng trả đũa sự thua trận của mình thì chắc có. Hơn nữa, cũng có thể họ đã đi quá sự trả đũa, và bây giờ họ có thể nói với Mỹ: “Trước đây các anh rất mạnh, nhưng bây giờ chúng tôi có sức mạnh hiệu quả hơn các anh, bởi chúng tôi sử dụng các phương thức hòa bình; chúng tôi không làm những chuyện điên rồ như các anh là đã ném biết bao tiền của vào ảo tưởng phòng thủ quân sự và chiến lược chiến tranh hạt nhân. Chúng tôi đã đứng ngang hàng với các anh”. Đấy là sự trả đũa, không phải sự trả thù”. Về nước Nhật, đã có những lời phê phán cho rằng: “Khi người ta yêu cầu Nhật nhả bớt mồi thì người ta chỉ nhận được thứ ngôn ngữ của kẻ mạnh” Nên nghĩ thế nào về điều đó ? “Khi đề cập đến nước Nhật, ngôn ngữ mà người Nhật hiểu, không phải là ngôn ngữ của sức mạnh, mà là ngôn ngữ của cạnh tranh. Nước Nhật hiện đại sinh ra từ cạnh tranh. Nó lên lên từ cạnh tranh trên bình diện cả nước cũng như trên bình diện từng con người. Bởi vì mỗi người Nhật phải cạnh tranh với kẻ bên cạnh bắt đầu từ năm 7 tuổi, khi bước vào trường học. Họ vẫn là bạn bè với nhau ở trường, nhưng giữa họ đã có sự ganh đua rất căng mà chúng ta tuyệt nhiên không thể hiểu được. Cho nên đối với nước Nhật chỉ có thế sử dụng sức mạnh bằng một sự cạnh tranh ngang sức. Chắc chắn họ sẽ nhạy cảm khi có ai đó bắt đầu đuổi kịp hoặc vượt họ trong cạnh tranh. Lúc đó có lẽ nước Nhật chấp nhận một sự mềm dẻo hơn và biết điều hơn trong thương lượng. Thường thì nước Nhật không biết điều trong thương lượng, bởi họ thường thấy nước Pháp gởi sang những quan chức khá nhẹ dạ. Đã bao lần người ta thấy một quan chức Pháp đến Tokyo để rồi bị người Nhật đánh giá: “Đó là loại người đi lẹt đẹt theo chúng ta. Gã ta dốt nát mà lại kiêu ngạo”. Và người Nhật đáp lại, không phải bằng sức mạnh mà đơn giản là bằng sự vượt trội của họ trong kinh tế”. Nước Nhật chuẩn bị thế giới ngày mai

Phải nói thế nào về những biện pháp bảo hộ của nước Nhật ? Về chuyện người Nhật thường không tôn trọng nguyên tắc tự do – mậu dịch ? “Nước Nhật hôm nay đã được thành hình vào khoảng năm 1850, vào một thời kỳ mà người ta không nói đến khái niệm “mở cửa” hay một cái gì đó tương tự. Ít ra tôi cũng không tin rằng hồi đó đã có những công thức như vậy. Nước Nhật đã được sinh ra từ hệ thống lò ấp trứng của nhà nước, bất chấp mọi phân biệt giữa chủ nghĩa nhà nước và chủ nghĩa tự do, và nó chỉ sử dụng phương thức: nhà nước nhìn thấy nhu cầu của đất nước và lên kế hoạch cho nhu cầu đó. Ở giai đoạn đầu, điều này giống như chủ nghĩa xã hội. Nhà nước lập kế hoạch phát triển cần thiết, tập hợp mọi người và tuyên bố: “Đây là điều các bạn sắp cùng làm. Tôi cho các bạn bao nhiêu đây tiền và hãy làm đi trên cơ sở đoàn kết hợp tác với nhau”. Mọi người bắt tay vào việc và 10 năm sau trứng ấp xong, lồng ấp được dỡ đi, thế là Nhà nước tiêu vong. Cái hệ thống đó sản sinh ra những nhà công nghiệp hiện sẵn sàng để tự do cạnh tranh. Bởi vậy, nước Nhật đã theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, nhưng chỉ trong một thời gian nhất định. Biện pháp đó nằm trong chu kỳ phát triển mà nước Nhật luôn biết tổ chức và quản lý hết sức thành công. Bằng chứng gần đây nhất là lĩnh vực tin học”. Robert Guillain nói tiếp: “Mặt khắp, nước Nhật là nước biết xác định và chuẩn bị. Họ xác định cực kỳ chính xác đâu sẽ là mũi nhọn thị trường cho 20 năm sau. Họ chuẩn bị điều đó từ rất lâu. Chẳng hạn như những đạo luật cơ bản về xây dựng ngành tin học: kế hoạch phát triển này ngay từ năm 1957 đã tính đến viễn ảnh của những năm 1977 và 1987. Điều đó chứng tỏ nước Nhật đã dành gần 20 năm để leo lên vị trí hàng đầu. Đối với họ, khi đã quyết là làm, làm giỏi, tổ chức tốt. Sự việc tiến triển như thế nào ? Những tập đoàn lớn thống nhất với nhau và bắt tay vào làm một thời gian. Sau đó, đến một lúc người ta thả lỏng dây cương cho từng tập đoàn. Thế là các tập đoàn lớn xâu xé nhau, hoặc cạnh tranh với nhau không thương tiếc và trở nên rất mạnh”. Tại sao lại thù ghét đến thế ? Có phải năm 1945, người Mỹ đã quá tốt với người Nhật chăng ? Có phải nước Nhật đã thiếu lòng hối hận ?

