hồi vào đầu mình ý định bắt cử động vô thức của những sợi cơ bướng bỉnh nằm trong con mắt phải phục tùng lý trí và sự điều khiển của tôi. Thế là tôi đứng hàng giờ trước gương, cố xua đuổi ra khỏi đầu mọi ý nghĩ, tập trung tất cả sức lực nội tâm để ra lệnh cho hai con ngươi co lại hay nở ra theo ý mình, và
12 những buổi luyện tập dai dẳng của tôi đã đem đến kết quả thực sự khả quan, tôi xin cam đoan điều này. Mới đầu những cố gắng tập trung ý chí căng thẳng đến mức làm tôi đổ mồ hôi mặt mày biến sắc, cũng chỉ khiến cho đồng tử mắt tôi co giãn một tí và rất thất thường; nhưng dần dần về sau tôi đã thực sự điều khiển được chúng và có thể thu hẹp con ngươi lại chỉ còn là hai chấm nhỏ hoặc làm cho chúng nở rộng ra thành hai vòng tròn sẫm màu phản chiếu ánh sáng như gương, tuy nhiên phải thú nhận rằng bên cạnh sự thỏa mãn do thành công mang lại tôi còn cảm thấy một nỗi kính cẩn gần như sợ sệt, một thoáng rùng mình trước những điều bí hiểm ẩn giấu trong năng lực tự nhiên của con người. Một trò động não khác hồi đó là nguồn giải trí lớn cho tôi và đến ngày nay vẫn chưa mất hết sức hấp dẫn cũng như ý nghĩa đối với tôi, đại để như sau. Tôi tự hỏi mình, nên nhìn nhận thế giới quanh ta theo quan điểm vi mô hay vĩ mô, cái nào có lợi hơn? Điều đó có thể diễn giải một cách nôm na thế này: theo suy luận của tôi, các vĩ nhân, các tướng lĩnh, nguyên thủ quốc gia, những kẻ chinh phục và thống trị, tóm lại là những nhân vật xuất chúng, những con người lỗi lạc ấy hẳn phải có tư chất vô cùng đặc biệt giúp họ thâu tóm thời cuộc, coi cả thiên hạ chỉ như một bàn cờ, nếu không trong khi thực hiện các mưu đồ to lớn của mình họ lấy đâu ra sự lạnh lùng, tàn nhẫn để ra những quyết định bất kể tổn thất của từng cá nhân. Mặt khác, một quan niệm như thế lại có thể dẫn đến hậu quả dễ buông xuôi, cả đời không làm được trò trống gì; bởi ai coi thường hoặc thiếu quan tâm đến thế giới và con người, sớm nhận rõ bản chất vô thường của nó, thì sẽ có xu hướng chìm đắm vào sự thờ ơ lãnh đạm và lười biếng, chỉ thích xa lánh sự đời, không chịu để bất cứ điều gì lôi cuốn tinh thần - đấy là chưa kể bằng sự vô cảm, sự thiếu quan tâm và thiếu cố gắng của mình đi đến đâu, anh ta cũng để lại ấn tượng xấu khiến mọi cánh cửa có thể dẫn đến những thành công bất ngờ đều bị đóng lại. Vậy thì, tôi lại nghĩ, có nên nhìn đời và nhìn người như một điều gì đó to lớn, đẹp đẽ và trọng đại, rất đáng chuyên cần nỗ lực để đạt được một chút danh vọng? Nhưng cách nhìn phóng đại và đầy kính trọng ấy lại dễ gây ra tâm lý tự ti mặc cảm, thế là cuộc đời nhếch mép cười khẩy, không thèm đếm xỉa đến kẻ nhút nhát ngu ngơ và dành hết sự ưu ái cho những người tình nhiều nam tính hơn. Song quan niệm tôn
13 sùng cuộc sống cũng có những ưu điểm lớn. Bởi ai coi trọng thế giới và con người thì sẽ không chỉ thu được sự cảm mến của họ và được họ ban cho nhiều ân huệ, mà còn có động lực thúc đẩy bản thân, khiến tất cả tư tưởng và hành động của mình thấm nhuần một sự nghiêm túc, say mê, đầy tinh thần trách nhiệm, sẽ tự mình trở nên đáng yêu và đáng trọng, đó chính là tiền đề dẫn tới thành công. Đại loại tôi đã suy ngẫm và cân nhắc thiệt hơn như thế. Phải nói thêm rằng, không chủ ý nhưng theo bản tính tự nhiên, tôi luôn luôn ngả theo quan niệm thứ hai, coi thế giới này là một điều kỳ diệu đầy hấp dẫn, là nơi ban phát những lạc thú tuyệt vời, ở đó tất cả mọi cố gắng của tôi chắc chắn sẽ được đền bù xứng đáng.
