Lời Nhắn Cuối Cùng

hồi lớp hai (Vở Chuyện gìcũng qua), nó diễn hay ghê gớm.

hồi lớp hai (Vở Chuyện gìcũng qua), nó diễn hay ghê gớm.

hồi lớp hai (Vở Chuyện gìcũng qua), nó diễn hay ghê gớm. Tôi không thấy nhiều ảnh hai cha con hồi Bailey còn nhỏ xíu khi họ vẫn sống ở Seattle, ít nhất là trong thư mục chính này. Vì thế, tôi nhấp chuột vào thư mục con có tên O.M. Đây là thư mục dành cho Olivia Michaels. Vợ đầu của Owen. Mẹ của Bailey. Olivia Michaels trước đây là Olivia Nelson: giáo viên dạy sinh học ở trường trung học, vận động viên bơi nghệ thuật, bạn học của Owen ở trường Princeton. Không có nhiều ảnh - Owen nói Olivia ghét chụp ảnh. Nhưng cô rất xinh trong tất cả các bức ảnh này, có lẽ vì cô thực sự xinh đẹp. Cao ráo, mảnh mai, tóc đỏ dài đến giữa lưng, lúm đồng tiền sâu khiến cô như vĩnh viễn tuổi mười sáu. Tôi với cô không hoàn toàn giống nhau - thứ nhất là vì cô xinh hơn và

trông hấp dẫn hơn. Nhưng nếu bỏ qua vài chi tiết thì quả là giữa hai chúng tôi có nhiều nét tương đồng. Chiều cao, tóc dài (tôi tóc vàng, cô tóc đỏ), thậm chí có gì đó ở cách chúng tôi cười nữa. Lần đầu tiên được Owen cho xem ảnh, tôi đã nhận xét về sự tương đồng này. Nhưng Owen nói anh không thấy thế. Anh không phật ý, chỉ nói nếu tôi thực sự gặp cô ngoài đời, tôi sẽ không nghĩ hai chúng tôi có gì giống nhau. Tôi tự hỏi không biết những bức ảnh kia cũng có phải là nguyên nhân khiến người ta nhầm tưởng Bailey không giống Olivia mấy hay chăng - ngoại trừ tấm ảnh của Olivia mà tôi thích nhất. Đó là tấm ảnh chụp cô mặc quần bò và áo sơ mi cài cúc ngồi trên trụ cầu. Một tay ôm má, đầu ngả về sau khi cười. Màu sắc thì khác, nhưng có gì đó ở nụ cười kia trong cách Bailey cười - khiến tôi nghi rất giống Bailey. Nhờ sự tương đồng ấy mà Olivia trở thành mảnh ghép cần có, kết nối Bailey với một người khác nữa ngoài Owen. Tôi đưa tay chạm vào màn hình. Tôi muốn hỏi Olivia còn gì tôi chưa biết về con gái cô và chồng của chúng tôi. Hẳn cô hiểu hơn tôi - điều đó thì tôi biết chắc, lòng tôi nhói đau vì sự thực ấy. Tôi hít một hơi sâu rồi nhấp chuột vào thư mục có tên THE SHOP. Trong đó có năm mươi lăm tài liệu chuyên về các chương trình mã hóa và HTML. Nếu có một mật mã nào đó nằm ẩn trong các mã số kia thì không đời nào tôi tìm ra nổi. Tôi ghi chú là phải tìm ai đó giúp mình. Lạ lùng là có một tài liệu trong thư mục THE SHOP mang tên DI CHÚC MỚI NHẤT. Tôi không thích thấy nó ở đó, đặc biệt trong hoàn cảnh hiện tại, nhưng rồi nhẹ người khi mở ra. Di chúc được lập không lâu sau khi chúng tôi kết hôn và Owen đã từng cho tôi xem. Không thay đổi gì. Hầu như không thay đổi gì. Tôi thấy có ghi chú nhỏ bên trên chữ ký của Owen ở trang cuối. Có phải hồi trước đã có nhưng tôi không để ý? Ghi chú về người bảo hộ tài sản cho Owen, cái tên tôi chưa từng nghe tới. L. Paul. Không địa chỉ. Không số điện thoại. L. Paul. Là ai - tôi đã nghe tên anh ta hay cô ta ở đâu? Tôi đang ghi vào sổ thì nghe có tiếng phụ nữ sau lưng. “Tìm được gì hay không?” Tôi quay lại thấy một phụ nữ đứng tuổi bên rào chắn sân sau cạnh một người đàn ông. Bà ta mặc một bộ vét công sở màu xanh dương gọn ghẽ,