“Tôi nghĩ rằng ở Tokyo lúc đó không có bầu không khí sám hối về một tâm trạng phạm tội hay trách nhiệm. Người Nhật không bao giờ lại lao vào những việc đại loại như thế. Họ không biết truy lùng những tội phạm chiến tranh, bởi cả tập thể người Nhật đều cảm thấy liên đới sâu sắc với nhau và họ không muốn đẩy những người có tội nặng nhất trong số họ ra trước tòa. Nói cách khác, tôi nghĩ rằng lúc ấy không thể có được một sự tự chỉ trích từ đất nước này, một đất nước đã hoàn toàn bị đánh gục, và đã bị trừng phạt quá khủng khiếp”. Vâng, nhưng nước Đức, người ta đã buộc họ phải thừa nhận sai lầm của họ, buộc họ phải sửa lại những sai lầm đó. Tội ác của nước Nhật có phải cũng ghê tởm ngang với của nước Đức không ? Guillain nói dứt khoát: “Đúng, tội ác đúng là như thế, song bản chất của nó có khác. Tức là tội ác đó không được tổ chức một cách có ý thức (như ở Đức). Vấn đề này rất tế nhị. Nhưng tôi nghĩ sự tàn bạo của tội ác chiến tranh ở người Nhật xuất phát từ trong máu Samourai thời Trung cổ, từ những cuộc chiến tranh ngày xưa, từ sự tàn bạo Á Đông. Nhưng nước Nhật không có một Mein Kampf như Đức, trái với điều bà Edith Cresson nói. Không hề có Main Kampf ở Nhật Bản”. Cuộc cạnh tranh giữa phương Tây và Nhật Bản hiện có thể làm hồi sinh châu Âu không ? Và phải chăng châu Âu chỉ có cách là chặn đường chàng khổng lồ này ? – Guillain lạc quan: “Nhất định là thế. Tôi tin chắc như vậy. Tôi tin rằng nếu vượt lên trên hận thù và khủng bố, châu Âu có cơ may cống hiến trí tuệ, nền công nghiệp của họ, để xây dựng một tổ chức mới, theo hình thức liên bang tự do và thuận lợi cho sự phát triển các khả năng của con người. Châu Âu sẽ rất rất mạnh. Nền văn hóa lâu đời của châu Âu sẽ có dịp phát triển viên mãn, nổi bật trong thế giới mới, có thể hơn châu Mỹ nhiều, tiến xa hơn châu Mỹ về văn hóa. Kho tàng văn hóa và kinh nghiệm châu Âu thoát khỏi mối đe dọa hạt nhân, sẽ làm nên nhiều điều kỳ diệu”. Những người theo chủ nghĩa “xét lại” của Mỹ Khi sức mạnh của Nhật bắt đầu xâm phạm sức mạnh của Mỹ và đã gây tác hại thực sự, qui chế liên minh chiến lược vẫn còn giúp Nhật Bản né

tránh sự phản kích của Mỹ trong một thời gian. Với quy chế ưu đãi này, nước Nhật dù nằm trong phe phương Tây, lại là kẻ thù lợi chính trong cuộc chiến tranh lạnh. Bởi vì không chỉ trục lợi nhờ sự bảo hộ của Mỹ, Nhật Bản còn tránh tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang đã làm khánh kiệt nhiều nước khác. Nước Mỹ đã không sợ hao tổn để có mặt ở Nhật Bản và châu Á. Họ cho không cái dù hạt nhân, bảo vệ Nhật Bản khỏi mọi đe dọa quân sự của nước ngoài. Nước Mỹ thì cứ tổn phí vô kỳ tận, còn Nhật Bản thì lại sử dụng đồng vốn tích lũy được để phát triển. Nước Nhật được bảo vệ như một nàng công chúa. Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, rồi Ronald Reagan và phần nào George Bush, tất cả đều nỗ lực duy trì mối quan hệ song phương về quân sự và chiến lược với Nhật Bản, cho đó là sống còn đối với quyền lợi của Mỹ trên thế giới. Tuy nhiên, thời kỳ ấy đã qua rồi, vì hai lẽ. Một là: nước Mỹ đã bắt đầu lo lắng về quy mô sút giảm của mình ngày càng nghiêm trọng, nhất là khi so sánh với sức mạnh của nước Nhật đang lên đến đỉnh cao. Mỹ không còn phương cách nào để độc quyền đóng vai trò sen đầm quốc tế. Hai là: đánh giá lại cơ sở của liên mình Mỹ-Nhật. Sự sụp đổ của nhiều nước cộng sản và sự kết thúc chiến tranh lạnh càng lúc càng cho thấy chiến thắng của sức mạnh kinh tế đối với sức mạnh quân sự, chiến thắng của chủ nghĩa thực dụng đối với các ý thức hệ. Cùng lúc, những đòi hỏi cấp bách về địa lý – chiến lược làm cơ sở cho liên minh Mỹ-Nhật đã trở nên lỗi thời. Cặp đôi Mỹ-Nhật không phải tan rã trong ngày một ngày hai, nhưng Mỹ càng ngày càng không còn cảm thấy ngại ngùng để tách khỏi Nhật Bản và lên tiếng công kích đất nước mặt trời mọc. Hiện nay, những lời công kích cay độc nhất đối với Nhật Bản lại từ phía người Mỹ. Một số người nguyên là quan chức của chính phủ Mỹ đã từng hiểu rõ quá trình thăng trầm giữa Washington và Tokyo từ trong ruột. Số khác là những giáo sư đại học. Báo chí Mỹ đã gọi ngay các giới này là “xét lại”, một cái tên mà những kẻ có liên quan kịch liệt phản đối. Những năm gần đây sách xuất bản ở Mỹ đã nói nhiều về vụ án nước Nhật. Hai lý thuyết gia người Mỹ về sự suy tàn của Hoa Kỳ và sự vượt trội của Nhật Bản là Clyde V.Prestowit, cựu cố vấn Vụ Nhật Bản của Bộ trưởng Bộ thương mại, và Chalmers Johnson, giáo sư đại học California ở San Diego và là chuyên gia về quan hệ quốc tế. Người thứ nhất là tác giả

cuốn sách nổi tiếng “Trading Places, How we allowed Japan to take the Lead”. Ấn hành năm 1988, cuốn sách giải thích tỉ mỉ tại sao người Mỹ là thủ phạm chủ yếu của chính sự phá sản của họ và sự ưu việt của Nhật Bản trong việc chạy đua để phát triển. Người thứ hai cũng là tác giả của một cuốn sách nổi tiếng không kém: “MITI and Japanese Miracke”. Cuốn sách giải thích nguyên nhân của phép lạ Nhật Bản, đặc biệt là vai trò trung tâm của cái tổ chức đáng sợ là MITI, tức là Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế. Cũng phải kể đến một người gốc Hà Lan sống ở Nhật Bản là Karel Van Wolferen, tác giả cuốn L’Enigme de la puissance Japonaise [91] . Qua từng trang tác phẩm, tác giả đã vạch trần cái gọi là huyển thoại Nhật Bản trong việc mở cửa và thâm nhập vào hệ thống tự do mậu dịch. Johnson Chalmers: Nước Mỹ, thuộc địa của Nhật Bản ? Có một hiện tượng mà bề ngoài rất lạ, nhưng thường lặp lại ở Nhật Bản: mỗi lần có một nhân vật nước ngoài nào chỉ trích hệ thống Nhật Bản, thì hầu như chắc chắn nhân vật đó sẽ được mời đến thăm Tokyo. Chính vì thế, bà Edith Cresson đã nhiều lần được chính phủ Nhật mời đến thăm. Bà Bộ trưởng Pháp nghĩ rằng một chuyến đi như vậy không có gì cấp bách. Karel Van Wolferen là khách mời của tổ chức “Nhà Nhật Bản” vào mùa xuân năm 1990. Nhiều người khác đã đến thăm Tokyo. Bằng cách đó, nhà chức trách Nhật hy vọng xóa được cái họ gọi là sự “hiểu lầm”. Một trong những chiến