14 Chương Ba Nếu mơ mộng, thử nghiệm và triết lý tự nó đã khiến tôi tách biệt về mặt nội tâm với các bạn học cùng trang lứa trong cái thị trấn tỉnh lẻ này, những kẻ chỉ quen theo lề thói thông thường, thì thêm vào đó, như tôi sớm nhận ra, bản thân những đứa trẻ ấy, con cái các vị chủ vườn nho và công chức chính quyền, cũng được bố mẹ chúng cảnh cáo hãy tránh xa tôi. Đúng thế, một đứa trong số đó khi được tôi mời đến nhà chơi đã nói như tạt nước vào mặt tôi rằng, nó bị cấm không được chơi với tôi và đến nhà tôi, vì gia đình tôi mang nhiều tai tiếng. Tôi cay cú lắm và bỗng đâm ra khao khát tình bạn, là thứ cho tới lúc ấy chẳng có tí ký lô nào đối với tôi. Tuy nhiên có một điều không thể chối cãi, đó là thành kiến cái thị trấn tỉnh lẻ này dành cho gia đình chúng tôi chẳng phải hoàn toàn vô căn cứ. Ngay ở đoạn đầu tôi đã tiết lộ chút ít về những phiền toái mà sự có mặt của cô gia sư người Vevey mang đến cho gia đình chúng tôi. Trên thực tế người cha tội nghiệp của tôi mới chính là người si mê theo đuổi cô ta và cuối cùng cũng đạt được mục đích của mình, việc này đã gây ra một mối bất hòa trầm trọng giữa ông và mẹ tôi, hậu quả là cha tôi bỏ nhà đến ở thành phố Mainz nhiều tuần, trở lại sống cuộc đời độc thân vui tính, theo lời ông là đi đổi gió, như có lần trước đây ông đã từng làm. Cũng phải nói thêm rằng mẹ tôi, một người đàn bà dung mạo tầm thường và trí tuệ không có gì xuất sắc, đã quá bất công khi làm dữ với người cha tội nghiệp của tôi như thế, vì bản thân bà và chị Olympia của tôi (một sinh linh ngồn ngộn xác thịt cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, về sau theo nghiệp cầm ca và không phải là không gặt hái được những thành công nhất định) chẳng hề thua kém cha tôi về mặt này; có điều sự sa ngã rất con người ấy ở cha tôi không thiếu nét ga lăng, trong khi ở mẹ và chị tôi chỉ còn là sự buông thả theo những ham muốn xô bồ. Mẹ và con gái duy trì một mối quan hệ suồng sã hiếm thấy, ví như có lần tôi nhớ đã bắt gặp người lớn tuổi dùng thước dây đo vòng đùi cho người nhỏ tuổi hơn, cảnh tượng ấy khiến tôi phải bận tâm suy nghĩ nhiều tiếng
15 đồng hồ sau đó. Lần khác, ở vào một thời điểm khi tôi đã đủ trí khôn để đoán biết nhưng vẫn chưa đủ từ ngữ để diễn tả, tôi trở thành nhân chứng bí mật chứng kiến cảnh họ vào hùa với nhau chọc ghẹo anh thợ trẻ được thuê đến quét vôi nhà chúng tôi và làm anh ta nóng đầu đến nỗi cuối cùng con người trẻ tuổi ấy, với bộ ria mép bằng sơn xanh mà họ bôi lên mặt anh ta, chẳng biết cáu tiết hay khoái chí đuổi theo hai người đàn bà cười rũ rượi lên tận trên gác xép. Chúng tôi rất hay có khách từ Mainz và Wiesbaden đến chơi, để thoát ra khỏi sự nhàm chán mà ba mẹ tôi dùng để tra tấn lẫn nhau, và những lúc ấy nhà chúng tôi tưng bừng náo nhiệt vô cùng. Khách khứa đủ loại tứ chiếng giang hồ gồm vài tay chủ hãng tuổi còn non choẹt, mấy nghệ sĩ sân khấu cả hai giới tính, một ông thiếu úy