mái tóc đã điểm bạc buộc gọn. Người đàn ông thì luộm thuộm hơn, mí mắt nặng trĩu, áo phông Hawaii nhàu nhĩ, râu ria xồm xoàm khiến anh ta trông già hơn cả bà kia, mặc dù tôi đoán chắc chỉ chạc tuổi tôi. “Hai người làm gì ở đây?” tôi nói. “Chúng tôi đã bấm chuông cửa trước,” người đàn ông nói. “Cô là Hannah Hal đúng không?” “Trước khi trả lời, tôi muốn một câu trả lời khác rõ ràng hơn cho câu hỏi vì sao hai người xâm phạm tài sản riêng của tôi thế này,” tôi nói. “Tôi là đặc vụ Jeremy O’Mackey từ Cục Điều tra Liên bang, còn đồng nghiệp của tôi đây là đặc vụ Naomi Wu,” anh ta nói. “Cứ gọi tôi là Naomi. Chúng tôi mong được nói chuyện với cô?” Bản năng bảo tôi đóng laptop lại. “Nói thực thì lúc này không thích hợp lắm,” tôi nói. Bà ta nở nụ cười ngọt như mía lùi. “Chỉ vài phút thôi mà,” bà ta nói. “Rồi chúng tôi sẽ biến ngay.” Họ đã kịp lên mấy bậc thềm dẫn lên hiên rồi ngồi xuống ghế đối diện tôi cạnh chiếc bàn nhỏ. Naomi đẩy thẻ cảnh sát qua mặt bàn, đặc vụ O’Mackey làm theo. “Hy vọng chúng tôi không làm gián đoạn việc gì quan trọng,” Naomi nói. “Hy vọng hai người không theo chân tôi đến đây, tôi hy vọng thế,” tôi nói. Naomi nhìn tôi đầy dánh giá, nét mặt hơi bất ngờ trước giọng điệu của tôi. Tôi quá bực nên không quan tâm. Tôi bực bội và hơi lo lắng, sợ họ đòi lấy laptop của Owen trước khi tôi kịp kiếm được thông tin gì. Còn việc này nữa. Tôi nghĩ đến lời cảnh cáo của Grady Bradford: Đừng trả lời bấtcứ câu hỏi nào cô nghĩ mình không nên trả lời. Tôi gắng hết sức nghe lời anh ta. Jeremy O’Mackey thò tay lấy lại thẻ cảnh sát. “Tôi tin là cô biết chúng tôi đang tham gia điều tra công ty công nghệ nơi chồng cô làm việc?” anh ta nói. “Chúng tôi hy vọng cô có thể cho chúng tôi biết hiện giờ chồng mình ở đâu?” Tôi bảo vệ laptop, đặt nó lên đùi.

“Tôi cũng muốn cho hai người biết lắm, nhưng tôi không biết anh ấy đang ở đâu. Tôi không gặp anh ấy từ hôm qua.” “Không gặp thế cô có thấy kỳ lạ không?” Naomi nói như vừa chợt nghĩ ra. Tôi nhìn bà ta. “Có chứ, rất kỳ lạ.” “Tôi cho cô biết điều này, không biết cô có ngạc nhiên không. Từ hôm qua tới giờ, chồng cô không hề dùng điện thoại di động, cũng không dùng bất cứ thẻ tín dụng nào. Không để lại vết tích giấy tờ gì,” Naomi nói. Tôi không trả lời. “Cô có biết tại sao không?” O’Mackey nói. Tôi không thích kiểu nhìn của họ, như thể họ đã kết luận sẵn rằng tôi đang giấu giếm điều gì. Họ khiến tôi lại ước giá sự thực là thế thì tốt biết bao. Naomi lôi sổ ghi chép ra khỏi túi rồi lật đến một trang. “Chúng tôi được biết cô có quan hệ mua bán với Avett và Belle Thompson?” bà ta nói. “Trong năm năm qua, họ đã đặt mua các sản phẩm của cô với tổng giá trị là một trăm năm mươi lăm ngàn đô la?” “Tôi không nhớ chính xác tổng số tiền. Nhưng đúng, họ là khách hàng của tôi.” “Từ hôm qua đến giờ cô đã nói chuyện với Belle chưa, sau khi Avett bị bắt ấy?” bà ta nói. Tôi nhớ đến các tin nhắn thoại của mình trong hộp thư thoại của Belle. Sáu tin. Tin nhắn không được hồi âm. Tôi lắc đầu nói chưa. “Cô ấy cũng không gọi cho cô?” anh ta nói. “Không,” tôi nói. Bà ta nghiêng đầu ngẫm nghĩ. “Cô chắc chứ?” “Chắc, tôi biết chắc mình nói chuyện với ai và không nói chuyện với ai.” Naomi ngả về phía tôi như một người bạn. “Chúng tôi chỉ muốn đảm bảo cô cho chúng tôi biết hết mọi chuyện. Không như cô bạn Belle của cô.” “Cô nói vậy là sao?” “Chỉ cần biết việc cô ấy mua bốn vé máy bay đi Sydney từ các sân bay

khác nhau ở Bắc California để tìm cách trốn khỏi Mỹ mà không bị phát hiện là đủ cho thấy không nên tin vào lời tuyên bố vô tội của cô ấy rồi. Chẳng giống Tôi không biết gì hết chút nào nhỉ?” Tôi thận trọng không phản ứng. Làm sao có thể như thế được? Làm sao mà Avett thì ngồi tù, Belle thì tìm cách lủi về nước, còn Owen thì không ai biết đang ở đâu? Owen, người thông minh có thừa, người thường luôn thấy rõ toàn cục. Tôi có thực sự tin anh đã không thấy toàn cục này? “Belle có bao giờ bàn về The Shop với cô không?” Naomi hỏi. “Cô ấy không bao giờ nhắc đến công việc của Avett với tôi,” tôi nói. “Belle không quan tâm.” “Cô ấy cũng nói với chúng tôi như thế.” “Cô ấy đang ở đâu?” “Ở nhà tại St. Helena, hộ chiếu đang được luật sư của cô ấy giữ. Cô ấy vẫn giữ nguyên lập trường, nói hoàn toàn sửng sốt khi nghĩ đến việc chồng mình gây ra việc sai trái này,” anh ta nói. Rồi dừng lại. “Nhưng kinh nghiệm cho thấy các bà vợ thường biết rất rõ.’” “Vợ này thì không,” tôi nói. Naomi xen vào như tôi chưa hề nói gì. “Như cô đã biết,” bà ta nói. “Phải có người lo cho con gái của Owen.” “Tôi lo.” “Tốt,” bà ta nói. “Tốt.” Nghe đầy dọa dẫm. Và tôi hiểu điều bà ta vờ không muốn nói. Tôi hiểu ý bà ta muốn nói bà ta hoàn toàn có thể đưa Bailey đi. Có phải Grady đã đảm bảo với tôi họ sẽ không làm thế? “Chúng tôi cũng sẽ phải nói chuyện với cả Bailey nữa,” O’Mackey nói. “Hôm nay, khi nó đi học về.” “Không ai nói chuyện với nó hết,” tôi nói. “Nó không biết cha nó đang ở đâu. Để nó yên.” O’Mackey cũng lên giọng cho xứng. “E rằng cô không có quyền quyết định,” anh ta nói. “Ta có thể hẹn giờ cụ thể, hoặc tối nay chúng tôi sẽ đến gõ cửa nhà cô.” “Chúng tôi có luật sư,” tôi nói. “Nếu muốn nói chuyện với nó, hai người phải liên lạc với luật sư của chúng tôi trước đã.”

“Ai là luật sư của cô?” Naomi nói. Tôi bật ra trước cả khi nghĩ đến hậu quả. “Jake Anderson. Văn phòng ở New York.” “Được. Bảo luật sư của cô liên lạc với chúng tôi,” bà ta nói. Tôi vừa gật đầu vừa cố nghĩ cách xoa dịu tình hình, không biết sáng nay Grady đã hứa sẽ làm gì về việc Bailey sẽ được ở nguyên tại chỗ nhưng tôi không muốn phá hỏng chuyện ấy. Quan trọng nhất là chuyện ấy. “Nghe này, tôi biết hai người chỉ làm nhiệm vụ,” tôi nói. “Nhưng tôi mệt mỏi lắm rồi và như tôi đã nói với cảnh sát tư pháp sáng nay, tôi không biết gì nhiều để trả lời hai người.” “Ấy... ấy. Cái gì?” O’Mackey nói. Tôi nhìn anh ta rồi nhìn Naomi lúc ấy đã tắt ngấm nụ cười. “Cảnh sát tư pháp đến gặp tôi sáng nay,” tôi nói. “Chúng tôi cũng nói những câu chuyện y hệt thế này rồi.” Họ nhìn nhau. “Tên anh ta là gì?” O’Mackey hỏi. “Tên người cảnh sát tư pháp ấy hả?” Naomi mím môi nhìn tôi, như thể sân chơi đã thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho cô ta. Đó là lý do vì sao tôi quyết định sẽ không nói thật. “Tôi không nhớ,” tôi nói. “Cô không nhớ tên anh ta?” Tôi không nói gì nữa. “Cô không nhớ tên cảnh sát tư pháp đến gõ cửa nhà cô sáng nay. Ý cô là thế đấy hả?” “Đêm qua tôi mất ngủ nên mọi chuyện khá mơ hồ.” “Cô có nhớ viên cảnh sát tư pháp ấy cho cô xem thẻ ngành không?” O’Mackey nói. “Có.” “Cô có biết thẻ ngành cảnh sát tư pháp trông thế nào không?” Naomi nói. “Tôi phải biết à?” tôi nói. “Giờ bà nói vậy, tôi mới nghĩ ra mình cũng không biết thẻ FBI trông thế nào nữa. Có lẽ tôi nên xác nhận xem hai người có đúng như những gì hai người nói không cái đã. Rồi ta sẽ tiếp tục nói

chuyện.” “Chúng tôi chỉ hơi ngạc nhiên bởi vụ án này không thuộc phạm vi xét xử của văn phòng cảnh sát tư pháp,” cô ta nói. “Vì vậy, chúng tôi cần xác định chính xác ai đã nói chuyện với cô sáng nay. Họ không được đến đây mà không có sự đồng thuận của chúng tôi. Họ có dọa dẫm Owen gì không? Bởi cô nên biết rằng nếu Owen không dính dáng nhiều tới việc này thì anh ấy có thể tự giúp mình bằng việc ra làm chứng chống lại Avett.” “Đúng thế,” O’Mackey nói. “Anh ấy vẫn chưa bị coi là nghi phạm.” “Vẫn chưa?” tôi nói. “O’Mackey không có ý ấy,” Naomi nói. “Tôi không có ý ấy,” O’Mackey nói. “Ý tôi là không có lý do gì cô phải nói chuyện với cảnh sát tư pháp.” “Đặc vụ O’Mackey ạ, buồn cười làm sao khi anh ấy cũng nói hệt như vậy về hai người.” “Thật hả?” Naomi bình tĩnh lại và mỉm cười. “Bắt đầu lại từ đầu, được không?” bà ta nói. “Chúng ta là người cùng phe. Nhưng trong tương lai, cô nên yêu cầu có sự hiện diện của luật sư trước khi nói chuyện với bất cứ ai xuất hiện trước cửa nhà.” Tôi cũng nở nụ cười tương tự. “Hay lắm, Naomi. Tôi sẽ bắt đầu ngay bây giờ,” tôi nói. Rồi tôi giơ tay chỉ ra cổng và chờ đến khi họ ra hẳn ngoài đường.

