hồi lại quyền lực.” Harry ngước lên đăm đăm nhìn cụ Dumbledore. “Và rồi bỗng nhiên cô trở lại bình thường, xong cô bảo cô không thể nhớ lại bất cứ điều gì cô đã nói. Có phải… có phải cô… đã tiên đoán đúng, phải không thầy?” Cụ Dumbledore tỏ ra hơi hơi bị xúc động. Cụ nói với vẻ suy tư đăm chiêu:
“Con có biết không, Harry? Thầy cũng nghĩ chắc là như vậy. Chứ ai mà nghĩ ra được chuyện đó! Vụ này khiến cho tổng số lời tiên đoán chính xác của cô ấy lên được hai cái. Thầy phải tăng lương cho cô ấy mới được…” Harry ngó cụ Dumbledore kinh ngạc. Làm sao mà cụ có thể coi chuyện đó thản nhiên như không vậy? “Nhưng… nhưng con đã ngăn chú Sirius và Giáo sư Lupin giết Pettigrew! Như vậy nếu Voldemort phục hồi quyền lực thì đó chính là lỗi của con.” Cụ Dumbledore bình thản nói: “Không phải đâu. Chẳng lẽ việc con quay ngược lại thời gian không dạy cho con được điều gì sao, Harry? Hậu quả hành động của chúng ta luôn luôn rất phức tạp, rất đa dạng, đến nỗi tiên đoán tương lai thật ra là một công việc rất khó khăn… Giáo sư Trelawney - phước đức cho cô ấy - chính cô ấy là một bằng chứng sống còn sờ sờ ra đấy. Con đã làm một nghĩa cử cao thượng khi tha mạng cho Pettigrew.” “Nhưng nếu ông ấy giúp Voldemort phục hồi quyền lực…” “Pettigrew nợ con mạng sống của hắn. Con đã gởi cho Voldemort một phụ tá mang ơn cứu mạng với con. Khi một phù thủy cứu mạng một phù thủy khác, thì giữa họ sẽ thiết lập một mối ân nghĩa nào đó… Và thầy sẽ nhầm lẫn to nếu cho rằng Voldemort muốn thuộc hạ của hắn phải mắc nợ Harry Potter!” Harry nói: “Con không muốn có ơn nghĩa gì với Pettigrew hết! Hắn đã
phản bội ba má của con!” “Điều này huyền bí đến tận cùng sâu thẳm, bất khả tri của pháp thuật, Harry à. Nhưng hãy tin thầy… Sẽ đến một lúc nào đó mà con sẽ rất sung sướng rằng con đã cứu mạng Pettigrew!” Harry không thể tưởng tượng nổi khi nào sẽ đến cái lúc đó. Cụ Dumbledore có vẻ như biết tỏng Harry đang suy nghĩ điều gì. Thầy trìu mến nói: “Thầy biết rất rõ về ba của con, cả khi ba của con còn học trường Hogwarts lẫn về sau này, Harry à. Thầy biết chắc là phải ba con thì ba con cũng sẽ cứu mạng Pettigrew.” Harry ngước nhìn cụ Dumbledore. Chắc là cụ Dumbledore không cười đâu… nó có thể nói với cụ… “Hồi đêm qua… con nghĩ là chính ba của con đã gọi lên vị thần Hộ Mệnh của con. Ý con muốn nói là khi con nhìn thấy chính con bên kia mặt hồ… con tưởng là con nhìn thấy ba…” Cụ Dumbledore nói dịu dàng: “Điều đó cũng dễ nhầm lẫn lắm. Thầy nghĩ chắc là con đã chán nghe điều này, nhưng quả thực là con giống James một cách lạ lùng. Ngoại trừ đôi mắt của con… con có đôi mắt của mẹ con.” Harry lắc đầu. Nó lẩm bẩm: “Con thiệt là ngu khi nghĩ đó là ba của con. Ý con nói là con biết ba của con đã chết rồi…” “Con tưởng là những người chết mà chúng ta yêu thương