bộ binh xìu xìu ển ển sau này đi xa đến mức ngỏ lời cầu hôn chị tôi, một ông chủ ngân hàng người Do Thái với bà vợ phì nộn, mỡ đùn ra một cách đầy ấn tượng làm căng hết các nếp váy đính dày đặc hạt huyền, một ký giả tóc xoăn mặc áo ghi-lê nhung, ông này mỗi lần đến lại dắt theo một cô bạn đời mới, và nhiều nhân vật khác nữa. Họ thường tụ tập ở nhà tôi ăn bữa tối lúc bảy giờ, từ lúc đó trở đi tiếng ồn ào, tiếng đàn dương cầm, tiếng bước nhảy rậm rịch, tiếng cười, tiếng rú, tiếng đuổi nhau huỳnh huỵch kéo dài cả đêm không dứt. Đặc biệt vào mùa hội hóa trang và mùa thu hoạch nho thì những yến tiệc loại này đạt tới cao trào. Cha tôi tự tay châm ngòi bắn lên từ vườn nhà những quả pháo hoa rực rỡ, trong việc này ông tỏ ra thành thạo như một chuyên gia; ánh sáng màu nhiệm bừng lên soi rõ các chú lùn bằng sành cười nhăn nhở, và những chiếc mặt nạ ngộ nghĩnh đám khách khứa đeo lên che mặt càng làm tăng thêm sự phóng túng của đêm vui. Hồi đó tôi còn đang miễn cưỡng theo học trường trung học của thị trấn, và buổi sáng, khi tôi mặt mũi rửa sạch xuống ăn điểm tâm lúc bảy giờ, bảy rưỡi thì khách khứa vẫn còn tụ tập đầy trong phòng ăn, phờ phạc, nhàu nát với những cặp mắt mất ngủ nheo nheo tránh ánh sáng ngày, họ ngồi ngả ngớn uống cà phê hay rượu mùi, thấy tôi bước vào thì ồ lên cười nói xôn xao và quây lấy tôi vào giữa. Lớn hơn chút nữa, tôi được phép tham dự vào bàn tiệc và các trò tiêu khiển giống như chị Olympia. Bình thường chúng tôi dùng bữa đã rất thịnh soạn, trưa nào ba tôi cũng uống champagne pha nước soda. Nhưng những khi có khách thì
16 thực đơn dài hơn hẳn ngày thường, các món ăn được một ông bếp trưởng từ Wiesbaden đến chuẩn bị cầu kỳ với sự tiếp sức của bà đầu bếp nhà chúng tôi, xen giữa các món chính là hoa quả tươi và những món khai vị ướp lạnh hay ngâm cay. “Loreley extra cuvée” chảy như suối, nhưng trên bàn cũng thấy cả nhiều loại rượu ngon, ví dụ “Berncastler Doktor” là thứ rất hợp khẩu vị tôi. Sau này trong đời tôi còn có dịp làm quen với những nhãn hiệu sang trọng khác, chẳng hạn “Grand vin Château Margaux” và “Grand crȗ Château Mouton Rothschild” - hai giọt chất cay thực sự quý phái, khi gọi bao giờ tôi cũng giữ vẻ lạnh lùng rất chảnh. Cho tới giờ tôi vẫn thích gợi lại trong tâm trí hình ảnh cha tôi với bộ râu bạc tỉa nhọn và cái bụng khổng lồ bọc trong áo ghi-lê lụa trắng khi ông ngồi chủ tọa bàn tiệc. Trái với giọng nói nhỏ nhẻ và cặp mắt hay ngượng ngùng cụp xuống, sự thỏa mãn hiện ra lồ lộ trên gương mặt đỏ ửng bóng loáng của ông. “C‘est ça” ông nói, “épatant”, “parfaitement”, vừa nói vừa nâng ly, đưa khăn ăn lên miệng hay sử dụng dao nĩa bằng những động tác kiểu cách, mấy đầu ngón tay chĩa ra ngoài. Mẹ và chị tôi nhồi nhét vô tội vạ, chỉ thỉnh thoảng ngừng lại xòe quạt che mặt cười khúc khích với người khách ngồi bên. Sau bữa ăn, khi khói xì gà lan ra bủa vây những ngọn đèn chùm đốt bằng ga, là lúc mở màn cuộc