ĐừngCoi Tôi LàNgườiCó Lỗi Đợi đến khi hai nhân viên FBI chắc chắn đã đi xa tôi mới ra khỏi xưởng. Tôi quay về cầu tàu, ôm chặt laptop của Owen trước ngực. Tôi đi qua trường tiểu học Bayside đúng giờ tan trường. Tôi ngẩng lên khi cảm giác mọi ánh mắt đang dồn cả vào mình. Vài bà mẹ (và ông bố) đang nhìn tôi. Không hẳn giận dữ như Carl và Patty, mà lo lắng và thương cảm. Dù sao chăng nữa, những người này ai cũng yêu quý Owen. Họ luôn yêu quý anh. Họ bao bọc anh. Họ sẽ không nghi ngờ Owen chỉ vì tên công ty nơi anh làm việc xuất hiện trên truyền thông. Sống ở một thị trấn nhỏ nơi mọi người bảo vệ lẫn nhau là như thế. Không dễ gì để họ thay đổi tình cảm với người họ yêu quý. Nhưng cũng không dễ gì để họ đón nhận một thành viên mới. Như tôi. Họ vẫn chưa chắc có nên chấp nhận tôi hay không. Lúc tôi mới chuyển đến Sausalito, tình hình còn tệ hơn nhiều. Vẫn những ánh mắt tò mò dò xét ấy, nhưng vì một lý do khác. Họ đặt đủ loại câu hỏi, thoải mái đến mức Bailey nghe được hết. Con bé về nhà thuật lại cho tôi. Họ muốn biết con người không phải dân thị trấn Owen quyết định kết hôn kia là ai. Họ không hiểu vì sao anh chàng độc thân sáng giá nhất Sausalito lại kết thúc cuộc sống độc thân vì một cô thợ tiện gỗ, cho dù họ không hẳn gọi tôi như thế. Họ gọi tôi là thợ mộc - cô thợ mộc không trang điểm và không diện giày thời trang. Họ nói Owen chọn vợ mới lạ làm sao - một cô nàng mặt mộc, gần bốn chục, chắc sẽ không con cái gì. Một cô nàng có vẻ như quá bận nghịch gỗ nên không có thời gian lập gia đình. Hình như họ không hiểu điều mà Owen đã biết rõ về tôi ngay từ đầu. Tôi thấy chẳng sao khi sống một mình. Ông nội đã nuôi dạy tôi biết tự lập. Khi cố tìm cách sống cho hợp với cuộc sống của người khác mới là lúc tôi gặp vấn đề, đặc biệt nếu điều đó có nghĩa phải đánh mất một phần bản thân. Vì vậy, tôi chờ đến lúc không phải làm thế - đến lúc cảm thấy ai đó hợp với mình một cách dễ dàng. Nói thế nghe hơi dễ quá chăng. Phải chăng nên nói thế này cho chính xác, tôi thấy những gì mình cần làm để ở bên Owen không giống nỗ lực chút nào. Mà cảm tưởng chúng chỉ giống như là

những chi tiết nhỏ hơn. Về đến nhà, tôi khóa cửa ra vào trước khi lôi điện thoại ra tìm số. JAKE. Là cú điện thoại tôi không muốn gọi nhất vào lúc này, nhưng vẫn phải làm thôi. Tôi gọi luậc sư thứ hai trong hai luật sư tôi quen. “Anderson trả lời...” anh nói khi nhấc máy. Giọng anh đưa tôi trở lại phố Greene, xúp hành và những ly Bloody Mary ở quán Fanelli vào các chiều Chủ nhật, trong một cuộc đời khác. Tôi trở về với cuộc đời ấy bởi chồng chưa cưới cũ của tôi luôn trả lời điện thoại như thế. Jake Bradley Anderson - bằng JD/MBA [1] , vận động viên ba môn phối hợp, đầu bếp siêu hạng. Đã hai năm kể từ lần cuối chúng tôi nói chuyện với nhau nhưng cách trả lời điện thoại của anh hoàn toàn không thay đổi, cho dù nghe rất tự mãn. Anh thích vẻ tự mãn ấy. Vì thích nên anh vẫn làm vậy. Anh cho rằng tự mãn và hăm dọa thế mới tốt, nếu tính đến công việc anh làm. Jake là luật sư tranh tụng của một công ty luật ở Park Avenue, đang trên đà thuận lợi để trở thành một trong các cộng sự cao cấp trẻ tuổi nhất công ty. Tuy không phải là luật sư hình sự nhưng anh là một luật sư giỏi, anh sẽ nói thế ngay lần đầu gặp mặt ai đó. Tôi hy vọng tính cách ngạo mạn của Jake sẽ có ích cho mình lúc này. “Chào anh,” tôi nói. Anh không buồn hỏi ai. Anh biết ngay là ai, cho dù đã lâu lắm rồi. Anh cũng biết phải có chuyện gì hỏng bét thì tôi mới gọi thế này. “Em đang ở đâu?” anh nói. “New York à?” Lúc tôi gọi điện báo cho Jake mình sắp kết hôn, anh nói rồi sẽ có ngày tôi quay lại và chúng tôi sẽ trở lại bên nhau. Anh tin chắc như thế. Và rõ ràng anh nghĩ hôm nay là ngày ấy. “Sausalito,” tôi dừng lại, khiếp sợ những từ mà tôi không muốn nói ra. “Em cần anh giúp, Jake. Em nghĩ em cần luật sư...” “Nghĩa là... em đang làm thủ tục ly hôn?” Tôi cố lắm mới không ngắt điện thoại. Jake không thể nhịn miệng. Kể cả khi việc tôi hủy đám cưới khiến anh nhẹ hết cả người, kể cả khi anh kết hôn ngay với người khác chỉ bốn tháng sau đó (rồi chẳng bao lâu sau đã ly hôn), nhưng anh vẫn luôn thích đóng vai nạn nhân trong mối quan hệ của chúng tôi. Jake cứ bám lấy cách lý giải cho rằng quá khứ là thứ khiến tôi sợ