lại thực sự rời bỏ chúng ta sao? Con nghĩ là chúng ta không thể nào nhớ lại họ rõ ràng hơn bao giờ hết khi chúng ta bị khốn khó nhứt sao? Ba của con vẫn còn sống trong con, Harry à, và khi nào con cần đến ba của con thì người lại hiện ra rõ ràng trước mặt con. Chứ không thì làm sao con có thể gọi lên vị thần Hộ Mệnh đặc biệt đó? Đêm qua, Gạc Nai lại về.” Harry mất một lát mới hiểu ra điều cụ Dumbledore nói. Cụ mỉm cười nói tiếp: “Đêm qua Sirius đã nói hết với thầy về chuyện họ đã biến hình giả thú như thế nào. Một kỳ công… ít nhứt cũng là kỳ công khi giấu nhẹm được thầy. Và rồi thầy nhớ lại cái hình dáng bất thường nhứt của vị thần Hộ Mệnh của con, khi vị thần ấy dẹp đuổi Malfoy ở trận Quidditch mà đội con đấu với đội Ravenclaw. Vậy là con đã nhìn thấy ba của con hồi đêm qua đó, Harry à… Con đã tìm thấy ba của con ở trong chính con.” Và cụ Dumbledore ra khỏi văn phòng, để lại cho Harry với những suy tư vô cùng rối rắm của nó. Không ai ở trường Hogwarts biết sự thật về những gì đã xảy ra vào cái đêm hôm mà Sirius, Buckbeak và Pettigrew biến mất, ngoại trừ Harry, Ron, Hermione và Giáo sư Dumbledore. Khi học kỳ gần kết thúc, Harry đã nghe được rất nhiều giả thiết khác nhau về điều đã thực sự xảy ra, chỉ có điều không có giả thiết nào gần với sự thực cả. Malfoy rất tức giận về vụ Buckbeak. Nó tin vô giả thiết là lão Hagrid đã chuyển lậu con Bằng-Mã đến một nơi an toàn, và nó còn điên hơn nữa vì ngon như nó và cả ba nó nữa mà lại
bị một lão giữ khóa qua mặt một cái vù. Trong lúc đó, Percy Weasley thì lại có rất nhiều điều để tranh luận về vụ đào thoát của chú Sirius. Anh nói với người duy nhất chịu nghe anh nói, đó là Penelope - cô bồ của anh: “Nếu anh mà vô được Bộ Pháp thuật, anh sẽ có rất nhiều kiến nghị về Biện pháp Thi hành Luật Phù thủy.” Mặc dù thời tiết lúc này tuyệt hảo, mặc dù không khí rất phấn khởi vui tươi, mặc dù Harry biết là tụi nó đã lập được kỳ công trong việc giúp chú Sirius đào thoát tìm tự do, nhưng nó chưa bao giờ trải qua những ngày cuối niên học trong tâm trạng tồi tệ hơn thế này. Chắc chắn Harry không phải là người duy nhất tiếc nuối khi thầy Lupin nghỉ dạy. Cả cái lớp Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám của Harry đều sầu thảm về việc từ nhiệm của thầy. Seamus Finnigan rầu rĩ: “Không biết sang năm họ sẽ phái ai đến dạy tụi mình?” Dean Thomas đề nghị một cách tràn trề hy vọng: “Có thể là một con ma cà rồng.” Cũng không phải mỗi chuyện thầy Lupin ra đi khiến cho Harry nặng trĩu ưu tư như vậy. Nó không thể không suy nghĩ nhiều đến lời tiên tri của Giáo sư Trelawney. Nó cứ tự hỏi không biết bây giờ Pettigrew ở đâu, không biết hắn đã tìm về sào huyệt của Voldemort chưa? Nhưng cái điều làm cho tinh thần của Harry sa sút nhất là viễn cảnh trở về với gia đình Dursley. Đã có lúc trong khoảng chừng nửa giờ, hay hơn nửa giờ huy hoàng của đời nó, nó đã tưởng nó sẽ được trở về sống
với chú Sirius, cha đỡ đầu và là người bạn thân nhứt của ba nó… Đó là điều tốt đẹp nhứt trên đời, sau điều siêu tốt đẹp là ba má nó sống lại với nó. Và mặc dù không có tin tức về chú Sirius thì coi như là tin lành, bởi vì điều đó có nghĩa là chú đã đào thoát thành công, nhưng Harry vẫn không thể không cảm thấy khốn khổ khốn nạn khi nghĩ tới mái gia đình mà lẽ ra nó đã có được, nhưng giờ đây hóa ra là điều không tưởng. Kết quả kỳ thi được công bố vào ngày cuối cùng của niên học. Harry, Ron và Hermione đều thi đậu tất cả các môn. Harry đã hết sức kinh ngạc khi thấy mình qua được môn Độc Dược. Nó ngờ rằng cụ Dumbledore đã can thiệp để thầy Snape không thể cố tình đánh rớt nó. Thái độ của thầy Snape đối với Harry trong tuần lễ cuối cùng thiệt là đáng sợ. Hồi nào giờ Harry tưởng thầy Snape đã ghét nó hết cỡ rồi, nó không thể nghĩ là lòng ghét bỏ nó của thầy Snape còn có thể gia tăng được nữa, nhưng quả thiệt là thầy Snape đã ghét nó thêm nhiều lắm. Mỗi lần thầy Snape ngó thấy mặt Harry là một cơ mặt gần khóe cái miệng mỏng của thầy lại vẹo đi một cách khó chịu. Rồi mấy ngón tay của thầy cứ ngọ nguậy như thể chúng ngứa ngáy đòi đặt lên cổ họng Harry mà siết lại. Percy được danh hiệu Pháp Thuật Tận Sức hạng tối ưu, Fred và George thì mỗi đứa cũng vớt được một cái bằng Phù Thủy Thường Đẳng (O.W.L). Trong lúc đó, nhà Gryffindor giành được chức Vô Địch Nhà liên tiếp ba năm liền, nhờ đã chơi xuất sắc ngoạn mục trong giải cúp Quidditch. Và như vậy, khi buổi tiệc bế giảng niên học diễn ra tại Đại Sảnh Đường trang hoàng rực rỡ toàn màu tía và vàng, bàn ăn của nhà Gryffindor là ồn ào nhứt trong đám người cùng ăn mừng
kết thúc niên học chung. Ngay cả Harry cũng tìm được cách ăn uống nói cười với những người khác để quên phứt đi chuyến tàu trở về với gia đình Dursley vào ngày hôm sau. Khi chuyến tàu tốc hành Hogwarts rời nhà ga vào sáng hôm sau thì Hermione báo cho Harry và Ron một tin đáng ngạc nhiên: “Hồi sáng này mình đến gặp Giáo sư McGonagall, ngay trước bữa điểm tâm. Mình đã quyết định bỏ môn Muggle học.” Ron nói: “Nhưng bồ đã thi đậu với kết quả ba trăm hai chục phần trăm mà!” Hermione thở dài: “Mình biết. Nhưng mình không thể chịu đựng nổi thêm một năm như năm nay nữa. Cái Xoay Thời Gian đó khiến mình phát điên lên được. Mình đã nộp nó lại cho Giáo sư McGonagall rồi. Không có môn Muggle học và môn Tiên Tri, thời khóa biểu của mình lại trở về bình thường.” Ron vẫn nói giọng quạu quọ: “Mình vẫn không thể nào tin được là bồ đã giấu tụi này chuyện đó. Tụi này cứ tưởng tụi này là bạn của bồ!” Hermione đanh giọng: “Mình đã hứa là không nói với bất cứ ai hết!” Cô bé nhìn quanh tìm Harry. Nó đang mải nhìn trường Hogwarts khuất bóng sau một trái núi. Phải đến những hai tháng nữa Harry mới lại được nhìn thấy ngôi trường thân
yêu… Hermione buồn rầu nói: “Ôi, vui lên đi, Harry.” Harry nói nhanh: “Mình không sao đâu. Chẳng qua là đang nghĩ đến những ngày nghỉ…” Ron nói: “Ừ, mình cũng đang nghĩ về những ngày hè. Harry, bồ phải đến và ở lại nhà mình chơi. Mình sẽ bàn với ba má, rồi mình sẽ gọi cho bồ. Bây giờ mình biết xài tiện thoại rồi…” Hermione nói: “Ron ơi, cái đó gọi là điện thoại. Thiệt tình mình thấy sang năm bồ nên học lớp Muggle học.” Ron chẳng thèm lý đến cô bé: “Mùa hè này là mùa cúp Quidditch Thế giới! Bồ thấy sao, Harry? Tới ở nhà mình đi, tụi mình sẽ cùng nhau đi xem. Ba mình vẫn hay được sở làm phát cho vé.” Đề nghị này có tác dụng kích thích Harry hưng phấn lên rất nhiều: “Ừ… mình dám cá là gia đình đó sẽ rất vui lòng để cho mình đi… đặc biệt là sau vụ cô Marge…” Cảm thấy vui lên nhiều, Harry cùng chơi đánh bài nổ với Ron và Hermione, và khi bà phù thủy đẩy cái xe bán đồ ăn thức uống đi ngang, Harry mua cho cả đám một bữa ăn trưa vĩ đại, trừ những món có sôcôla.