khiêu vũ và các trò chơi. Về khuya thường thường người ta bắt tôi lên giường ngủ, nhưng ngủ nghê gì nổi trong tiếng nhạc và tiếng cười nói ồn như chợ vỡ dưới nhà, thế là tôi lại vùng dậy, kéo tấm chăn len màu đỏ quấn quanh người, rồi cứ như con nhộng trong kén, tôi quay trở lại bàn tiệc và được đám phụ nữ hò reo tán thưởng rần rần. Ở đó người ta vẫn nhiệt tình tiêu thụ hoa quả tươi và các món nhắm, rượu cocktail, nước chanh ga, gỏi cá trích và thạch đông ngâm rượu cho đến tận giờ uống cà phê sáng. Người ta khiêu vũ thả cửa chẳng cần ý tứ gì, các trò chơi chỉ là cái cớ để hôn hít và gần gũi nhau. Các bà vừa cười khanh khách vừa cúi mình trên ghế để lộ bộ ngực trong cổ áo khoét rộng hòng thu hút sự chú ý của các ông, và đỉnh cao của đêm vui không hiếm khi là lúc có kẻ tinh nghịch khóa vòi ga khiến đèn đóm tắt ngấm cả, những lúc ấy cảnh náo loạn thật không thể tả.
17 Các trò hoan lạc ấy là nguyên nhân chính làm tổn hại uy tín gia đình chúng tôi ở cái thị trấn tỉnh lẻ này. Ở đây, theo tin đồn phong thanh lọt đến tai tôi, khía cạnh kinh tế bị người ta đặc biệt soi kỹ, họ xầm xì (không phải là không có lý) rằng việc kinh doanh của người cha tội nghiệp của tôi đang xuống dốc không phanh và rằng những bữa tiệc tùng hoang phí với pháo hoa pháo hoét sẽ làm ông bại xụi hẳn về mặt tài chính. Sự xa lánh và ngờ vực của người xung quanh, mà tôi đã tinh ý nhận ra từ sớm, cộng với tính tình gàn dở và thói quen suy nghĩ vẩn vơ đã đẩy tôi vào cảnh cô đơn khiến tôi đau khổ không phải ít. Thế nên hạnh phúc của tôi lại càng lớn khi xảy ra một sự kiện mà tôi vui thích được thuật lại dưới đây. Khi lên tám tuổi tôi cùng gia đình đi nghỉ mát một tuần ở khu điều dưỡng danh tiếng Langenschwalbach ngay gần đó. Cha tôi tắm bùn để trị căn bệnh thống phong quái ác thỉnh thoảng cứ hành hạ ông, còn mẹ và chị tôi khuấy động dư luận bằng hình thức cường điệu của những chiếc mũ họ triển lãm khi đi dạo. Các quan hệ xã hội chúng tôi kết nối được ở đó, cũng như ở những nơi khác, chẳng mấy danh giá. Như thường lệ, đám dân địa phương xa lánh chúng tôi; đám du khách thượng lưu chỉ đi lại với nhau, họ luôn luôn giữ thái độ khinh khỉnh khó gần, đó có lẽ là bản chất cố hữu làm nên tính thượng lưu; còn những kẻ đồng điệu và sẵn sàng giao thiệp với chúng tôi đều hơi kém phần quý phái. Mặc dù vậy tôi vẫn cảm thấy rất hạnh phúc ở Langenschwalbach, vì xưa nay tôi vốn yêu thích các nơi nghỉ mát, về sau tôi còn nhiều lần chọn những chốn này làm sân khấu cho các hoạt động của mình. Sự yên tĩnh, nếp sống sung túc vô ưu, đâu đâu cũng chỉ thấy những con người giàu có sang trọng, dù là trên sân thể thao hay trong vườn hoa, tất cả những điều ấy đáp ứng trọn vẹn các mong ước thầm kín nhất của tôi. Song, cái có sức lôi cuốn nhất đối với tôi ở đó lại là những buổi hòa nhạc, do một dàn nhạc chính cống biểu diễn hằng ngày phục vụ khách an dưỡng. Âm nhạc của họ làm tôi mê mẩn, và mặc dù không bao giờ có ý định học đàn, tôi vẫn trở thành một kẻ hâm mộ cuồng tín loại hình nghệ thuật lãng mạn bậc nhất này. Thằng bé là tôi khi đó cứ quanh quẩn bên cái lầu hóng mát thoáng đãng, sân khấu biểu diễn của dàn nhạc mặc đồng phục đỏm dáng dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng nhỏ bé dáng dấp như