hãi không mở rộng cửa đón anh vào lòng vì sợ rồi anh sẽ bỏ rơi mình như cha mẹ bỏ rơi tôi. Anh không bao giờ hiểu một điều. Tôi không sợ ai đó bỏ rơi mình, tôi chỉ sợ chọn nhầm người ở lại. “Jake, chồng em là lý do vì sao em gọi cho anh,” tôi nói. “Anh ấy gặp rắc rối.” “Anh ta làm gì?” anh nói. Jake là hy vọng lớn nhất của tôi lúc này. Tôi liền thuật lại toàn bộ câu chuyện cho anh nghe, bắt đầu từ những thông tin cơ bản về công việc của Owen, cuộc điều tra nhằm vào The Shop và sự mất tích kỳ lạ của Owen, cẩn thận giải thích về hai cuộc thăm hỏi từ Grady Bradford và FBI cũng như việc FBI không hay biết gì về Grady. Tôi cho anh hay dường như không ai biết Owen giờ đang ở đâu hoặc kế hoạch tiếp theo của anh là gì, và tôi với Bailey là mù tịt nhất. “Còn cô con gái... đang ở cùng em hả?” anh hỏi. “Bailey, đúng. Nó đang ở với em. Có lẽ là nơi nó không muốn ở nhất trên trái đất này đấy.” “Nghĩa là anh ta bỏ cả nó?” Tôi không trả lời. “Tên đầy đủ của con bé là gì?” anh nói. Tôi nghe tiếng anh gõ bàn phím, ghi chú, lập biểu đồ như những biểu đồ trước đây từng trải đầy trên nền phòng khách của chúng tôi. Lần này, tên Owen nằm chính giữa. “Thứ nhất là thế này. Em không nên quá lo lắng về việc FBI không biết gì về anh chàng bên cảnh sát tư pháp đến nói chuyện với em. Rất có thể họ toàn nói dối. Hơn nữa, các cơ quan thực thi pháp luật vẫn thường giành giật lẫn nhau, đặc biệt khi phạm vi điều tra vẫn chưa được xác định. Có ai bên SEC lên tiếng gì không?” “Không.” “Rồi họ sẽ liên lạc. Em phải yêu cầu tất cả liên hệ với anh, ít nhất cho đến khi chúng ta biết đang xảy ra chuyện gì. Đừng nói gì hết, bảo họ cứ trực tiếp gọi điện cho anh.” “Em cảm ơn.” “Không phải cảm ơn,” anh nói. “Nhưng anh phải hỏi thế này... em liên