thuật thường dùng ở Tokyo là nói rằng nước Nhật bị hiểu không đúng ở nước ngoài. Cho nên, nếu như người nước ngoài chưa hiểu rõ sự việc, có cần giải thích ồn ào không ? Nhật Bản thường tìm giải pháp “làm thân”. Một phương thức thuần túy Á Châu: không nên nói giữa đình làng, mà hãy dàn xếp trong gia đình, ở chỗ kín đáo. Một giải pháp nữa là mua chuộc những kẻ gièm pha. Nhưng Johnson Chalmers không phải là người dễ bị bịt miệng. Mùa xuân năm 1990, ông đã trình bày những luận điểm chủ yếu trong những phê phán của ông nơi câu lạc bộ phóng viên nước ngoài ở Tokyo. Dưới đây là những trích đoạn có ý nghĩa nhất. Đáng chú ý là ông dành những lời công kích cay độc nhất cho chính nước Mỹ. Ông đặc biệt lấy làm tiếc về việc Mỹ đã không có một đường lối chiến lược về công nghiệp, và ông

phản ứng quyết liệt chống lại sự ngây thơ về ý thức của Mỹ trong cái ông gọi là chủ nghĩa tự do buông thả [92] . “Chắc đây là lần đầu tiên trong lịch sử có một đất nước (Mỹ) đang sắp bị xâm lược, mà trước đây chính nước đó đã phải trả giá đắt để bảo vệ kẻ đang xâm lược mình hôm nay. Đó là một tình thế không bình thường, chứa đầy căng thẳng, hiểm nguy và phản trắc. Nếu nước Mỹ không khắc phục được sự thâm thủng trong trao đổi mậu dịch Mỹ-Nhật mối quan hệ đối tác theo nghĩa chung của từ ấy, thì nước Mỹ sẽ không thể sống còn. Sự thâm thủng mậu dịch đầu tư của Nhật Bản vào Mỹ, chủ nghĩa dân tộc trong công nghệ, sức mạnh tài chánh của Nhật Bản, nguồn vốn dài hạn chủ yếu của thế giới hiện nay, là nguồn bù đắp cho tình trạng thâm thủng ngân sách và mậu dịch Mỹ: tất cả những điều đó đang làm gia tăng khả năng nổ ra một cuộc khủng hoảng kinh tế của Mỹ. Những vấn đề đó không hề đứng riêng rẽ, mà tạo thành một bộ phận của quá trình chuyển biến đang lay động những cấu trúc căn bản nhất của các quan hệ quốc tế”. Xin một ví dụ cụ thể ? “Nếu ông đi trên con đường liên bang 75 giữa Chio và Kentucky, ông chắc sẽ có ấn tượng ngay là vùng ấy đã bị xâm lược. Hình như chính sách đầu tư của Nhật Bản đã vượt khỏi mọi kiểm soát. Các khoản đầu tư của Nhật Bản nếu không được chế ngự và không gặp sự đối trọng thì sẽ dẫn đến đối kháng với Mỹ chứ không phải lệ thuộc Mỹ”. Sự sụt giá đồng đô la đối với đồng yên đã khiến cho Nhật Bản đầu từ ồ ạt ra nước ngoài. Johnson Chalmers nói tiếp: “Mọi thanh niên đi du lịch Honolulu bây giờ đều cảm thấy bị buộc mua ít nhất một căn hộ, còn không là một khách sạn do giá cả ở đó rẻ mạt. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân Hawai. Hơn nữa, có nhận xét rằng người Hà Lan, người Anh, người Canada nắm giữ nền kinh tế Mỹ nhiều hơn người Nhật. Điều đó rất đúng. Nhưng vấn đề ở đây là thiếu sự đối trọng giữa Mỹ và Nhật. Tôi có thể mở một thương vụ ở Amsterdam ngay ngày mai, cũng như ở Canada hay nơi nào khác, nhưng tôi không thể mở ở Nhật Bản”. Chalmers nói rõ thêm:

“Điều đó có nghĩa là anh sẽ phải đụng đầu với một cuộc cách mạng xã hội, nếu như chúng ta mua được nhanh và mua được nhiều số tài sản mà người Nhật thích gọi là những chiến tích của họ. Nếu như điều này lại diễn ra ở Nhật Bản...” Theo giáo sư Chalmers, trong vòng 20 năm đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đường lối Hoa Kỳ đối với Nhật dựa trên một nguyên tắc căn bản là: nước Nhật đem lại cho Mỹ một lợi thế chiến lược lớn và một lợi thế kinh tế nhỏ. Chính trên căn bản đó mà Hoa Kỳ mở cửa thị trường của mình cho xuất khẩu của Nhật Bản, bảo trợ cho Nhật Bản gia nhập những tổ chức quốc tế lớn như GATT [93] và OCDE [94] , tiến hành chuyển giao công nghệ không hạn chế cho Nhật Bản với giá tượng trưng và cho phép Nhật Bản đóng cửa thị trường của mình lâu hơn bất cứ nước đồng minh nào khác ở phương Tây. Đến năm 1987, có ba nhân tố làm người Mỹ phải sáng mắt ra về sự bội nghĩa của Nhật Bản: hãng Toshiba bí mật xuất sang Liên Xô những máy công cụ tối tân dùng cho nhu cầu quân sự, không hề được Mỹ đồng ý; Nhật Bản từ chối tham gia theo nghĩa vụ vào các nỗ lực chung của các nước đồng minh, để giữ cho nguồn dầu hỏa ở vùng Vịnh không bị tắc nghẽn trong cuộc chiến tranh Iran-Irak, trong lúc chính Nhật Bản là nước công nghiệp phụ thuộc nhiều nhất vào dầu hỏa của Trung Đông; cuối cùng là việc Nhật Bản từ chối mua chiến đấu cơ Mỹ và sự nài nỉ của Mỹ để cùng với Mỹ thiết kế một loại chiến đấu cơ khác, chiếc FSX. Chiến tranh lạnh chấm dứt và sự tan vỡ của khối các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới có đánh dấu sự chiến thắng của chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản không ? “Phe tư bản chủ nghĩa có thể đã thắng thế, nhưng trong thế trận này, đó chỉ là bằng chứng về sự ưu việt của kinh tế Mỹ so với kinh tế Liên Xô mà thôi. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt hẳn rồi, nhưng nước Nhật xem ra đã chiến thắng. Có thể là vì Nhật không bao giờ tuân theo luật chơi mà Mỹ và Liên Xô đã đặt ra”. Chalmers nói thêm: “Khi Mỹ nhìn lại phía sau, nước đang đuổi theo Mỹ không phải là một cường quốc quân sự như Liên Xô, mà là Nhật Bản một quốc gia buôn bán

(...). Nếu người ta đánh giá Nhật Bản là anh chàng khổng lồ về kinh tế và anh lùn về chính trị, theo như chữ dùng của nguyên bộ trưởng Tài chánh Nhật-Miyazawa, thì Mỹ đúng là anh khổng lồ về quân sự và anh lùn về kinh tế”. Làm gì bây giờ ? Mỹ cần tăng sức ép nhằm buộc Nhật Bản tăng viện trợ kinh tế cho thế giới thứ ba, mà không gắn điều đó với việc mua sản phẩm của Nhật Bản. Làm như vậy là để Nhật gánh thêm phần trách nhiệm quan trọng đối với chi phí của việc lực lượng Mỹ trú đóng trên đất Nhật, để Nhật Bản tham gia tích cực hơn vào nỗ lực của các tổ chức quốc tế duy trì hòa bình, để Nhật Bản tiếp nhận nhiều hơn những người tị nạn đến từ các nước khó khăn, và cuối cùng để Nhật Bản mở rộng hơn nữa thị trường cho những sản phẩm của nước ngoài. Tóm lại, nước Nhật phải gánh trách nhiệm của họ trên chính trường quốc tế, tương ứng với khả năng kinh tế tài chính của họ. Về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 59

Đang tải bình luận...