phần do bố của nạn nhân gây ra trong lúc khẩn cấp, không thấy dấu hiệu cạy phá cửa và cửa sổ, trên tay nắm cửa sổ và bục cửa sổ không thu thập được dấu vết gì khác ngoài dấu vân tay, dấu chân của người nhà nạn nhân. Tìm hiểu lịch sử cuộc gọi điện thoại di động của nạn nhân, thì thấy mặc dù thuê bao này không nợ cước, nhưng không hề có bất kì một cuộc gọi nào trong suốt hai năm qua. Tương tự, điện thoại cố định ở nhà cũng gần hai năm không hề sử dụng. Hiện trường không có dấu vết lục lọi, nhưng điện thoại di động, máy tính xách tay, iPad, máy tính bảng và các sản phẩm kĩ thuật số khác của nạn nhân đều đã biến mất. Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy: Nạn nhân tử vong bị dao gọt hoa quả đâm trúng huyệt thái dương bên phải, thời điểm tử vong là khoảng ba ngày trước khi được phát hiện, tức vào khoảng ngày 5
tháng 10 năm 2011. Thi thể bị bịt mắt bằng dải vải, được cắt ra từ một chiếc áo trong nhà của nạn nhân. Dải vải được buộc lại ở sau đầu, cách thắt nút là bắt chéo hai lần. Trên thi thể không tìm thấy dấu vết bị khống chế, nhưng trong máu của nạn nhân giám định được thành phần Phenobarbital, một dạng thuốc an thần. Mặc dù vụ án đã được nhiều bên tiến hành điều tra và thu thập chứng cứ, nhưng vẫn chưa thể tìm ra hung thủ, nên bị gác lại cho đến nay.” Quá nửa đêm, cửa Phòng Lưu trữ thình lình bật mở, Cố Phi Phi đầu tóc ướt sũng, hai tay xách khệ nệ hai túi lớn rảo bước tiến vào. Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ nhanh tay nhanh mắt, một người chạy đến đỡ lấy túi đồ trên tay cô, một người giúp cô phải nước mưa bám trên người. Túi vừa đặt xuống, mùi thơm của thức ăn đã toả ra ngào ngạt. Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ bụng đã đói meo từ lâu, nên không nhiều lời, lập tức dẹp hết hồ sơ giấy tờ sang một bên, thoăn thoắt lấy hộp lớn hộp bé ra khỏi túi, mở nắp, bày lên mặt bàn, rồi múa đũa tít mù. Hàn Ấn nhìn hai cô cậu đang ăn như rồng cuốn, khẽ mỉm cười, cầm lấy hai đôi đũa trên bàn, lần lượt đưa cho Cố Phi Phi và Diệp Hi. Diệp Hi nhận lấy đũa, còn Cố Phi Phi xua tay từ chối: “Anh ăn đi, em ăn rồi, kết quả giám định ADN
còn phải chờ thêm ít lâu. Em đoán chắc hôm nay các anh chị em chưa kịp ăn uống cho tử tế, nên mới mua cho mọi người chút đồ ăn đêm.” “Chị Cố tốt bụng ghê, chứ đâu như thầy Hàn với trưởng nhóm Diệp, chỉ đến tay không.” Ngải Tiểu Mĩ miệng bóng mỡ lúng búng nói. “Đúng đấy, đúng đấy, chị Cố là người tốt nhất. Chứ thầy Hàn đã đến tay không thì chớ, còn bắt tụi em ăn mì gói.” Đỗ Anh Hùng vừa phồng má nhai nuốt khí thế, vừa phụ hoạ theo. “Ăn thì tập trung vào ăn đi, đúng là, đồ ăn cũng không bịt được miệng hai cái đứa này.” Cố Phi Phi tủm tỉm cười, lườm hai cô cậu một cái, rồi có lẽ lo Diệp Hi hiểu lầm, bèn quay sang phân trần với Diệp Hi, “Hai đứa này nhí nhố với em quen thói rồi, chị đừng để tâm nhé.” “Không sao, không sao đâu, phê bình là đúng. Ngày ba bữa sáng, trưa, tối đều xơi mì gói, ai mà chịu nổi cơ chứ.” Diệp Hi trêu chọc, “Lúc chị vừa bước chân vào phòng này, suýt chút nữa thì bật ngược ra ngoài, cả phòng nồng nặc mùi sầu riêng.” Nói xong, Diệp Hi phá lên cười rất vui vẻ, mọi người trong phòng cười theo, bầu không khí lập tức trở nên thoải mái hơn nhiều. Đây cũng là một trong những ưu điểm của Diệp Hi, cô luôn biết cách ứng xử với đủ mọi tình huống khác nhau, thái độ cũng khéo léo đúng mực, khiến mọi người đều cảm thấy vui vẻ
thoải mái khi trò chuyện cùng cô. Đương nhiên, người bối rối nhất trong lúc này chính là Hàn Ấn. Mặc dù hai cô cậu trẻ tuổi kia mới chỉ than thở chút ít về vấn đề ăn uống, nhưng anh rất sợ phải khiến Cố Phi Phi và Diệp Hi suy nghĩ, bèn cầm lên một tập hồ sơ đưa cho Cố Phi Phi, nhanh chóng chuyển đề tài: “Phải rồi, bọn anh vừa phát hiện ra một vụ án khả nghi, em đọc thử biên bản khám nghiệm tử thi xem liệu có thể tìm ra manh mối gì không.” Chỉ sau chừng một bữa cơm, Cố Phi Phi đã đọc xong tập tư liệu, khẽ gật đầu nói. “Đúng là có nhiều điểm tương đồng, độ tuổi của nạn nhân cũng nằm trong phạm vi độ tuổi của các bộ hài cốt vô danh, trong vụ án cũng xuất hiện chi tiết nạn nhân bị bịt mắt. Nhưng cũng có tính chất khác biệt rất rõ rệt, đó là thi thể của nạn nhân bị phơi bày bên ngoài.” “Tình tiết này có lẽ giống như thầy Hàn đã phân tích trước đây, là do vấn đề về thời điểm gây án.” Đỗ Anh Hùng tiếp lời, “Vào thời điểm xảy ra vụ án, công viên Bách Thảo đã được thi công mở rộng, đem thi thể đi chôn sẽ có rủi ro, nên rất có khả năng hung thủ đã từ bỏ công đoạn chôn giấu xác chết.” “Không chỉ khác biệt ở một điểm đó thôi đâu. Cố Phi Phi vừa nói vừa đặt lên bàn vài tấm ảnh hiện trường. Trong ảnh, có thể nhìn thấy nạn nhân nằm ngửa trên sàn nhà, đầu gối trên vũng máu, hai mắt bị
dải vải bịt kín, một con dao cắm vào thái dương bên phải, lưỡi dao gần như cắm lút hoàn toàn vào hộp sọ. Cố Phi Phi chỉ vào một bức ảnh và nói: “Mọi người hãy nhìn bức ảnh này, trên dải vải bịt mắt có vết máu thấm rất rõ ràng, hơn nữa gần chỗ vết thương còn bị hung khí đâm thủng, chứng tỏ động tác bịt mắt đã được thực hiện trước khi nạn nhân bị đâm bằng vật nhọn, hoàn toàn khác với tình tiết nạn nhân bị bịt mắt sau khi đã bị sát hại trong vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo. Ngoài ra, vũ khí giết người trong vụ án này là một con dao gấp một lưỡi, trong khi vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo, phân tích theo hình dạng vết đâm, thì hung khí là một vật sắc nhọn có hai lưỡi, kiểu như dao găm hoặc đoản kiếm, nên hai hung khí sử dụng trong hai vụ án chắc chắn là khác nhau. “Ngoài ra, biên bản khám nghiệm tử thi này cho thấy, Lâm Phong bị vật nhọn đâm xuyên qua vị trí cánh lớn xương bướm trên hộp sọ, làm đứt động mạch màng não giữa gây sung huyết, do không được cầm máu trong một thời gian dài mà dẫn đến tử vong. Về lí thuyết mà nói thì kiểu tổn thương này sẽ không gây tử vong ngay lập tức. Mà đầu tiên, sẽ khiến Lâm Phong rơi vào trạng thái hôn mê sâu, giữa chừng vẫn có thể tỉnh lại trong những quãng thời gian ngắn. “Ngoài chiếc điện thoại di động bị hung thủ mang đi khỏi hiện trường, thì trong nhà anh ta còn có điện
thoại cố định, vẫn có cơ hội để gọi cấp cứu. Nhưng trên thực tế, Lâm Phong lại không thể làm gì để tự cứu mình, em cho rằng việc đó có liên quan đến chi tiết mà biên bản khám nghiệm tử thi đã chỉ ra: Trong máu của anh ta có chứa thành phần thuốc ngủ. Nhưng tình tiết chuốc thuốc cho nạn nhân lại không thấy xuất hiện trong vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo.” “Lí do đó cũng có thể giải thích tại sao Lâm Phong lại ngoan ngoãn để hung thủ dùng vải bịt mắt mình.” Diệp Hi tiếp lời. “Theo như hồ sơ vụ án, tại hiện trường không tìm thấy vỏ lọ thuốc hay bao bì gì có liên quan đến thuốc ngủ, điều đó có nghĩa là hung thủ đã mang nó đi mất, và như vậy cũng có thể gián tiếp chứng minh rằng, Lâm Phong có khả năng bị chuốc thuốc ngủ.” Ngải Tiểu Mĩ cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi ngẩng lên nói tiếp, “Liệu có khả năng vụ án trong công viên Bách Thảo cũng theo cùng mô típ đó, nhưng vì đã lâu năm quá rồi nên không thể xét nghiệm ra thành phần thuốc ngủ trong xương?” “Không đâu, Phenobarbital không dễ phân giải và tiêu biến trong các tổ chức tử thi, đừng nói là sáu, bảy năm, cho dù có lâu hơn nữa, vẫn có thể giám định ra chất này từ trong xương và những bộ phận phân huỷ của tử thi.” Cố Phi Phi giải thích, “Tất nhiên, cũng không loại trừ khả năng hung thủ đã sử dụng một chất gây ảo giác khác có tính bay hơi rất
nhanh, hoặc chuốc nạn nhân say rượu, sau đó thừa cơ gây án.” “Thầy Hàn, thầy nghĩ sao?” Đỗ Anh Hùng liếc nhìn Hàn Ấn vẫn im lặng này giờ, hỏi thăm dò. “Có sự tương đồng trong hành vi đánh dấu, thế nhưng sự khác biệt giữa hai vụ án đúng là khá lớn, cần phải tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, để xem liệu có thể tìm được mối liên quan nào khác không.” Hàn Ấn vừa dứt lời, điện thoại di động trong túi của Cố Phi Phi đã đổ chuông. Nghe điện thoại một lát, đến khi kết thúc cuộc gọi, sắc mặt của Cố Phi Phi mừng lo lẫn lộn, cô trầm giọng thông báo: “Đã có kết quả đối chiếu ADN, bố của Tôn Dương không có mối quan hệ huyết thống nào với cả ba bộ hài cốt vô danh, thế nhưng kết quả giám định lại cho thấy giữa bố của Vương Ba và bộ hài cốt mà chúng ta đã nhận định là nạn nhân đầu tiên tồn tại mối quan hệ cha con. Cũng có nghĩa là, Tôn Dương không xuất hiện trong số ba bộ hài cốt đó, thế nhưng Vương Ba lại được xác nhận là nạn nhân đầu tiên bị sát hại trong vụ án này. Về hai nạn nhân còn lại, toàn bộ dữ liệu ADN của họ đã được tải lên, nhưng đối chiếu với kho dữ liệu nhân khẩu mất tích và kho dữ liệu hồ sơ tội phạm đều không tìm kiếm được kết quả trùng hợp. Xem ra, bước tiếp theo chỉ còn cách gửi hộp sọ của họ đến Trung tâm Giám định Vật chứng của Cục.”