quan đến mức nào?” “Thì anh ấy là chồng em, nên em nghĩ khá mật thiết.” “Rồi họ sẽ mang lệnh khám nhà đến,” Jake nói. “Khá ngạc nhiên khi đến giờ họ vẫn chưa làm thế. Nếu ở nhà có gì cho thấy sự dính líu của em tới vụ này thì em nên mang đi chỗ khác ngay.” “Đời nào em dính dáng gì,” tôi nói. “Em không liên quan gì hết.” Tôi thấy mình đầy phòng thủ. Lại nôn nao cảm giác lo lắng khi nghĩ đến việc có người mang lệnh khám đến nhà rồi tìm thấy túi thể thao chưa ai động tới giấu dưới bồn rửa bát trong bếp. “Jake, em chỉ muốn biết Owen đang ở đâu và vì sao anh ấy cho rằng cách duy nhất thoát tội là trốn khỏi đây.” “Thứ nhất có thể vì không muốn ngồi tù.” “Không phải thế. Anh ấy sẽ không bỏ trốn vì lý do đó.” “Thế thì theo em là vì cái gì?” “Anh ấy đang cố bảo vệ con gái,” tôi nói. “Trước cái gì?” “Em không biết. Có lẽ anh ấy nghĩ nếu mình bị buộc tội oan thì sẽ hủy hoại cả cuộc đời nó. Có lẽ anh ấy đang trốn đâu đó trong khi tìm cách chứng minh mình vô tội.” “Hầu như không có chuyện đó. Nhưng... rất có khả năng còn có chuyện khác nữa,” Jake nói. “Chuyện gì cơ?” “Thì có khi anh ta mắc tội gì đó ghê gớm hơn chẳng hạn,” Jake nói. “Anh giúp em thế à Jake,” tôi nói. “Nghe này, anh không muốn tô vẽ gì ở đây, nhưng nếu không phải trốn chạy vì công ty The Shop thì rất có thể chồng em đang trốn chạy khỏi điều gì đó The Shop sẽ hé lộ về anh ta. Câu hỏi cần đặt ra là điều ấy là gì...” Jake dừng lời. “Anh biết một thám tử tư này, rất giỏi. Anh sẽ nhờ anh ta tìm kiếm thông tin. Nhưng em phải email cho anh toàn bộ lý lịch của Owen. Tất cả những gì em biết. Đi học ở đâu, lớn lên ở đâu. Ngày tháng cụ thể. Mọi thứ. Ngày sinh và nơi sinh của con gái anh ta nữa.” Tôi nghe tiếng Jake cắn bút. Không ai khác trên thế gian này hiểu được âm thanh từ thói quen bí mật ấy của Jake. Một thói quen không được

[1] tự tin cho lắm. Riêng với tôi, hình ảnh ấy hiện ra rõ nét như tôi đang ngồi cùng phòng, nhìn thẳng vào nắp bút bẹp gí của anh. Hiểu rõ mọi thứ về ai đó cả tới lúc mình không muốn nữa như thế mới đáng sợ làm sao. “Làm giùm anh việc này. Nhớ lúc nào cũng mang theo điện thoại, phòng khi anh cần nói chuyện. Nhưng đừng trả lời số điện thoại lạ.” Tôi nghĩ đến lúc Grady nói Owen đã vứt điện thoại, nghĩ đến việc anh đã vứt số điện thoại duy nhất tôi biết là của anh. “Owen sẽ không gọi gì vào thời điểm này,” Jake nói. “Em biết rồi còn gì.” “Em không biết.” “Anh nghĩ là em biết.” Tôi không nói gì, không chịu thừa nhận, kể cả khi có cảm giác anh nói đúng. Tôi sẽ không phản bội Owen hoặc Bailey theo cách ấy. “Và em phải tìm hiểu vì sao chồng em bỏ trốn, phải tìm ra một lý do gì cụ thể hơn việc cho rằng anh ta đang tìm cách bảo vệ con mình...” Jake nói. “Và phải nhanh chân lên. FBI sẽ không tử tế lâu đâu.” Đầu tôi quay cuồng nghĩ đến cách tra hỏi vốn đã thiếu lịch thiệp của FBI. “Em còn đó chứ?” Jake hỏi. “Còn.” “Chỉ cần... em giữ bình tĩnh. Em biết nhiều hơn em tưởng. Em biết phải làm gì để vượt qua chuyện này.” Thế là đủ khiến tôi khóc rồi, cái cách mà anh nói ra điều đó - ngọt ngào, chắc chắn - đây là cách thể hiện sự quan tâm sâu sắc kiểu của Jack. “Nhưng trong tương lai,” anh nói, “đừng nói ai đó vô tội được không? Nếu phải nói gì thì nên nói anh ấy không phạm pháp. Em tự biến mình thành đồ ngốc khi nói anh ấy vô tội đấy. Đặc biệt khi con người ta hầu như ai cũng tội lỗi đầy mình.” Và thế là vậy đấy.

Một chương trình song bằng cho phép người tốt nghiệp sở hữu cả bằng luật Sư (Juris Doctor) và bằng MBA của các trường đại học ở Mỹ và Canada.

SáuTuầnTrước “Bọn mình nên đi nghỉ một chuyến,” Owen nói. “Lâu rồi bọn mình không đi đâu.” Đang là nửa đêm. Chúng tôi đang nằm trên giường, anh nắm gọn tay tôi. Tay anh đặt trên ngực, ngay trên trái tim. “Anh nên đi Austin với em,” tôi nói. “Hay đi thế thì không tính?” “Austin?” anh nói. “Em đã kể anh nghe em có hội thảo của thợ tiện gỗ ở đó mà. Ta có thể kết hợp thành một kỳ nghỉ. Ở đôi ba ngày tại vùng Texas Hill...” “Ở Austin sao? Em có nói với anh là ở Austin đâu...” Rồi anh gật đầu như đang suy nghĩ về đề nghị ấy, cân nhắc liệu có nên đi cùng tôi - chỉ có điều, tôi cảm giác có gì thay đổi ở anh. Tôi cảm giác có gì đó trong anh đóng sầm lại. “Sao thế?” tôi nói. “Có sao đâu,” anh nói. Nhưng anh buông tay tôi, quay sang vơ vẩn xoay nhẫn cưới. Nhẫn do tôi làm tặng anh. Tôi làm nó giống hệt chiếc của mình: hai chiếc nhẫn trơn mảnh, từ xa trông không khác gì bất cứ chiếc nhẫn bạch kim bóng bẩy nào khác. Nhưng tôi dùng gỗ sồi trắng và thép đánh bóng. Vừa mộc mạc vừa thanh nhã. Tôi dùng chiếc máy tiện nhỏ nhất. Owen ngồi trên sàn chờ trong lúc tôi làm nhẫn. “Bailey cũng sắp có chuyến đi đến Sacramento với trường rồi,” anh nói. Mình có thể nhân dịp ấy làm một chuyến tới New Mexico, chỉ anh với em, lạc trong rừng đá trắng.” “Em thích lắm,” tôi nói. “Lâu lắm rồi em chưa quay lại New Mexico.” “Anh cũng thế. Suốt từ hồi học đại học. Bọn anh lái xe đến Taos, ở một tuần liền trên núi.” “Anh lái xe tít từ New Jersey?” tôi hỏi. Anh lơ đãng tiếp tục xoay nhẫn. “Gì cơ?”