18 người Di-gan, ở đó ngày ngày họ tấu lên những khúc nhạc thập cẩm ngũ vị từ dân ca đến opera. Tôi ngồi thu lu hàng giờ trên bậc tam cấp ngôi đền nghệ thuật tao nhã ấy, trái tim bị mê hoặc bởi chuỗi âm thanh nhịp nhàng quyến rũ, trong lúc cặp mắt không bỏ sót một cử động nào của các nhạc công với những nhạc cụ khác nhau. Tôi thích nhất cây đàn vĩ cầm, và thế là khi trở về khách sạn tôi có trò tiêu khiển mới: với hai cây gậy một dài một ngắn, tôi hăm hở bắt chước những cử chỉ của tay nhạc công kéo vĩ cầm. Những rung động tinh tế của bàn tay trái để tạo các nốt luyến láy tròn trịa, động tác lướt trên cần đàn, những ngón tay bấm nhanh thoăn thoắt, bàn tay và cổ tay phải đưa cây vĩ vừa uyển chuyển vừa dứt khoát, gương mặt vừa trầm lắng vừa say mê áp vào thân đàn - tất cả những điều đó tôi nhại lại một cách hoàn hảo và nhận được sự tán thưởng nhiệt liệt của cả nhà, đặc biệt là cha tôi. Thế rồi cha tôi, cao hứng do tác dụng tốt của những buổi tắm bùn, kéo ông nhạc trưởng nhỏ thó tóc dài miệng câm như hến qua bên và thỏa thuận với ông ta một màn hài kịch nho nhỏ. Người ta cấp tốc sắm về một cây đàn violin rẻ tiền và cẩn thận bôi vaseline lên dây vĩ. Hình thức bên ngoài của tôi không cần tô điểm gì nhiều, chỉ cần mua thêm ở tiệm tạp hóa một bộ đồ lính thủy đầy đủ tua ngù với cúc mạ vàng, đôi tất lụa trắng và đôi giày đen bóng loáng. Và một chiều chủ nhật, đúng vào lúc khách đi dạo đông nườm nượp, tôi đóng bộ vào, cầm đàn lên đứng cạnh ông nhạc trưởng nhỏ thó trên sân khấu ngôi đền âm nhạc, tham gia trình diễn một điệu vũ Hungary, đúng ra là lặp lại trên cây đàn và cây vĩ bôi vaseline những động tác giống như tôi từng làm với hai cây gậy. Thành công của tôi thật ngoài sức tưởng tượng. Khán giả, cả quý phái lẫn bình dân, từ mọi phía tuôn lại bâu đặc lấy cái lầu hóng mát. Người ta tin rằng đã gặp một thần đồng. Vẻ say mê của tôi khi chơi nhạc, nét mặt hơi tái vì tập trung cao độ, một lọn tóc xoăn rủ xuống bên mắt, đôi bàn tay thơ trẻ càng đặc biệt xinh đẹp trong hai ống tay áo lính thủy màu xanh nước biển, phía trên vai bồng lên và cổ tay bó sát - tóm lại, toàn bộ con người tôi là một hình ảnh tuyệt vời làm xúc động mọi trái tim. Khi tôi kết thúc bản nhạc bằng một nhát vĩ dứt khoát và mạnh mẽ kéo qua tất cả các dây, tiếng vỗ tay nổ tung như sấm tràn ngập an dưỡng đường, trộn lẫn với những tiếng hoan hô cao