Cuối cùng thì đã có một bước đột phá trong việc xác định lai lịch nạn nhân, tương ứng với đó, Nhóm Hỗ trợ đã có thể đưa ra phán đoán sơ bộ về cái chết của ba nạn nhân cùng thời gian chôn xác: Nạn nhân đầu tiên, Vương Ba, bỏ nhà ra đi vào ngày 19 tháng 6 năm 2010. Bên cạnh đó, núi Nam Sơn, tức nơi chôn xác, được sáp nhập với công viên Bách Thảo vào đầu tháng năm 2011. Nếu kết hợp với kết luận về giám định pháp y trước đó – khoảng cách giữa ba vụ giết người chôn xác không quá xa nhau, vậy thì chuỗi vụ án giết người hàng loạt có liên quan đến công viên Bách Thảo rất có thể xảy ra trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 6 năm 2010 đến đầu tháng 8 năm 2011. Đồng thời, cũng có thể xác định được một nghi phạm là Tôn Dương. Tôn Dương đã nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với Vương Ba tại Trường Cai nghiện internet Triều Dương, đến nay, một người thì biến mất, một người đã biến thành hài cốt, điều đó khiến cảnh sát ngờ rằng giữa hai bên có lẽ có mối liên quan nào đó. Giả sử như mối liên quan này được xác lập, vậy thì đồng nghĩa với việc Tôn Dương chính là hung thủ trong vụ giết người hàng loạt này. Về động cơ gây án, rõ ràng là giết người để trả thù. Vậy thì vấn đề đặt ra là, hai nạn nhân còn lại có mẫu thuẫn gì với Tôn Dương? “Liệu họ có dính dáng gì đến Trường Cai nghiện internet Triều Dương không?” Cố Phi Phi chau mày,
đưa mắt lướt qua mọi người rồi đặt câu hỏi. “Có khả năng này.” Hàn Ấn đắn đo gật đầu, rồi đột nhiên thay đổi chủ đề, “Chỉ có điều anh cứ cảm thấy Tôn Dương dường như không có mấy khả năng chủ động tấn công, lại càng không có tố chất của một kẻ giết người hàng loạt.” “Dù sao đi nữa, hiện tại anh ta cũng đang là nghi phạm số một của chúng ta, lại thêm vụ án của Lâm Phong, nếu cũng có liên quan đến vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo, thì không chừng hung thủ cũng chính là Tôn Dương,” Diệp Hi đưa ra ý kiến. “Vụ án Lâm Phong chẳng phải đã thu được dấu vân tay sao? Liệu có thể đối chiếu với dấu vân tay của Tôn Dương không?” “Tất nhiên là có thể, dấu vân tay trên mỗi ngón tay của con người ta là duy nhất. Cho đến hiện tại, vẫn chưa tìm thấy hai người có dấu vân tay giống hệt nhau, trong vấn đề nhận dạng, chứng cứ dấu vân tay thậm chí còn có tính tuyệt đối hơn so với ADN. Nhưng Tôn Dương đã mất tích nhiều năm, việc trích xuất dấu vân tay sẽ tương đối khó khăn.” Cố Phi Phi tiếp tục giải thích, “Trước tiên, cần tìm kiếm tại hiện trường, chủ yếu là trong phòng ngủ của Tôn Dương. Sau đó cần thu thập một số đồ dùng thiết yếu hằng ngày của Tôn Dương mang về Cục giám định để tìm kiếm kĩ lưỡng hơn. Sau khi lấy được các mẫu dấu vân tay rồi, trước hết cần phải sàng lọc loại trừ, và xác nhận những dấu vân tay nào là của Tôn Dương. Tất
nhiên, yêu cầu cuối cùng vẫn là tìm thấy hai dấu vân tay bên tay phải của Tôn Dương, bởi hai dấu vẫn tay lưu lại trên hung khí giết người trong vụ án Lâm Phong là của ngón cái và ngón trỏ bên tay phải.”
CÁC HƯỚNG XUẤT KÍCH Khi trời sáng bảnh, mưa cuối cùng cũng tạnh, Nhóm Hỗ trợ chỉ được nghỉ ngơi chừng ba, bốn tiếng đồng hồ, đã lại lu bù với công việc. Về vụ án Lâm Phong, Cố Phi Phi muốn để Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ phụ trách toàn diện. Vậy là hai cô cậu không còn phải giam mình trong Phòng Lưu trữ ngột ngạt nữa nên hớn hở ra mặt, hào hứng muốn được thử sức ngay. Trong hồ sơ vụ án Lâm Phong có lưu lại số điện thoại di động của bố nạn nhân là Lâm Đức Lộc. Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ cho rằng người làm kinh doanh thường ít thay đổi số điện thoại, nên vẫn quyết định gọi đến số đó thử xem. Quả nhiên, người nhận điện thoại chính là Lâm Đức Lộc, và đáng mừng hơn nữa là ông ta đã chuyển về sinh sống tại căn nhà nơi Lâm Phong bị sát hại. Hai người hẹn thời gian với Lâm Đức Lộc, xin Ban Chuyên án cấp cho một chiếc xe, bật thiết bị chỉ đường rồi xuất phát. Mặc dù tình hình đường sá giao thông trong thành phố đang dần trở lại bình thường sau nhiều ngày tích cực sửa chữa, nhưng tắc đường vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Chiếc xe lúc đi lúc dừng, Ngải Tiểu Mĩ và Đỗ Anh —— HỒI THỨ 5 ——
Hùng cũng tranh thủ trò chuyện đôi câu. “Này, anh có cảm thấy mối quan hệ giữa thầy Hàn và trưởng nhóm Diệp có vẻ không bình thường không?” Ngải Tiểu Mĩ chớp chớp đôi mắt to xinh đẹp, bên môi nở một nụ cười ranh mãnh hỏi. “Ý em là gì?” Đỗ Anh Hùng ngơ ngác hỏi. “Hai người có vẻ rất ám muội.” Ngải Tiểu Mĩ nhướng mày đáp. “Đừng nói linh tinh,” Đỗ Anh Hùng lừ mắt với Ngải Tiểu Mĩ. “Thầy Hàn không phải loại người bắt cá hai tay đâu!” “Đương nhiên thầy Hàn không phải người như vậy, nhưng bị người khác theo đuổi cũng đỡ không nổi!” Ngải Tiểu Mỹ ra vẻ bí hiểm, hạ giọng thì thào, “Em nghe nói trưởng nhóm Diệp và thầy Hàn quen nhau từ trước khi quen chị Cố cơ, hình như còn có tình cảm đặc biệt với nhau nữa.” “Vậy nên tối qua lúc ăn đêm, em cố tình nói những lời đó để cảnh tỉnh thầy Hàn phải không?” Đỗ Anh Hùng hỏi. “Vâng, em muốn nói chị Cố mới là người tốt nhất.” Ngải Tiểu Mĩ đáp. “Anh thấy em càng ngày càng to gan rồi đấy, cả chuyện tình cảm giữa chị Cố với thầy Hàn mà cũng chõ mũi vào, cẩn thận để chị Cố biết được lại chẳng sút em ra khỏi nhóm.” Đỗ Anh Hùng đe doạ.