“Anh lái xe tít từ New Jersey xuống New Mexico? Đi thế thì bao giờ mới tới.” Anh chợt dừng lại, ngón tay buông nhẫn. “Không phải lúc học đại học.” “Owen! Anh vừa nói anh đến Taos hồi học đại học mà.” “Anh không biết. Chỉ biết là đi núi ở đâu đó. Có lẽ là Vermont. Anh chỉ nhớ không khí rất loãng.” Tôi cười to. “Anh sao thế?” “Có sao đâu. Chỉ vì...” Tôi nhìn anh, cố đoán xem ý anh muốn nói gì. “Chỉ vì tự nhiên chuyện này gợi lại phần đời lạ lùng của anh thôi.” “Hồi ở đại học?” “Đại học. Sau đại học.” Anh lắc đầu. “Kẹt tại vùng núi anh không thực sự nhớ ở đâu.” “Thôi nhé... có lẽ đây là điều kỳ quặc nhất anh từng nói với em.” “Anh biết.” Owen ngồi dậy bật đèn. “Khỉ thế,” anh nói. “Anh thực sự muốn đi nghỉ.” “Thế thì mình đi đi,” tôi nói. “Đồng ý. Đi luôn.” Anh lại nằm xuống, đặt tay lên bụng tôi. Tôi cảm giác anh đã thoải mái trở lại. Tôi cảm nhận anh đã trở lại là Owen của tôi. Nên tôi không muốn hối thúc anh nữa. Lúc ấy, tôi không muốn hối thúc anh nói tôi nghe điều anh suýt nữa đã nói. “Chúng mình không cần phải đào sâu vào chuyện này luôn, nhưng em chỉ muốn nói để anh biết thôi được không” tôi nói. “Gần như suốt thời gian học đại học, em tham gia chơi đàn guitar cho một ban nhạc chơi nhạc của Joni Mitchell, tham dự các buổi bình thơ rồi hẹn hò với một sinh viên cao học khoa triết lúc ấy đang làm bản thuyết trình về việc chính phủ tìm cách dùng truyền hình để kiểm soát một cuộc cách mạng.” “Anh không nghĩ anh ta nói thế có gì sai,” anh nói. “Có lẽ không sai. Nhưng ý em muốn nói rằng dù anh nói gì về con người mình trước đây thì cũng sẽ không có gì thay đổi, ít nhất là trong

phạm vi tình cảm giữa chúng mình.” “Ừ,” anh thì thầm. “Ơn Chúa.”

MộtNgàyThực SựTồi Tệ KhôngTốtĐẹpGìCủaBailey Khi Bailey đi học về, trông con bé đến khổ sở. Tôi đang ngồi trên ghế dài uống một ly rượu vang đỏ, chăn đắp trên hai chân. Tôi cố điểm lại mọi việc diễn ra trong ngày - nghe như không thể, nhưng là ngày đã bắt đầu và sẽ kết thúc không có Owen. Khiến tôi giận dữ và buồn bã và căng thẳng và cô đơn. Con bé len lỏi qua các cầu tàu, không ngẩng đầu nhìn ai cho đến khi về tới nhà. Rồi nó dừng lại trước mặt tôi, ngay trước ghế dài và cứ đứng nguyên tại đó. Hai mắt rực lửa. “Mai cháu sẽ không đi học,” nó nói. “Cháu sẽ không đến trường nữa.” Tôi quan sát mắt nó, nỗi sợ trong nó. Hai chúng tôi ở đó - hai hình ảnh phản chiếu lẫn nhau - đây hoàn toàn không phải cách tôi muốn được đồng điệu với nó. “Ai cũng vờ như không nói đến chuyện ấy,” nó nói. “Về cha cháu. Về cháu. Thà cứ nói thẳng vào mặt cháu còn đỡ. Làm như cháu không nghe thấy ai cũng thì thào suốt ngày không bằng.” “Mọi người nói gì?” “Cô muốn nghe đoạn nào?” nó nói. “Đoạn Brian Padura hỏi Bobby sau tiết hóa có phải bố cháu là tội phạm không? Hay khi Bobby đấm thẳng vào miệng cậu ta vì dám hỏi thế?” “Bobby đấm thật sao?” “Chứ sao...” Tôi gật đầu, hơi ấn tượng với Bobby. “Sau đó thì càng thêm tệ,” nó nói. Tôi khẽ dịch sang bên, nhường chỗ cho Bailey. Nó ngồi xuống nhưng chỉ ở ghé mép ghế, như thể sẵn sàng đổi ý đứng dậy bất cứ lúc nào. “Thế thì mai cháu nghỉ học đi.” Nó ngạc nhiên nhìn tôi. “Thật sao?” nó nói. “Cô không định phản đối