19 thấp đủ giọng. Người ta nhấc bổng tôi lên, sau khi ông nhạc trưởng nhỏ thó cẩn thận cất đàn và vĩ vào chỗ an toàn, và tôi được tung lên hạ xuống nhiều lần. Người ta tới tấp đổ xuống đầu tôi những lời khen ngợi, tặng cho tôi những cái tên âu yếm, và nựng nịu vuốt ve tôi. Các quý ông, quý bà thượng lưu vây lấy vuốt tóc, vuốt má, nắm tay tôi, trìu mến gọi tôi là thiên thần tí hon và thằng quỷ nhỏ. Một bà công tước già người Nga vận toàn lụa tím với hai vòng tóc trắng khổng lồ ốp hai bên tai nâng đầu tôi trong đôi bàn tay đeo đầy nhẫn và hôn lên vầng trán rịn ướt mồ hôi của tôi. Rồi bà ta lần gỡ ra từ cổ một món đồ cài áo to tướng hình cầy đàn lia bằng kim cương sáng long lanh và vừa không ngừng liến thoắng nói cái gì đó bằng tiếng Pháp, vừa cài nó lên ngực áo tôi. Gia đình tôi bấy giờ mới tiến lại gần, cha tôi tự giới thiệu và nhũn nhặn xin công chúng thứ lỗi cho sự kém cỏi của tôi, vì tuổi đời còn quá non nớt. Người ta lôi tôi đến tiệm bánh ngọt. Người ta mua ba bàn đầy bánh kem và bánh sôcôla để đãi tôi. Những đứa trẻ con nhà quý tộc, xinh đẹp và giàu có, cả đám con bá tước Siebenklingen, những kẻ từ trước tới giờ vẫn làm lơ trước ánh mắt khát khao thèm muốn của tôi, nay thân thiện mời tôi chơi một ván croquet* với chúng trong lúc các bậc phụ huynh ngồi uống cà phê. Môn thể thao dùng gậy đầu như cái búa đánh những quả bóng bằng gỗ hay bằng nhựa lọt qua một loại gôn hẹp. Tôi không ngần ngại nhận lời ngay, ngực ưỡn ra dưới cây đàn lia cài áo bằng kim cương, phát sốt phát rét vì sung sướng. Hôm ấy là một trong những ngày đẹp nhất đời tôi, có lẽ là ngày đẹp nhất cũng nên. Nhiều tiếng nói nổi lên yêu cầu tôi tiếp tục biểu diễn, và ban quản trị an dưỡng đường cũng tiếp xúc với cha tôi để đàm phán việc này. Nhưng cha tôi giải thích rằng, ông chỉ cho phép tôi biểu diễn trong những trường hợp ngoại lệ cực kỳ hãn hữu mà thôi, và rằng việc xuất hiện thường xuyên trước công chúng không phù hợp với địa vị xã hội của chúng tôi. Vả lại thời gian dưỡng bệnh của chúng tôi ở Bad Langenschwalbach cũng đã sắp tới hồi kết thúc...
20
21 Chương Bốn Bây giờ tôi sẽ kể về cha đỡ đầu Schimmelpreester của tôi, một tay quái kiệt. Về tướng mạo, vóc người ông thấp lùn, mái tóc bạc sớm rẽ ngôi lệch sát trên tai và được chải hất từ bên này sang bên kia vắt qua đỉnh sọ, gương mặt râu ria cạo nhẵn thín với cái mũi diều hâu, đôi môi mím chặt và cặp kính ngoại cỡ gọng trong suốt mắt tròn như hai cái đít chai càng thêm kỳ dị bởi hàng lông mày trụi thùi lụi, khiến đôi mắt ông cứ như cởi truồng. Tất cả những cái ấy toát lên một trí tuệ sắc bén và cay độc, đến như tên họ của mình cha đỡ đầu tôi cũng ưa gán cho một ý nghĩa đặc biệt mai mỉa. “Thiên nhiên”, ông bảo, “chẳng có gì khác ngoài mốc meo thối rữa, và số phận bắt tôi làm giáo sĩ cho nó, bởi thế họ tôi là Schimmelpreester*. Còn tại sao tên tôi là Felix thì chỉ có trời biết.” Ông xuất thân người vùng Köln, từng qua lại những nhà quyền quý nhất xứ ấy và rất nổi đình nổi đám trong vai trò chủ trì lễ hội hóa trang. Nhưng rồi có sự kiện hay biến cố nào đó xảy ra, không rõ là chuyện gì, khiến ông phải bán xới khỏi quê hương đến