“Được rồi, được rồi, thì thôi không nói nữa.” Ngải Tiểu Mĩ nhấm nhẳng, cụt hứng ra mặt, ngồi im một lúc lại không chịu được, quay sang hào hứng hỏi, “Nếu là anh, giữa trưởng nhóm Diệp và chị Cố, anh sẽ chọn ai?” “Hừm, anh làm gì có diễm phúc đó, không dám nghĩ tới.” Đỗ Anh Hùng cười, thực thà đáp. “Là giả dụ thôi mà, chứ ai cho anh chọn thật, anh cứ đặt mình vào vị trí của thầy Hàn rồi chọn thử xem.” Ngải Tiểu Mĩ huých cùi chỏ vào Đỗ Anh Hùng giục giã. “Thực ra, xét một cách tổng thể thì trưởng nhóm Diệp và chị Cố đều là người thanh lịch, trí tuệ, thuộc hình mẫu phụ nữ hoàn mĩ, mạnh mẽ, chín chắn. Nếu xuất phát từ trải nghiệm cá nhân của thầy Hàn: Bố mẹ li dị từ khi còn nhỏ, thiếu thốn tình mẫu tử suốt một thời gian dài, vậy nên niềm khát khao đối với tình mẫu tử đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đáy lòng thầy ấy. Sau khi trưởng thành, thầy ấy cũng đặc biệt có cảm tình với kiểu phụ nữ trưởng thành, mang vẻ đẹp thanh lịch dịu dàng giống như mẹ mình. Tóm lại, chị Cố và trưởng nhóm Diệp đều là mẫu hình phụ nữ mà thầy ấy thích.” Đỗ Anh Hùng nghiêm túc suy nghĩ một chốc rồi thở hắt ra, “Nhưng em có nhận thấy không, trên thực tế, thầy Hàn và chị Cố về bản chất là cùng một kiểu người. Chị Cố dùng vẻ ngoài lạnh lùng và cao ngạo để che giấu sự kém giao tiếp và ứng xử; còn thầy Hàn thì dùng nụ cười ôn tồn
thường trực và thái độ lịch thiệp để giữ khoảng cách với người khác. Vẻ chừng mực ấy, chẳng phải cũng là một kiểu cao ngạo sao?” “Anh thao thao bất tuyệt cả tràng này giờ, té ra là muốn nói thầy Hàn và chị Cố không thể bổ sung cho nhau đấy à?” Ngải Tiểu Mĩ sốt ruột vặc lại. “Đúng vậy,” Đỗ Anh Hùng gật đầu. “Ngược lại, trưởng nhóm Diệp đem lại cho người ta cảm giác thân thiện dễ gần hơn, trông chị ấy giống như một người rất lịch duyệt và giàu kinh nghiệm, tính cách bao dung độ lượng, sống cùng với chị ấy sẽ vui vẻ dễ chịu hơn. Còn nữa, xét về nhan sắc và khí chất thì hai người họ một chín một mười, nhưng ở trưởng nhóm Diệp còn có thêm nét quyến rũ, nên có phần nữ tính hơn.” “Thôi đi, anh không phải nói hay ho thế làm gì, cứ nói thẳng toẹt ra là đàn ông thích kiểu phụ nữ body gợi cảm, lẳng lơ mời gọi cho nhanh!” Ngải Tiểu Mĩ bĩu môi, “Dựa trên thang đo thị lực của đàn ông khi nhìn phụ nữ thì anh chính là kiểu đàn ông dung tục nằm giữa điểm mù hoàn toàn và thị lực 1.0.” “Thang đo thị lực của đàn ông khi nhìn phụ nữ là gì?” Đỗ Anh Hùng ngơ ngác hỏi. “Anh đúng là đồ quê một cục, cái này mà cũng không biết.” Ngải Tiểu Mĩ rút điện thoại, mở một tấm ảnh rồi chìa trước mặt Đỗ Anh Hùng, “Đây là thang đo thị lực dành cho đàn ông, bạn em gửi cho
em đấy. Xem ở đây viết này: Người quan tâm đến vòng 1 của phụ nữ đầu tiên: thị lực mù. Người quan tâm đến mặt và chân đầu tiên: thị lực 1.0. Người quan tâm đến eo, mông, da đầu tiên: thị lực 2.0. Người quan tâm đến khí chất, cách ăn mặc, tính tình đầu tiên: thị lực 3.0. Người quan tâm đến sở thích, tài năng, tính cách đầu tiên: thị lực 4.0…” “Cái quái gì vậy? Ba cái trò vớ vẩn trên mạng!” Đỗ Anh Hùng liếc nhìn màn hình điện thoại một lát rồi đưa tay ra định giật lấy, “Để anh xem, là ai đã gửi cho em cái tin nhảm nhí này, trai hay gái?” “Liên quan gì đến anh?” Ngải Tiểu Mĩ nhanh tay thu lại điện thoại, né được cú chụp của Đỗ Anh Hùng, chun mũi tinh nghịch nói. “Là con trai thì đã sao? Anh là gì của em mà quan tâm thế.” “Thì thôi, khỏi quan tâm, tuỳ em, được chưa?” Đỗ Anh Hùng dấm dẳng đáp. Bầu không khí trong xe có chút sượng sùng, nhưng Ngải Tiểu Mĩ dường như không để tâm, chẳng biết từ lúc nào khuôn mặt cô nàng đã thoáng ửng hồng. Căn nhà của Lâm Phong trước đây nằm trong một khu dân cư khá cũ kĩ, sát chợ truyền thống, môi trường xung quanh phức tạp. Trong nhà phòng ốc khá rộng rãi, có hai phòng ngủ và hai phòng khách,
rộng hơn chín mươi mét vuông. “Xin lỗi, hôm nay tắc đường quá, bắt bác phải đợi lâu.” Đã quá giờ hẹn một tiếng đồng hồ nên vừa gặp mặt, Đỗ Anh Hùng vội vàng xin lỗi. “Không sao, không sao, bây giờ tôi là tỉ phú thời gian mà.” Bố của Lâm Phong, Lâm Đức Lộc liên tục xua tay nói, rồi mỉm cười buồn bã. “Hai mẹ con thằng Phong lần lượt ra đi, tôi sống cũng chẳng còn gì vui vẻ nữa, công ty cũng chuyển nhượng rồi, cuộc hôn nhân thứ hai cũng li dị rồi, bây giờ chỉ còn một mình quanh quẩn ra vào, chỉ mong sớm ngày tìm lại công lí cho thằng Phong. Ồ, phải rồi, sau từng ấy năm các anh chị lại đến tìm tôi, có phải đã phát hiện ra manh mối gì mới không?” “Năm đó, bác là người đầu tiên phát hiện ra thi thể phải không ạ?” Ngải Tiểu Mĩ cố tình lảng tránh câu hỏi của Lâm Đức Lộc, hỏi lại. “Mẹ thằng Phong qua đời một thời gian thì tôi tái hôn, thằng Phong phản đối cuộc hôn nhân này, lại thêm vợ thứ của tôi cũng dẫn theo một cậu con trai, sống chung dưới một mái nhà không hoà thuận nên thằng Phong mới chuyển về nhà cũ sống một mình. Tôi có chìa khoá của căn nhà này nên thỉnh thoảng vẫn ghé qua mua cho nó ít đồ ăn và đồ dùng cần thiết. Hôm đó, tôi vừa đi du lịch nước ngoài về, định mang cho nó vài món đồ lưu niệm. Nào ngờ về đến nhà thì thấy đã đổi ổ khoá khác, tôi dùng chìa cũ không thể
mở được, tôi gõ cửa một lúc lâu nhưng bên trong không có động tĩnh gì, gọi vào điện thoại cố định chẳng ai nghe máy, gọi điện thoại di động thì báo tắt máy, trong khi xe của nó vẫn ở dưới nhà. Lúc đó, tôi đã có dự cảm chẳng lành, nên quay xuống xe lấy dụng cụ lên cạy cửa, và rồi nhìn thấy thằng Phong nằm sõng soài dưới sàn.” Kể đến đây, Lâm Đức Lộc nấc nghẹn, nước mắt ứa ra ròng ròng. Căn phòng chìm vào im lặng. Một lát sau, thấy tâm trạng của Lâm Đức Lộc đã ổn định trở lại ít nhiều, Ngải Tiểu Mĩ mới tiếp tục đặt câu hỏi, “Cháu đọc trong hồ sơ vụ án, thấy viết rằng Lâm Phong không đi làm, vậy thường ngày anh ấy làm gì? Thường giao tiếp với những ai?” “Chao ôi, biết nói thế nào đây nhỉ? Hai bố con tôi vốn ít trò chuyện với nhau, sau khi tôi tái hôn, quan hệ lại càng xa cách hơn, thi thoảng tôi gọi điện cho nó, nó cũng chỉ ậm ừ vài câu rồi tắt máy. Về sau, có lẽ là nó chặn số của tôi, hoặc cũng có thể nó đổi số mới nhưng không nói cho tôi biết, nên tôi gọi điện cho nó lúc nào cũng thấy đang tắt máy. Có thể nói, ngoài dịp Tết cả nhà gặp mặt nhau, chứ thường ngày tôi muốn gặp nó cũng không dễ. Vì vậy, tôi thực sự không biết thường ngày nó làm những gì.” Lâm Đức Lộc thở dài. “Vả lại, điều kiện tài chính của gia đình chúng tôi cũng không tệ, nó có đi làm hay không cũng chẳng quan trọng, chưa kể tâm lí của nó lúc đó cũng không thích hợp để đi làm.”
“Anh ấy bị làm sao kia?” Đỗ Anh Hùng hỏi. “Đều do chuyện của mẹ nó cả.” Khoé miệng Lâm Đức Lộc giật giật mấy cái rất thiếu tự nhiên, rồi nói tiếp với vẻ mặt đầy hối lỗi. “Hồi thằng Phong học cấp ba, tôi đã cho nó đi du học Canada. Mẹ nó không yên tâm nên đi theo nó. Đến khi nó học đến năm thứ hai đại học, chính là đầu năm 2008, nó và mẹ nó cùng bị tai nạn giao thông, thằng Phong may mắn chỉ bị gãy tay, nhưng mẹ nó thì thiệt mạng. Chuyện đó đã khiến thằng Phong bị sang chấn nặng nề, nó cứ ở lì trong căn hộ thuê bên ấy, không ra khỏi cửa, bỏ bẵng luôn cả học hành, tôi sợ nó xảy ra chuyện, đành phải làm thủ tục thôi học, đưa nó về nước.” Lâm Đức Lộc đưa hai bàn tay xoa mạnh lên hai má, cố gắng kìm chế cảm xúc. “Hồi đó công việc của tôi khá bận rộn, nên thằng Phong từ nhỏ đến lớn gần như một mình mẹ nó chăm lo, nó rất bám mẹ, sau khi về nước rồi, rất lâu sau nó vẫn không thể thoát khỏi sự ám ảnh về cái chết của mẹ nó. Thú thực, tôi đúng là một người bố tốt, tôi thật sự không biết phải làm thế nào để giao tiếp với con mình. Tất cả những gì tôi có thể làm là cố gắng đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vật chất của nó. Nào là iPhone, máy chơi game, máy tính xách tay, máy ảnh SLR, tôi mua cho nó không thiếu thứ gì, đều là hàng tốt nhất, mẫu mới nhất, thậm chí còn nhờ người bạn xách tay từ Mĩ về mẫu máy tính bảng vừa mới ra mắt để làm quà cho nó. Phải rồi, tôi còn tặng nó hẳn một chiếc xe hơi.”