cháu sao?” “Phản đối thì có ích gì không?” “Không.” “Với cô thì mai cháu không phải đến trường. Nếu ngày hôm nay của cháu giống của cô thì cháu đáng được nghỉ.” Con bé gật đầu rồi bắt đầu nhấm móng tay. “Cảm ơn cô,” nó nói. Tôi muốn kéo tay nó khỏi miệng để nắm trong tay mình. Tôi muốn nói với nó mọi chuyện rồi sẽ ổn, từ từ sẽ đỡ khó khăn hơn - không cách này thì cách khác. Nhưng nếu điều đó có thể an ủi Bailey phần nào, thì việc tôi là người nói ra lại khiến nó trở nên hoàn toàn vô dụng. “Cô không có sức nấu nướng gì nữa. Tối nay, nguồn dinh dưỡng duy nhất của cháu sẽ là hai pizza nhiều pho mát có nấm và hành, chỉ ba mươi phút nữa sẽ tới nơi.” Chút xíu nữa thôi là nó đã nở nụ cười, khiến tôi những muốn hỏi Bailey câu cần hỏi, câu hỏi tôi hy vọng sẽ giúp xác định rõ điều gì đang choán trọn tâm trí tôi từ sau cuộc nói chuyện điện thoại với Jake. “Bailey này,” tôi nói, “cô cứ nghĩ mãi về những gì cháu hỏi cô, về việc tin nhắn của bố cháu có ý gì. Bố cháu muốn nói gì khi viết con biết điều gì quan trọng...” Nó thở dài, rõ là quá mệt mỏi đến nỗi không còn sức rướn mắt tỏ thái độ như mọi khi. “Cháu biết bố yêu cháu. Cô nói mãi thế rồi còn gì,” nó nói. “Có lẽ cô hiểu sai,” tôi nói. “Hiểu sai ý bố cháu. Có lẽ bố cháu có ý khác.” Bailey nhìn tôi vẻ bối rối. “Cô nói thế là sao?” “Có thể bố cháu viết thế vì cháu biết gì đó,” tôi nói. “Cháu biết gì đó về bố cháu và bố cháu muốn cháu nhớ lại.” “Cháu thì biết được gì chứ?” nó nói. “Cô cũng không biết.” “Thôi, cháu mừng vì chúng ta đã làm rõ với nhau,” nó nói. Rồi ngừng lại. “Nhưng hình như ai ở trường cũng nghĩ giống cô thì phải.” “Cháu nói thế là sao?”

“Ai cũng nghĩ cháu biết lý đo bố cháu làm những việc ấy,” nó nói. “Kiểu như họ cho rằng vào bữa sáng bố bảo với cháu rằng bố định lấy trộm nửa triệu đô rồi bỏ trốn vậy.” “Chúng ta không biết bố cháu có liên quan gì tới việc đó không,” tôi nói. “Không, chúng ta chỉ biết bố cháu không ở đây lúc này.” Nó nói đúng. Owen hiện không ở đây. Chúng tôi không biết giờ anh đang ở đâu. Tôi nhớ lại những gì Grady Bradford thoải mái nói sáng hôm ấy - thông tin anh ta vô ý cung cấp khi cố thuyết phục tôi nói chuyện với anh ta và tin rằng anh ta đứng về phía mình. Anh ta cho tôi số điện thoại. Anh ta cho tôi số điện thoại của chi nhánh văn phòng làm việc. Nó có mã vùng mà tôi không biết là ở đâu. 512. Tôi thò tay vào túi quần sau lôi ra giấy ăn của hiệu Fred. Có hai số điện thoại - cả hai cùng bắt đầu bằng 512. Không có địa chỉ. Tôi vớ lấy điện thoại di động trên mặt bàn trà bấm số văn phòng, tim tôi đập liên hồi khi chuông bắt đầu reo. Tổng đài tự động trả lời, cho tôi biết mình đã kết nối với Cơ quan Cảnh sát Tư pháp Mỹ. Chi nhánh Tây Texas của Cảnh sát Tư pháp. Đặt ở Austin, Texas. Grady Bradford làm việc ở văn phòng Austin. Tại sao một cảnh sát tư pháp ở Texas lại xuất hiện trước cửa nhà tôi? Đặc biệt lại là người không được quyền tham gia điều tra, nếu đúng như lời O’Mackey và Naomi? Và nếu anh ta có quyền điều tra thì vì sao? Owen đã làm gì khiến Bradford phải nhúng tay vào vụ này? Texas liên quan gì tới tất cả những gì đang xảy ra? “Bailey,” tôi nói, “bố con cháu đã bao giờ đi Austin chưa?” “Austin ở Texas á? Chưa.” “Cháu cố nghĩ xem. Đã bao giờ cháu đi qua Austin trên đường đi đâu đó chưa? Có thể trước khi hai bố con chuyển đến Sausalito.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 25

Đang tải bình luận...