ẩn thân ở cái thị trần tỉnh lẻ của chúng tôi và chẳng bao lâu sau, từ nhiều năm trước khi tôi mở mắt chào đời, ông trở thành bạn chí thiết của gia đình tôi. Là khách mời thường xuyên và nhân vật không thể thiếu trong các bữa tiệc tùng, ông chiếm một địa vị đặc biệt ở nhà chúng tôi và rất được những khách khứa khác hâm mộ. Các bà kêu oai oái và làm bộ đưa tay che ngực mỗi khi bị ông chiếu tướng bằng đôi mắt cú vọ sau cặp kính tròn to thô lố, cái nhìn vừa soi mói vừa khách quan, với đôi môi mím chặt và nét mặt dửng dưng như đang đánh giá một hiện vật. “Quỷ tha ma bắt ông đi, ông họa sĩ!” họ tru tréo. “Soi gì mà khiếp thế! Ông muốn thấy hết từ ngoài vào trong, thấu tận đáy tim tôi hay sao. Tha cho tôi, ông giáo sư ơi, làm ơn cất đôi mắt của ông đi cho tôi nhờ!” Mặc cho thiên hạ tán tụng, ông không đề cao nghề nghiệp của mình và thường đưa ra những nhận xét mỉa mai về bản chất đáng ngờ của nghệ sĩ. “Phidias”*, ông bảo, “hay còn gọi
22 là Pheidias, chắc chắn là một kẻ tài cán trên mức trung bình, nhưng ngựa hay thường có tật, cứ xem vụ y bị tống vào nhà ngục Athens vì tội trộm cắp đủ rõ: y bị buộc tội biển thủ các chất liệu, vàng và ngà voi, được giao để tạc pho tượng nữ thần Athena. Perikles*, người phát hiện và bảo trợ tài năng của y, đã nhắm mắt làm ngơ để y vượt ngục (qua đó vị mạnh thường quân này càng chứng tỏ rằng ông ta không những am hiểu nghệ thuật mà còn, điều này quan trọng hơn nhiều, am hiểu cả chất nghệ sĩ). Thế là Phidias hay còn gọi là Pheidias trốn đến xứ Olympia, ở đó y lại được giao phó việc dựng bức tượng thần Zeus vĩ đại bằng vàng và ngà voi. Y đã làm gì? Y lại lấy trộm vật liệu làm tượng. Rồi y chết trong nhà ngục ở Olympia. Một sự kết hợp tai hại giữa tài và tật. Nhưng người đời là như vậy. Họ chuộng tài năng, là cái bản thân nó đã hết sức đặc biệt, nhưng những cái đặc biệt khác đi kèm với nó - không chừng đó còn là những chất xúc tác không thể thiếu để tạo nên tài năng - thì họ không muốn và không chấp nhận.” Đó là quan điểm của cha đỡ đầu tôi. Tôi còn nhớ rõ từng lời của ông, vì nhận định này thường được ông nhắc đi nhắc lại bằng những từ ngữ gần như không thay đổi. Tiếng Đức “Schimmel” có nghĩa là mốc, “Preester” là tiếng một số địa phương đọc trại đi từ “Priester” có nghĩa là giáo sĩ. Phidias (500/490 - 430/420 tr.CN) là nghệ sĩ điêu khắc lừng danh cổ Hy Lạp. Các tác phẩm của ông đã bị tiêu hủy cả, chỉ còn bản sao. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất là bức tượng nữ thần Athena tại đền Parthenon ở Akropolis và bức tượng thần Zeus khổng lồ tại đền thờ vị thần này ở Olympia. Tương truyền ông là người theo phái dân chủ cực đoan thời đó, và bị những kẻ bất đồng chính kiến buộc cho tội ăn cắp vật liệu quý được giao để làm tượng ở hai nơi này cũng như tội báng bổ thần linh và bị bỏ ngục. Perikles (khoảng 500 - 429 tr.CN) là nhà chính trị, nhà hùng biện và tướng lĩnh tài ba của Athens, góp