“Ngoài chiếc xe ra, tất cả những món đồ mà bác vừa nhắc tới đều nằm trong danh sách đồ vật bị mất cắp, liệu có khả năng Lâm Phong tự mang bán đi không?” Ngải Tiểu Mĩ hỏi. “Không thể nào,” Lâm Đức Lộc dứt khoát xua tay. “Nó đâu có thiếu tiền, tháng nào tôi cũng đều đặn chuyển tiền vào thẻ tín dụng cho nó, hơn nữa, tấm thẻ đó còn có hạn mức thấu chi rất lớn. Tấm thẻ không bị kẻ xấu lấy đi, sau khi thằng Phong gặp nạn, tôi đã kiểm tra, số dư còn mấy vạn tệ. Hơn nữa, thằng Phong vốn rất thích sưu tầm sản phẩm kĩ thuật số, nó mê mấy món đó lắm, thà bán đồ cổ trong nhà cũng không thể mang bán những thứ đó.” “Vậy Lâm Phong có thói quen uống thuốc an thần hay thuốc ngủ không?” Đỗ Anh Hùng đưa ra câu hỏi cuối cùng. “Có lẽ là không.” Lâm Đức Lộc ngập ngừng trả lời, đắn đo một lát lại nói tiếp, “Nhưng hồi đó, thi thoảng khi tôi gặp nó, trông nó có vẻ uể oải phờ phạc, người cũng gầy xọp đi, trông như thiếu ngủ. “Lâm Phong có bao giờ nhắc đến một người tên là Tôn Dương không? Hay nói cách khác, bác có ấn tượng gì về cái tên Tôn Dương không?” Ngải Tiểu Mĩ hỏi. “Không, tôi chưa từng nghe thấy cái tên này.” Lâm Đức Lộc ngẫm nghĩ một lát rồi chậm rãi lắc đầu.
Sàng lọc trong thông tin hộ khẩu, tìm thấy tổng cộng 53 người có tên Phương Kiếm là cư dân của thành phố Giang Bình. Tiếp tục sàng lọc theo giới tính và độ tuổi, còn lại 15 người phù hợp với phạm vi tìm kiếm. Tề Binh lập tức bố trí nhân lực, cùng với Hàn Ấn và Diệp Hi, lần theo địa chỉ đăng kí hộ khẩu và số điện thoại liên lạc để tìm đến điều tra từng nhà. Lúc này, Hàn Ấn và Diệp Hi đang bước vào một toà chung cư cũ kĩ xám xịt, vách tường hành lang và cầu thang xi măng đã không còn nhận ra màu sắc ban đầu, tất cả mọi thứ đều toát lên một vẻ tối tăm và bẩn thỉu. Đây là ngôi nhà thứ ba họ tìm đến trong buổi sáng hôm nay, hai nhà trước đó tuy gặp được đối tượng cần tìm hiểu một cách suôn sẻ, nhưng cả hai người này đều chưa từng bị đưa đến trường cai nghiện mạng. Hai người đi lên tầng ba, thử gõ cửa một căn hộ nằm ở giữa hành lang. Một lát sau, bên trong vọng ra một giọng nói già nua đáp lại. Ngay sau đó, cánh cửa hé ra một khe hẹp, phía sau chốt cửa là khuôn mặt của một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt đầy cảnh giác. Diệp Hi rút thẻ cảnh sát, chìa ra trước mặt bà: “Chào cô, chúng tôi là cảnh sát, xin hỏi cô có một anh con trai tên là Phương Kiếm phải không?” “Cảnh sát á, ối trời, thằng Kiếm nhà chúng tôi có chuyện gì sao?” Bà cô hiểu lầm ý của hai người, cứ
ngỡ con con trai mình gặp tai nạn, quên bằng luôn cả cảnh giác, vội vàng mở chốt cửa hỏi dồn. “Cô cứ bình tĩnh, con trai cô không sao hết, chúng cháu đến đây là muốn nhờ anh ấy hỗ trợ tìm hiểu thông tin về một số người khác.” Hàn Ấn sợ bà lo lắng quá, bèn nhanh chóng giải thích. “Chao ôi, làm tôi hết cả hồn, thằng bé ở bên ngoài một mình, tôi không thể nào yên tâm cho được, chỉ sợ nó có chuyện gì.” Bà thở phào một hơi dài, “Xin mời, xin mời, vào nhà đã rồi nói.” “Cô ơi, theo như cô vừa nói thì Phương Kiếm không ở trong thành phố sao?” Hàn Ấn theo bà đi vào trong nhà. “Nó làm việc ở thành phố Cổ Đô, hai anh chị uống nước nhé?” Bà đáp rồi toan đi rót nước cho hai người. “Không cần đâu ạ, vì Phương Kiếm không có nhà nên chúng cháu chỉ hỏi cô vài câu thôi rồi sẽ đi ngay, cô cứ ngồi xuống đã.” Diệp Hi nắm lấy cánh tay bà, đỡ bà ngồi xuống ghế sofa, “Cô đã bao giờ nghe nhắc đến cái tên Trường Cai nghiện internet Triều Dương chưa?” “Có, tôi có biết.” Bà cô vội vã trả lời ngay. “Vậy con trai cô, Phương Kiếm, đã từng được đào tạo ở trường đó phải không?” Nghe thấy câu trả lời của bà, Hàn Ấn đoán rằng lần này đã tìm đúng người,
tinh thần lập tức phấn chấn hơn hẳn, vội vàng hỏi lại. “Đúng vậy, trường lớp đào tạo cái gì, lừa đảo thì có, giáo viên thì không có bằng cấp, rặt một lũ lưu manh.” Bà cô nghiến răng trèo trẹo, hằm hằm đáp. “Vậy cô có nhớ thời gian cụ thể khi Phương Kiếm vào trường đó không?” Diệp Hi tiếp tục hỏi. “Hình như là trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2008,” bà cô ngẫm nghĩ một lát rồi giận dữ nói tiếp, “tôi còn nhớ rõ lúc thằng bé quay về, nó gầy hốc hác không còn ra hình người, mình mẩy chỗ nào cũng bầm tím, lúc ngủ nó còn nói mớ, kêu thầy ơi đừng chích điện nữa.” Thời điểm cũng trùng khớp, hoàn toàn có thể khẳng định rằng con trai của bà chính là Phương Kiếm năm xưa từng nhập học tại Trường Cai nghiện internet Triều Dương cùng thời gian với Tôn Dương, là cậu bạn giường dưới của Tôn Dương trong kí túc xá. Hàn Ấn và Diệp Hi cũng hiểu tâm trạng của bà cô, nên kiên nhẫn lắng nghe bà bộc bạch cơn phẫn nộ. Diệp Hi lấy bút và sổ tay ra rồi nói. “Cô ơi, phiền cô cho cháu biết số điện thoại và địa chỉ nơi làm việc của Phương Kiếm tại thành phố Cổ Đô được không? Chúng cháu muốn liên lạc với anh ấy để hỏi thăm một số thông tin. “Được, được.” Bà cô đứng dậy, đi đến trước tủ tivi, rút lấy một tờ giấy chặn dưới tấm nhựa mềm, đưa
cho Diệp Hi. “Đây, ở đây có số điện thoại và địa chỉ của nó, cô ghi lại đi.” Từ nhà Phương Kiếm trở ra, vào trong xe rồi, Diệp Hi lập tức bấm số điện thoại vừa lấy được. Kết quả, gọi liền năm, sáu phút, nhưng đối phương vẫn tắt máy. Diệp Hi tắt cuộc gọi, quay sang nhìn Hàn Ấn đang chau mày tư lự, thăm dò: “Hay chúng ta đi Cổ Đô một chuyến.” “Thực sự là tôi rất muốn gặp trực tiếp Phương Kiếm, nhưng chỉ e chúng ta đến Cổ Đô rồi mà không thể tìm thấy anh ta ngay được lại phí công.” Hàn Ấn đắn đo. “Anh quên Cổ Đô là căn cứ địa cũ của tôi à? Tiểu Bắc hiện đã là đại đội trưởng rồi, điều phái một vài người hỗ trợ chúng ta tìm Phương Kiếm, chỉ là chuyện nhỏ.” Diệp Hi mỉm cười, giọng tràn đầy tự tin, “Anh yên tâm, chỉ cần Phương Kiếm vẫn ở trong thành phố Cổ Đô, tôi nhất định sẽ tìm thấy anh ta trong thời gian ngắn nhất. Vừa nói, Diệp Hi vừa lấy điện thoại di động, bấm số của Khang Tiểu Bắc. Điện thoại nhanh chóng được kết nối, Diệp Hi nói qua tình hình, nhìn thấy vẻ mặt nhẹ nhõm của cô, rõ ràng Khang Tiểu Bắc đã vui vẻ nhận lời. Cuối cùng, trước khi kết thúc cuộc gọi, Diệp Hi quay sang hỏi Hàn Ấn một câu: “Tiểu Bắc hỏi, nếu tìm được người thì làm thế nào? Theo dõi
tại chỗ, hay đưa về đội?” Hàn Ấn ngẫm nghĩ một lát rồi trầm giọng đáp, “Dẫn thẳng đến phòng thẩm vấn.”
CHÂN TƯỚNG ĐẾN MUỘN Thành phố Giang Bình nằm ở phía đông nam của tỉnh Đông Tô, là một địa danh văn hoá lịch sử nổi tiếng mang nét đẹp cổ kính, nằm cách tỉnh lị là thành phố Cổ Đô hơn 200 ki lô mét, nếu đường sá thông suốt, đi xe chừng ba tiếng đồng hồ là tới nơi. Trước khi lên đường, Hàn Ấn đã gọi điện thoại trước cho Cố Phi Phi, ngoài việc thông báo cho cô biết bước tiến triển trong kế hoạch tìm kiếm Phương Kiếm, thì anh cảm thấy vấn đề quan trọng nhất là anh và Diệp Hi sẽ trai đơn gái chiếc cùng nhau đi xa, về lí mà nói cũng nên báo cáo với bạn gái một câu, để tránh gây ra những hiểu lầm không đáng có. Cố Phi Phi nhận được cuộc gọi từ Hàn Ấn đúng lúc cô đang xử lí dấu vân tay của Tôn Dương trong phòng Giám định. Như cô đã phân tích trước đó, quá trình thu thập và xác nhận dấu vân tay của Tôn Dương cực kì phức tạp, đội ngũ nhân viên giám định lại có hạn, để nhanh chóng có được kết quả, Cố Phi Phi buộc phải đích thân xung trận. Cố Phi Phi vừa kết thúc cuộc điện thoại, đã thấy Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ đẩy cửa bước vào. Hai người tìm đến, chủ yếu là để báo cáo về chuyện đến —— HỒI THỨ 6 ——
nhà Lâm Phong vừa rồi, sau nữa là muốn lắng nghe ý kiến của Cố Phi Phi về phương hướng điều tra tiếp theo trong vụ án. Trong điều kiện không có nhiều manh mối, Cố Phi Phi gợi ý Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ có thể thử xuất phát từ tình tiết ‘trộm cắp’ trong vụ án này, để tra tìm và sàng lọc những hồ sơ vụ án có tình tiết trộm cắp xảy ra vào trước và sau thời điểm của vụ án Lâm Phong. Không chừng thủ phạm đang ẩn mình ngay trong những hồ sơ đó. Đương nhiên, mục tiêu cuối cùng vẫn là để giải quyết vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo, nếu như không thể nhanh chóng tìm ra tình tiết có liên quan tới vụ án Lâm Phong, Cố Phi Phi căn dặn Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ hãy biết buông tay đúng lúc, không nên lãng phí quá nhiều thời gian và sức lực cho vụ án này. Ngoài ra, Cố Phi Phi còn nói với hai người rằng, Tề Binh đã đưa bố mẹ của Vương Ba đến phân đội, đồng thời chính thức thông báo cho hai người thông tin Vương Ba đã chết. Ban nãy, hai ông bà đã đến Phòng Giải phẫu để xem di cốt con trai. Lúc này, có lẽ Tề Binh đang thẩm vấn họ và ghi chép lại thông tin. Cố Phi Phi yêu cầu Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ cũng qua đó ngay, để trao đổi sâu hơn với hai người họ, xem liệu có thể tìm ra manh mối nào đáng giá hay không. Xét cho cùng thì Tôn Dương mới chỉ là một trong những nghi phạm của vụ án, trong cái chết của Vương Ba vẫn còn tồn tại rất nhiều khả năng.
Trong phòng khách của phân đội, cuộc thẩm vấn đã kết thúc, bố mẹ Vương Ba vẫn chìm trong đau khổ, nước mắt đầm đìa, ngồi gục vào nhau bên chiếc bàn dài. Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ ngồi đối diện với hai người họ, im lặng đọc biên bản ghi chép, cũng là để đợi họ bình tĩnh trở lại. Sau khoảng mười lăm phút, hai ông bà mới dần thôi nức nở. Đỗ Anh Hùng bắt đầu đặt câu hỏi, “Vương Ba có bạn gái không ạ?” “Không!” Mẹ Vương Ba lắc đầu, giọng điệu vẫn tràn đầy đau xót. “Một đứa như nó, không việc làm, không tiền bạc, cả ngày chơi bời với mấy thằng đầu đường xó chợ, thì có đứa con gái nào dám theo nó cơ chứ.” “Đám đầu đường xó chợ mà bác đang nói đến, là những người thế nào vậy?” Ngải Tiểu Mĩ hỏi. “Còn có thể là ai được nữa? Một lũ lưu manh, du côn, bợm rượu!” Mẹ Vương Ba sụt sịt đáp. “Bác có thể nói rõ hơn được không? Ví dụ, Vương Ba thường qua lại với những ai, và anh ấy thân thiết với những ai?” Ngải Tiểu Mĩ hỏi tiếp. “Cái này thì thực sự là chúng tôi không biết được. Đôi khi thằng Ba cũng dẫn bạn về nhà, toàn là mấy thằng choai choai tóc nhuộm xanh đỏ, áo quần dị hợm. Cả tôi và mẹ nó đều thấy chướng mắt, nên cũng
không trò chuyện gì với chúng nó.” Bố Vương Ba đáp. “Sau khi Vương Ba xích mích với bác rồi bỏ nhà ra đi, không có ai đến tìm anh ấy sao?” Đỗ Anh Hùng hỏi. “Cũng có hai người đến tìm đấy.” Bố Vương Ba nhớ lại. “Hình như là sau khi thằng Ba bỏ đi khoảng hơn nửa tháng. Có hai cậu thanh niên đến nhà tôi tìm nó, nói rằng mình là bạn làm ăn của thắng Ba. Tôi và nhà tôi mới hỏi nó kinh doanh cái gì, thì hai người đó cứ ậm ừ rồi bỏ đi luôn, không nói gì thêm nữa.” Hai thanh niên, bạn làm ăn – hai bộ hài cốt vô danh còn lại, giữa hai đối tượng đó liệu có mối liên quan gì không? Đỗ Anh Hùng thầm tự hỏi, sau khi đưa mắt ra hiệu cho Ngải Tiểu Mĩ, anh tiếp tục hỏi ông bố: “Bác còn nhớ hai người đó trông như thế nào không?” “Lâu quá rồi, tôi không nhớ rõ.” Bố Vương Ba chầm chậm lắc đầu. “Tôi vẫn còn chút ấn tượng đấy, nhưng chỉ tả đại khái được thôi.” Mẹ Vương Ba tiếp lời. “Không sao, bác nhớ được đến đâu thì cứ nói đến đó, chốc nữa xin bác vui lòng hỗ trợ chúng cháu một lát trong thao tác mô phỏng chân dung,” Đỗ Anh Hùng nói. “Lúc đi khỏi nhà, chắc Vương Ba có mang theo điện thoại di động chứ ạ. Xin bác cho biết số điện
thoại của anh ấy.” Ngải Tiểu Mĩ hỏi. “156…” Mẹ Vương Ba nói ra một dãy số. “Lần cuối cùng hai bác gọi vào số này là khi nào vậy?” Ngải Tiểu Mĩ tiếp tục hỏi. “Một ngày sau khi thằng Ba bỏ nhà ra đi, tôi có gọi cho nó. Hai ngày sau đó, tôi lại gọi cho nó một cuộc nữa, nó đều nhận điện thoại, nói rằng nó đang ở tạm nhà một người bạn, bảo tôi không phải lo lắng.” Mẹ Vương Ba cố gắng nhớ lại rồi đáp, “Lại cách đó hai ngày nữa, tôi gọi tiếp thì điện thoại đã tắt máy.” 3 giờ 15 phút chiều, xe rời khỏi đường cao tốc, tiến vào thành phố Cổ Đô. Diệp Hi nhận được cuộc điện thoại của Khang Tiểu Bắc, nói rằng mọi việc đã xong xuôi. Kì thực cũng không mất bao nhiêu công sức. Phương Kiếm làm việc trong một nhà máy hoá chất ở Cổ Đô. Nhà máy quy định trong giờ làm việc phải tắt điện thoại di động, vậy nên Diệp Hi mới không thể gọi được cho anh ta. Lúc này, Khang Tiểu Bắc đã đưa thẳng Phương Kiếm từ nhà máy đến phòng thẩm vấn của Phân đội Cảnh sát Hình sự thành phố Cổ Đô. Diệp Hi vốn cứ ngỡ rằng Hàn Ấn nhất quyết muốn tìm ra Phương Kiếm để tìm hiểu thông tin về Tôn Dương qua anh ta, nhưng lúc này xem ra tình hình không đơn giản như vậy. Hàn Ấn yêu cầu đưa thẳng Phương Kiếm đến phòng thẩm vấn, rõ ràng là cố tình muốn tạo bầu không khí uy hiếp, nhằm gây áp lực tâm lí cho
Phương Kiếm. Với một người giàu kinh nghiệm điều tra phá án như Diệp Hi, đương nhiên là cô biết, điều này có ý nghĩa gì. “Anh cho rằng năm đó Phương Kiếm đã nói dối cảnh sát sao?” Diệp Hi hai tay giữ vô lăng, liếc nhìn Hàn Ấn đang ngồi trên ghế phụ. “Ừm.” Hàn Ấn dõi nhìn đường phố qua cửa kính, chỉ khẽ bật ra một tiếng trong cổ họng, biểu cảm trong ánh mắt rất phức tạp, vừa có chút gì như mến thương, lại vừa như bâng khuâng hụt hẫng. Thành phố này không hề xa lạ với Hàn Ấn, có thể nói, thành phố Cổ Đô có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời anh. Tại đây, anh đã phá được nhiều vụ trọng án chấn động, khiến anh trở nên nổi tiếng trong giới điều tra tội phạm và trong lĩnh vực tâm lí học tội phạm ứng dụng, quan trọng hơn cả là chính tại đây, anh gặp được hai người con gái, một người là bạn tri kỉ, và một người sắp thành bạn đời trọn kiếp – Diệp Hi và Cố Phi Phi. Nhưng mỗi lần đặt chân đến thành phố này, trong lòng anh luôn dâng lên một nỗi buồn thương man mác. Sâu thẳm trong lòng, anh chưa bao giờ quên được một bóng hình lẻ loi bước đi trên đường Thanh Điểu dưới ánh chiều tà, cũng không thể nào quên cô nữ sinh đại học đã biến thành vô vàn mảnh vụn tan tác giữa nhân gian trong một đêm trường tuyết đổ. Giờ đây, nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học
kĩ thuật, cùng sự tiến bộ không ngừng của các kĩ thuật điều tra, rất nhiều vụ huyền án trước đây đều đã lần lượt xuất hiện manh mối mới, thậm chí có những vụ án oan đã tìm ra chân tướng, ví dụ như vụ án giết người hàng loạt tại Bạch Ngân… Thế nhưng vụ án Doãn Ái Quân gây rúng động dư luận vào những năm 90 của thế kỉ trước vẫn không chút tiến triển, đã trở thành một niềm nhức nhối trong lòng những cảnh sát hết mình với sự nghiệp điều tra hình sự. Đặc biệt là với Hàn Ấn, anh từng ngỡ mình đã tiến sát lại gần chân tướng, nhưng cuối cùng vẫn vuột mất thời cơ, khiến bao nhiêu công sức đổ sông đổ biển. Vụ án Doãn Ái Quân đã trở thành vụ án duy nhất vẫn khiến anh thúc thủ trong cuộc đời phá án của mình. Ngẩn ngơ mất một chốc, Hàn Ấn mới sực nhớ cần trả lời câu hỏi của Diệp Hi, bèn quay sang nói. “Tôi cảm thấy chuỗi chứng cứ cho việc trốn trường của Tôn Dương quá suôn sẻ, suôn sẻ quá lại thành ra thiếu chân thực. Nhất là khi chúng ta thẩm vấn Triệu Thường Thụ, khi hỏi đến quá trình mất tích của Tôn Dương, cách trả lời của anh ta quá mạch lạc, quá bài bản, gần như giống hệt những gì anh ta đã trình bày với cảnh sát khu vực năm xưa, nên tôi có cảm giác đây giống như một kịch bản đã được chuẩn bị từ trước và được tập dượt nhiều lần.” “Anh đợi chút, để tôi chỉnh lí lại.” Diệp Hi cũng sắp xếp lại mạch tư duy của mình rồi nói, “Trước tiên, là
lời khai của phía trường học: Tôn Dương xích mích với giáo viên trong giờ thể dục buổi sáng, bởi gây hấn với giáo viên, lo sợ bị trả thù nên nảy ra suy nghĩ bỏ trốn. Tiếp theo, các học viên cùng phòng kí túc xá với Tôn Dương xác nhận Tôn Dương đã quay về phòng lúc đêm muộn, nhưng không ai biết Tôn Dương đã lẳng lặng lẻn ra ngoài từ lúc nào. Cuối cùng, người cai thợ của đội xây dựng tự dưng nhảy ra chứng thực: Sáng sớm hôm đó đội thợ vào trường để thi công, sau đó anh ta ra ngoài mua thuốc lá, và cổng trường để ngỏ trong vòng bảy tám phút nên đã cho Tôn Dương cơ hội bỏ trốn ra ngoài. Kết hợp những điểm này lại, thế là một cách đương nhiên, đã có thể kết luận vụ việc mất tích của Tôn Dương là tự ý trốn khỏi trường học, không có gì phải bàn cãi.” Diệp Hi dừng lại một chốc, rồi chau mày nói. “Nghe anh gợi ý, nghĩ lại quả thực cũng có vẻ giống như đã được lên kế hoạch cẩn thận. Anh muốn tìm kiếm điểm đột phá từ chỗ Phương Kiếm, phải không?” “Lại nói tiếp về cuộc thẩm vấn Triệu Thường Thụ hôm trước, chúng ta có nhắc đến mấy cái tên, bao gồm Tôn Dương, Vương Ba, cai thầu… Nhưng chỉ duy nhất khi nhắc đến cái tên Phương Kiếm, Triệu Thường Thụ mới có biểu cảm tự nhiên, thoải mái nhất, cho thấy năm xưa Phương Kiếm không thông đồng với phía nhà trường, lời khai của anh ta, rất có thể chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và tâm trạng của anh ta lúc đó.” Hàn Ấn giải thích kĩ hơn, “Nhìn vào
dữ liệu hồ sơ, có thể thấy rằng cái gọi là đào tạo cai nghiện internet ở trường Triều Dương chẳng qua là sử dụng các biện pháp mang tính trừng phạt thân thể như chích điện, đánh đập, giam nhốt…, xét về thực chất là sử dụng phương thức bạo lực để giải quyết vấn đề nghiện mạng, chứ không hề có cơ sở khoa học. Đồng thời, nhà trường cũng áp dụng cơ chế tự quản như học viên giám sát lẫn nhau, khuyến khích tố cáo lẫn nhau, điều đó đã khiến cho các học viên luôn phải sống trong bầu không khí căng thẳng, sợ hãi, cảnh giác, đề phòng, và rồi càng ngày càng trở nên vô cảm, càng thiếu niềm tin vào con người, thậm chí khiến học viên chìm trong tâm lí sợ hãi, hoang mang, ngờ vực. Sống trong một môi trường như vậy, nhận thức của học viên về đúng sai, phải trái, được mất, thiệt hơn đã hoàn toàn thoát li khỏi sự ràng buộc của quy chuẩn đạo đức và pháp luật, thoái hoá đến độ coi ‘luật rừng’ là nguyên tắc đầu tiên để xử lí mọi việc. Nói một cách dễ hiểu, sống trong một môi trường như vậy, để bảo đảm an toàn cho mình, học viên có thể bán đứng mọi thứ, và điều đó đã trở thành một hành vi vô thức, thậm chí là bản năng.” “Tôi hiểu rồi, ý anh muốn nói, khi Ngô Hạo thẩm vấn Phương Kiếm, rất có khả năng anh ta đã chịu tác động của một thứ ám thị tâm lí nào đó mà vô thức đưa ra lời khẩu cung có lợi nhất cho phía nhà trường và có lợi cho bản thân anh ta.” Diệp Hi nói. “Đúng vậy,” Hàn Ấn nghiêm túc đáp, “tôi hi vọng
hôm nay anh ta sẽ nói cho chúng ta biết chân tướng.” Nửa tiếng đồng hồ sau, cuối cùng thì Hàn Ấn và Diệp Hi đã gặp được Phương Kiếm. Đó là một anh chàng tóc húi cua, mập và lùn, mắt nhỏ, bộ dạng chân chất, có vẻ là mẫu người thật thà. “Anh đã từng nhập học Trường Cai nghiện internet Triều Dương phải không?” Diệp Hi đi thẳng vào vấn đề. “Vâng, vâng!” Phương Kiếm vừa cúi người về phía trước vừa luôn miệng đáp, anh chàng có vẻ sợ sệt. “Còn nhớ Tôn Dương năm đó ở giường trên của anh không?” Diệp Hi hỏi. “Nhớ, nhưng cậu ấy ở đó chỉ vài ngày thôi, sau đó thì đi mất.” Phương Kiếm đáp. “Tại sao lại đi mất?” Diệp Hi lại hỏi. “Cậu ấy đánh lộn với giáo viên phụ đạo, sau đó trốn khỏi trường.” Phương Kiếm đáp. “Hãy trình bày cụ thể. Chúng tôi từ Giang Bình đến đây, chính là muốn anh kể lại đầu đuôi câu chuyện này cho thật chuẩn xác.” Dừng lại một lát, Hàn Ấn cố tình nhấn mạnh, “Còn nữa, chúng tôi muốn nghe sự thật.’ “Ồ, vâng!” Phương Kiếm im lặng suy nghĩ một lát mới ngập ngừng nói, “Không biết các anh chị đã biết chưa, cái cậu Tôn Dương ấy cứ như con gái, làm gì
cũng õng a õng ẹo, tập thể dục cũng thế. Thực ra, cậu ta tập thể dục buổi sáng lúc nào chẳng vậy, mà mọi hôm giáo viên phụ đạo có nói gì đâu. Có lẽ hôm đó thầy Vương đang bực bội chuyện gì, nhìn thấy Tôn Dương tập tành ẻo lả thì ngứa mắt, mới xông đến cho cậu ta một cái bạt tai, còn chửi mắng ầm ầm. Tôn Dương tự dưng bị ăn đòn, cứ đứng đực ra tại chỗ không biết phải làm gì, thầy Vương thấy thế lại càng nổi điên, đạp Tôn Dương ngã nhào xuống đất rồi xông tới lột quần của cậu ấy, bảo là muốn xem cậu ấy là đàn ông hay đàn bà, muốn xem cậu ấy có cái ấy không. Tôn Dương vừa cố giữ quần vừa van xin thầy Vương tha cho mình, nhưng thầy Vương không quan tâm, cứ nhất quyết muốn lột quần cậu ấy ra bằng được, thế là Tôn Dương cũng khùng lên, cắn vào tay thầy Vương rồi nghiến chặt lấy không chịu nhả. Thầy Vương mãi mới giằng ra được, thấy cánh tay bị cắn toạc một mảng thì túm lấy Tôn Dương đấm đá túi bụi một hồi, sau đó túm cổ lôi xềnh xệch cậu ta vào trong toà nhà cứ như kéo một con chó chết.” “Chỉ có hai người họ ẩu đả sao? Còn ai khác tham gia không?” Hàn Ấn hỏi. “Chỉ có hai người họ thôi. Sau khi thầy Vương lôi Tôn Dương vào trong toà nhà rồi, lão hiệu trưởng họ Triệu mới lò dò đi theo, chắc chắn là để chích điện Tôn Dương, lão rất rành món đó.” Phương Kiếm hằn học đáp. “Lúc đó, trong phòng kí túc xá của các anh có mấy Ấ
người?” Hàn Ấn hỏi. “Hai bên mỗi bên ba giường, tổng cộng mười hai người.” Phương Kiếm đáp “Anh và Tôn Dương ở giường nào?” Hàn Ấn hỏi. “Giường bên phải sát cửa ra vào.” Phương Kiếm đáp “Lúc đó, nội quy của nhà trường là mấy giờ tắt đèn đi ngủ?” Hàn Ấn hỏi. “9 giờ.” Phương Kiếm đáp. “Vậy tại sao anh biết Tôn Dương quay về phòng lúc 10 giờ?” Hàn Ấn hỏi. “Mỗi phòng kí túc xá đều có một chiếc đồng hồ báo thức nhỏ.” Phương Kiếm nói. “Đồng hồ báo thức có dạ quang không?” Hàn Ấn hỏi. “Không có!” Phương Kiếm đáp. “Chúng tôi đã đến phòng kí túc xá của anh, cái đồng hồ báo thức ấy chắc là được đặt ở trên chiếc bàn kê sát cửa sổ phải không?” Khoé miệng Hàn Ấn thấp thoáng một tia giễu cợt, “Lúc đó trong phòng tắt đèn tối om, làm thế nào mà anh có thể nhìn thấy kim phút kim giờ từ vị trí giường của anh được vậy?” “Tôi… tôi thực ra là tôi nghe lão hiệu trưởng nói vậy.” Phương Kiếm cúi gằm mặt, phấp phỏng đáp khẽ, “Lúc đó, lão hiệu trưởng dẫn cảnh sát đến tìm
chúng tôi thẩm vấn. Tôi nghe ông ta nhấn mạnh với anh cảnh sát là đã thả Tôn Dương về lúc 10 giờ tối. Tôi mới nghĩ hiệu trưởng Triệu bảo 10 giờ thì chắc là 10 giờ, cứ đứng về phía nhà trường cho an toàn, Tôn Dương về lúc mấy giờ mà chẳng thế.” Nói đến đây, Phương Kiếm chợt ngẩng đầu lên, nhấn mạnh: “Nhưng đêm hôm đó chắc chắn là Tôn Dương có về phòng, có lẽ cậu ấy bị đánh đập dã man quá nên không còn sức lực, lúc leo lên giường trên rất khó khăn, làm cả cái giường rung lên bần bật.” “Khoan đã, ý anh muốn nói, anh không thấy mặt Tôn Dương, mà chỉ là bị động tác rung giường đánh thức, và cho rằng anh ta đã về phòng?” Diệp Hi nhạy bén phát giác ra thông tin ngầm ẩn phía sau lời nói của Phương Kiếm, liền gấp gáp hỏi dồn. “Vâng, nhưng việc đó thì có gì khác nhau?” Phương Kiếm ngẩn ra, ngơ ngác hỏi lại, “Không phải cậu ta, còn là ai được?” “Thế này nhé Phương Kiếm, bây giờ, anh hãy dựa lưng vào thành ghế, ngồi cho thật thoải mái, hoàn toàn thả lỏng.” Hàn Ấn dường như không hề ngạc nhiên trước những gì Phương Kiếm vừa trình bày, ôn tồn nói, “Anh hãy hồi tưởng lại cho thật kĩ quá trình Tôn Dương quay về phòng cho đến khi leo lên giường đi ngủ, xem có gì khác với thường ngày không? Anh nhớ lại xem, bất kì chi tiết nào cũng được, chẳng hạn như âm thanh, mùi, động tác.” Ồ
“Ồ, vâng!” Phương Kiếm ngoan ngoãn nhích mông về phía lưng ghế, xoa hai tay vào nhau, tập trung suy nghĩ, cố gắng lục tìm trong trí nhớ, một lát sau mới ngập ngừng nói, “Tính Tôn Dương rất ưa sạch sẽ, ngày nào cũng rửa tay rửa mặt nhiều lần, lần nào cũng dùng rất nhiều xà phòng thơm nên người lúc nào cũng thơm tho. Nhưng tối hôm đó tôi không ngửi thấy… Tôi… tôi chỉ có thể nhớ được đến thế thôi. Mà phải, năm đó Tôn Dương đã trốn đi đâu vậy? Cậu ta đã phạm tội gì sao?” “Có lẽ,” Hàn Ấn hít vào một hơi thật sâu, “có lẽ cậu ta chưa từng rời khỏi trường Triều Dương.”
ĐỘI ĐẤT MÀ LÊN Một đêm không sao, vầng trăng nhợt nhạt dị thường lơ lửng phía chân trời, như một khuôn mặt buồn thảm. Chính trong đêm ấy, Trường Cai nghiện internet Triều Dương đã tịch mịch suốt bấy nhiêu năm lại bất ngờ xáo động bởi sự xuất hiện của một đoàn xe cảnh sát. Tiếng còi hú rạch toang bóng tối, như tiếng khóc ré lên thảm thiết giữa màn đêm. Xe dừng lại, các cảnh sát mặc đồng phục và thường phục lục tục xuống xe, cùng bước xuống còn có thêm một gã đàn ông đầu trọc mặc đồng phục tù nhân bị còng cả hai tay được hai cảnh sát áp tải. Gã đàn ông đầu trọc nhìn về phía toà nhà nhỏ hai tầng bên hông toà nhà chính, đưa tay vạch vạch vài cái, rồi bước về phía đó, đi trước dẫn đường. Các cảnh sát cùng bật đèn pin đi theo sau, tiến vào toà nhà nhỏ đổ nát, cũ kĩ. Gã đàn ông đầu trọc dẫn tốp cảnh sát tiến vào một căn phòng ở tầng trệt, chỉ xuống sàn xi măng trong một góc tường, máy cảnh sát mặc đồng phục mang dòng chữ ‘khám nghiệm’ lập tức tay năm tay mười dựng dàn đèn chiếu sáng hiện trường. Loáng một —— HỒI THỨ 7 ——
cái, căn phòng vốn dĩ tối om om đã sáng trưng như ban ngày. Ngay sau đó, các nhân viên khám nghiệm kẻ vạch phấn trắng bao quanh vị trí mà gã đầu trọc vừa chỉ. Công tác chuẩn bị đã xong xuôi, các nhân viên khám nghiệm mỗi người một chiếc xà beng, bắt đầu đục phá men theo phạm vi đã đánh dấu. Và rồi, từng chút một sau từng nhát cuốc, một bộ hài cốt đen kịt từ từ hiện ra. Hai tiếng đồng hồ trước, Hàn Ấn và Diệp Hi vội vã từ thành phố Cổ Đô quay về Giang Bình. Lúc này hai người đã thống nhất tư tưởng, nhận định rằng Tôn Dương rất có khả năng đã bị Vương Ba, Triệu Thường Thụ hợp sức sát hại và chôn xác bên dưới toà nhà hai tầng do nhà trường xây dựng sau đó. Vậy nên hai người lái xe thẳng tới nhà tù Thành Nam để thẩm vấn Triệu Thường Thụ ngay trong đêm. Trên đường đi, Hàn Ấn đã giải thích cặn kẽ tình hình cho Cố Phi Phi và Tề Binh biết, đồng thời trao đổi về mức độ khả thi trong việc dùng máy dò kim loại để tìm hài cốt. Nhưng rõ ràng phương pháp này có một số hạn chế nhất định, nếu trên hài cốt không có vật kim loại, máy dò sẽ không phát huy được bao nhiêu tác dụng. Vì vậy, Cố Phi Phi đề xuất, trước tiên hãy thử thông qua biện pháp thẩm vấn để “ ‘cạy miệng’ Triệu Thường Thụ. Khi Hàn Ấn đặt hai tấm ảnh của Tôn Dương và Vương Ba lên bàn thẩm vấn, Triệu Thường Thụ vốn
đang hai mắt lờ đờ ngái ngủ, ngồi gục bên bàn lập tức bật thẳng người dậy như phản xạ có điều kiện, miệng há hốc, hai mắt trợn trừng, nhìn chăm chăm vào hai tấm ảnh. Nhưng rất nhanh, hắn lại nheo mắt, ngáp dài, làm ra vẻ không quan tâm, giả bộ khật khừ buồn ngủ. “Chúng tôi đã tìm thấy Vương Ba.” Hàn Ấn chiếu thẳng ánh mắt lạnh lẽo vào Triệu Thường Thụ, cất giọng úp mở. “Nó… nó vẫn khoẻ chứ?” Hai gò má Triệu Thường Thụ vô thức giật giật, hắn lắp bắp hỏi. “Chúng tôi cũng biết Tôn Dương đã chết.” Ánh mắt Diệp Hi còn sắc lạnh hơn, nhìn xoáy vào Triệu Thường Thụ. “Thật… thật… thật sao?” Triệu Thường Thụ trán rịn mồ hôi, giọng nói ấp úng, hai mắt chớp chớp liên hồi, dường như đang rất hoang mang và bấn loạn. “Anh muốn tự nói ra, hay để chúng tôi nói giúp.” Dừng lại một lát, Diệp Hi trầm giọng nói tiếp, “Tính chất khác hẳn nhau đấy.” “Muốn tôi nói gì?” Triệu Thường Thụ vẫn cứng đầu. “Đã tìm thấy Vương Ba, đương nhiên chúng tôi cũng biết đêm đó Tôn Dương không hề về phòng kí túc xá, mà chính Vương Ba đã đóng giả làm Tôn Dương.” Hàn Ấn khẳng định chắc nịch, “Nói thật
nhé, bây giờ vấn đề của anh không phải là có tội hay không, mà ai là chủ mưu, ai là tòng phạm?” “Là Vương Ba, chính nó đã giết người, cũng chính nó vạch ra âm mưu. Tôi nói, tôi sẽ nói hết!” Triệu Thường Thụ cuống quýt ngắt lời Hàn Ấn, đỏ mặt tía tai nói tiếp, “Hôm đó, Vương Ba kéo Tôn Dương từ sân thể dục vào trong lớp học, đúng là tôi cũng đi theo, định chích điện Tôn Dương, nhưng lúc đó cậu ta đã bị Vương Ba đánh đến chết ngất đi rồi. Hai chúng tôi bèn ném cậu ta vào phòng giam. Tối hôm đó, tôi và Vương Ba, Triệu Khải làm ít mồi cùng nhậu với nhau trong văn phòng. À, Triệu Khải chính là cai thợ của đội xây dựng mà tôi thuê. Thực chất thì cậu ta cũng là họ hàng của tôi. Ba người chúng tôi uống hết hai chai rượu trắng. Vương Ba uống hơi nhiều, hứng lên mới rủ chúng tôi tới xử Tôn Dương lần nữa. Sau đó, ba chúng tôi cùng đi đến phòng giam. Vương Ba bước vào đá cho Tôn Dương mấy cái, nhưng Tôn Dương vẫn nằm im không nhúc nhích. Tôi cảm thấy có gì đó không ổn, mới thử đặt tay trước mũi Tôn Dương, thì thấy không còn thở nữa, sờ thử vào người thì thấy toàn thân đã lạnh ngắt. Ba người chúng tôi sợ đến tỉnh cả rượu. Tội giết người của Vương Ba thì đã rõ rành rành rồi, nhưng công việc kinh doanh của tôi đang phát đạt, giai đoạn đó tôi lại vừa đầu tư rất nhiều, nếu có người chết, trường học sẽ phải đóng cửa. Còn Triệu Khải cũng đang trông vào công trình xây dựng trong trường tôi để kiếm chút tiền công trả
nợ cờ bạc. Vậy nên sau khi ba chúng tôi bình tĩnh lại, Vương Ba mới đề xuất rằng sau giờ tắt đèn, nó sẽ vào phòng kí túc xá của Tôn Dương nằm một lát, để nguỵ tạo bằng chứng Tôn Dương đã được thả về phòng ngủ, sau đó tôi và Triệu Khải tìm chỗ để chôn xác Tôn Dương. Vừa hay hôm đó, khu vệ sinh công cộng trong toà nhà mới xây được lát nền xi măng, tôi và Triệu Khải bèn đào xi măng lên, chôn Tôn Dương xuống dưới, sau đó lại đổ xi măng lên bịt kín. Kẻ chủ mưu thật sự là Vương Ba, các anh đừng nghe nó nói bậy, không tin các anh có thể hỏi Triệu Khải.” “Hừm, anh yên tâm, đương nhiên là chúng tôi sẽ bắt Triệu Khải, anh sẽ không phải oan uổng đâu.” Diệp Hi đáp. Nói xong, Diệp Hi quay sang nhìn Hàn Ấn. Hàn Ấn khẽ gật đầu, biểu thị khẩu cung của Triệu Thường Thụ lần này vẫn đáng tin cậy, nhưng vào lúc này, Hàn Ấn đã có một suy nghĩ mới: Liệu cái chết của Vương Ba có liên quan đến Triệu Thường Thụ hay không? “Lần cuối cùng anh gặp Vương Ba trước khi vào đây là khi nào?” Hàn Ấn bắt đầu đặt câu hỏi. “Chúng tôi đã không gặp nhau kể từ khi nó nghỉ việc chỗ tôi, nhưng sau đó nó có gọi điện cho tôi một lần, hỏi tôi có thích cá độ bóng đá không, nói rằng nó đang cùng hai người bạn hùn hạp đầu tư. Tôi thấy nó không đáng tin nên cũng chẳng quan tâm, về sau nó cũng không gọi lại nữa.” Triệu Thường Thụ đáp.
“Thời gian cụ thể là bao giờ?” Diệp Hi viết vào số tay mấy chữ ‘cá độ bóng đá’, còn khoanh một vòng tròn để nhấn mạnh, đây chính là manh mối mới về cái chết của Vương Ba. “Hình như là quãng tháng 3, tháng 4 năm 2010.” Triệu Thường Thụ ngâm nghĩ một lát, sau đó lại hấp tấp nhấn mạnh, “Rốt cuộc là Vương Ba đã nói những gì với anh? Ngoại trừ chuyện của Tôn Dương, tôi không tham gia vào bất cứ việc nào của nó hết.” “Thế anh không giết Vương Ba diệt khẩu à?” Hàn Ấn thình lình tung ra mối ngờ vực trong lòng, để thăm dò phản ứng của Triệu Thường Thụ. “Sao tôi lại phải giết nó để diệt khẩu cơ chứ? Nếu chuyện của Tôn Dương bị bại lộ, nó chính là kẻ phạm tội nặng nhất, nên nó mới phải lo lắng nhất!” Nói đến đây, Triệu Thường Thụ bỗng lắc đầu thật mạnh, “Không đúng, không đúng, anh… anh muốn nói, Vương Ba đã chết rồi sao?” “Đúng vậy, chúng tôi đã tìm thấy hài cốt của anh ta!” Hàn Ấn nở một nụ cười ranh mãnh, cất giọng mỉa mai. “Anh… anh là cảnh sát mà, làm sao anh có thể như vậy được!” Triệu Thường Thụ quệt mồ hôi trên trán, mặt mày méo xệch, muốn nổi khùng nhưng lại không dám, bộ dạng muốn khóc mà không ra tiếng. “Được rồi, đừng nhiều lời nữa, gây ra tội thì phải chịu tội, muốn trốn cũng không thoát. Giờ thì mau
theo chúng tôi đi xác nhận hiện trường.” Diệp Hi đanh giọng ra lệnh. “Vâng!” Triệu Thường Thụ cúi gằm mặt, lí nhí đáp. Sau khi Triệu Thường Thụ chỉ chỗ, cảnh sát đã đào bới thâu đêm, và cuối cùng, đã khai quật được một bộ hài cốt giấu bên dưới toà nhà hai tầng do Trường Cai nghiện internet Triều Dương xây dựng sau này. Sau khi giám định ADN, xác nhận đó chính là hài cốt của Tôn Dương. Nguyên nhân tử vong là do bị đánh mạnh vào thái dương, gây xuất huyết trong cơ thái dương và gãy xương thái dương. Ngoài ra, Triệu Khải khi bị bắt về quy án đã khai nhận rằng vào hôm ấy, đúng là anh ta có nghe thấy Vương Ba thừa nhận mình đã đánh chết Tôn Dương. Đến đây, chân tướng trong vụ án mất tích của Tôn Dương đã hoàn toàn sáng tỏ. Vương Ba chính là hung thủ, Triệu Khải và Triệu Thường Thụ giấu giếm sự việc, và còn hỗ trợ hung thủ chôn giấu thi hài. Họ sẽ phải đối mặt với sự trừng trị của pháp luật. Đồng thời cũng chính thức loại trừ mối liên can giữa Tôn Dương với vụ án chôn xác trong công viên Bách Thảo, trọng tâm điều tra bắt đầu chuyển dịch sang những mối quan hệ thân cận của Vương Ba. Theo như thông tin cha mẹ Vương Ba cung cấp, sau khi Vương Ba mất tích, có hai nam thanh niên tự
xưng là bạn làm ăn đã đến nhà tìm hắn. Hơn nữa, khẩu cung của Triệu Thường Thụ cũng xác nhận, Vương Ba từng nói rằng hắn đang cùng hai người bạn hùn vốn kinh doanh hoạt động cá độ bóng đá. Tổng hợp lại các nhân tố kể trên, có thể phán đoán rằng, Vương Ba và hai nam thanh niên kia hoặc tự làm nhà cái để tổ chức cá độ bóng đá, hoặc là làm đại lí trong nước cho những tổ chức cờ bạc cá độ nước ngoài. Vấn đề là ở chỗ hai thanh niên kia liệu có tương ứng với hai bộ hài cốt vô danh còn lại hay không? Nếu đúng, vậy thì vụ án giết người hàng loạt này rất có khả năng liên quan đến tranh chấp trong hoạt động cá độ. Theo như lời mẹ Vương Ba kể lại, Vương Ba đã bỏ nhà đi vào ngày 19 tháng 6 năm 2010, ba ngày sau hai bên vẫn liên lạc điện thoại với nhau, nhưng sau hai ngày nữa thì điện thoại tắt máy. Suy đoán từ đây, thời điểm Vương Ba bị sát hại có nhiều khả năng là ngày 23 tháng 6 hoặc ngày 24 tháng 6 năm 2010. Vì cách nay đã sáu, bảy năm rồi, các thông tin về dữ liệu điện thoại di động và thẻ tín dụng đã không còn nữa. Hiện tại, cảnh sát chỉ có chân dung mô phỏng khuôn mặt của hai người bạn làm ăn của Vương Ba được phục dựng theo mô tả của mẹ Vương Ba, cũng không biết có thể chính xác được bao nhiêu. Bước tiếp theo, Nhóm Hỗ trợ đề nghị Tề Binh bố trí nhân lực để tiến hành điều tra trên diện rộng các tổ chức cờ bạc cá độ đã bị cảnh sát xử lí trong vài năm qua, để tìm kiếm
những người có thể cung cấp manh mối về đối tượng trong chân dung mô phỏng, hoặc những con bạc có liên quan đến Vương Ba và hai người bạn làm ăn năm xưa. Còn với vụ án Lâm Phong, theo gợi ý của Cố Phi Phi, Đỗ Anh Hùng và Ngải Tiểu Mĩ hiện đang kiểm tra sàng lọc hồ sơ của các vụ án trộm cắp xảy ra trong vòng vài năm trở lại đây, trọng điểm là trước và sau thời điểm Lâm Phong bị giết hại. Tạm thời vẫn chưa phát hiện ra vụ án có tính chất tương tự, cũng như chưa tìm thấy những tang vật bị mất cắp trong vụ án Lâm Phong xuất hiện trong danh sách vật chứng của một vụ án nào khác. Hai ngày sau, Cố Phi Phi nhận được một bưu kiện từ Trung tâm Giám định Vật chứng của Cục gửi tới, bên trong bưu kiện là những tấm ảnh chân dung kĩ thuật số của hai bộ hài cốt vô danh được tái tạo theo công nghệ phục dựng khuôn mặt bằng hộp sọ. Cố Phi Phi in những bức ảnh ra và giao lại cho Ban Chuyên án, mọi người đều nhận thấy ảnh chân dung có đôi nét tương đồng với hai thanh niên đến tìm Vương Ba theo như mô tả của bà mẹ. Lẽ nào hai nạn nhân còn lại đúng là hai người đã hùn vốn với Vương Ba để kinh doanh cá độ bóng đá? Nếu đúng là vậy, thì lai lịch của tất cả các nạn nhân trong vụ án này có nhiều khả năng sẽ sớm được xác nhận, và vụ án cuối cùng
đã có được bước tiến triển thực sự. Trên thực tế, thông tin phản