Nhưng đến trưa thì cái điều làm cho Harry thực sự sung sướng mới xảy ra… Hermione ngó qua vai Harry, bỗng nhiên nói: “Harry à, có cái gì ở ngoài cửa sổ chỗ bồ ngồi vậy?” Harry quay đầu nhìn ra ngoài. Một cái gì đó rất nhỏ, màu xám, đang chập chờn khi ẩn khi hiện bên ngoài khung của kiếng. Harry đứng dậy để nhìn kỹ hơn và nhận ra đó là một con cú nhỏ xíu đang mang một lá thư lớn quá cỡ so với nó. Đúng là một con cú quá nhỏ, đến nỗi nó cứ chực lộn mèo trong không trung, cố chống chọi vật lộn với luồng khí tạo ra từ chuyển động quá nhanh của chiếc xe lửa tốc hành Hogwarts. Harry vội vàng kéo kiếng cửa sổ xuống, thò tay ra bắt lấy con cú. Harry cầm con cú trong tay mà có cảm giác như đó là một trái banh Snitch xù lông. Nó cẩn thận đem con chim vào trong toa xe lửa. Con cú thả lá thư xuống chỗ ngồi của Harry và bắt đầu bay lượn vòng vòng quanh toa xe lửa của bọn trẻ, rõ ràng là rất ư khoái chí vì đã hoàn thành công tác một cách mỹ mãn. Con cú Hedwig chóp chép cái mỏ với cái kiểu chê bai hơi cao ngạo. Còn con Crookshanks thì ngồi thẳng lên, đưa cặp mắt vàng khè to cồ cộ dõi theo con cú. Ron nhận thấy điều này lập tức chộp con cú đem ra khỏi phạm vi nguy hiểm quanh con mèo. Harry cầm lá thư lên. Thư đề gởi cho Harry. Nó xé phong bì, mở thư ra và hét lên: “Thư của chú Sirius!” Ron và Hermione hồi hộp reo lên:
“Cái gì, đọc lớn lên cho tụi này nghe với!” Harry yêu dấu. Chú hy vọng con nhận được thư này trước khi về đến nhà dì dượng của con. Chú không biết họ có quen xài hộp thư cú hay không. Buckbeak và chú đang ở nơi ẩn náu. Chú sẽ không nói cho con biết nơi nào, để phòng trường hợp lá thư này rơi nhằm vào tay kẻ khác. Chú hơi nghi ngờ về mức độ đáng tin cậy của cú, nhưng con cú này là con giỏi nhứt mà chú có thể tìm được, và coi bộ nó cũng háo hức được giao công tác. Chú tin là bọn giám ngục Azkaban vẫn còn đang lùng kiếm chú, nhưng bọn chúng sẽ chẳng có tý xíu hy vọng gì tìm ra chú ở đây đâu. Chú đang dự định để lộ dạng cho vài dân Muggle nhìn thấy chú, sớm thôi, ở một nơi xa trường Hogwarts, để cho vấn đề canh gác ở lâu đài được bãi bỏ. Có một điều mà chú không kịp nói cho con biết trong buổi gặp gỡ ngắn ngủi giữa chú cháu mình. Chính chú là người đã gởi cho con cây chổi thần Tia Chớp. Hermione reo lên một cách đắc thắng: “Thấy chưa! Mình đã bảo là cây chổi của chú ấy mà!” Ron nói:
“Đúng vậy, chỉ có điều chú ấy không ếm bùa cây chổi thần, đúng không?” Con cú tí hon bây giờ đang rúc lên vui vẻ trong lòng bàn tay Ron. Nó gặm một ngón tay của Ron theo kiểu có thể cho là thân ái, làm Ron khẽ rên: “Úi da!” Crookshanks đã đặt hàng qua bưu điện Cú dùm chú. Chú ghi tên người nhận là con, nhưng bảo họ thanh toán tiền bằng vàng lấy từ kho bạc Gringotts số bảy trăm mười một, trương mục của chú. Con hãy coi đó như món quà sinh nhật thứ mười ba của người cha đỡ đầu gởi cho con. Chú cũng muốn xin lỗi về những nỗi kinh sợ mà chú nghĩ là chú đã gây ra cho con, vào cái đêm đó năm ngoái, khi con bỏ nhà dì dượng ra đi. Chú chỉ mong nhìn con một cái trước khi bắt đầu hành trình về phương Bắc, nhưng chú nghĩ có lẽ bề ngoài của chú đã làm con hoảng sợ. Chú gửi kèm theo một cái này cho con, cái mà chú nghĩ là sẽ làm cho niên học mới của con ở trường Hogwarts sẽ thú vị hơn nhiều. Nếu có khi nào con cần đến chú, cứ viết thư, con cú của con sẽ tìm được chú. Chú sẽ sớm viết thư cho con nữa. Chú Sirius.
Harry háo hức nhìn vô bên trong phong bì: còn có một miếng giấy da khác bên trong đó. Nó đọc qua rất nhanh và đột nhiên cảm thấy ấm áp và thoả nguyện như thể nó vừa uống một hơi hết một chai bia bơ. Tôi, Sirius, cha đỡ đầu của Harry Potter, ký tên dưới đây cho phép Harry được đến thăm làng Hogsmeade vào những ngày cuối tuần. Harry mừng rỡ reo: “Với cụ Dumbledore, vầy là quá được rồi!” Nó nhìn đằng sau lá thư của chú Sirius: “Khoan đã, còn có tái bút nữa nè…” Chú nghĩ bạn của con, Ron, có thể thích giữ con cú này, bởi vì do lỗi của chú mà Ron không còn con chuột nữa. Mắt Ron mở banh ra. Con cú tí tẹo vẫn cứ kêu rúc một cách kích động. Ron nói ngập ngừng: “Giữ nó à?” Nó nhìn kỹ con cú một lát, rồi, trước sự kinh ngạc của Harry và Hermione, Ron chìa con cú ra cho Crookshanks ngửi. Ron hỏi con mèo: “Mầy thấy sao? Chắc chắn là cú thiệt chứ?” Con mèo kêu grừ grừ… Ron vui vẻ nói: “Vậy là được rồi. Con cú này là của mình đấy nhá!”
Harry đọc đi đọc lại lá thư chú Sirius gửi cho nó trên suốt chặng đường về đến nhà ga Ngã Tư Vua. Lá thư vẫn còn được nắm chặt trong tay nó, và khi nó, Ron cùng Hermione bước qua hàng rào chắn của sân ga số Chín-ba-phần-tư, Harry nhìn thấy dượng Vernon ngay. Ông đứng cách khá xa ông bà Weasley, nhìn họ một cách đầy ngờ vực, và lúc bà Weasley ôm lấy Harry để đón mừng nó, thì sự nghi ngờ tệ nhất của dượng Vernon đã được khẳng định. “Mình sẽ gọi cho bồ về vụ cúp Thế giới nha!” Ron gọi theo Harry khi Harry chào tạm biệt nó và Hermione, rồi Harry đẩy cái xe chở chiếc rương cùng cái lồng con Hedwig về phía dượng Vernon. Dượng đón nó bằng phong cách thông thường của dượng: “Cái gì đó?” Dượng nạt, trừng mắt ngó lá thư nắm chặt trong tay Harry: “Nếu mày lại đưa một lá đơn nữa cho tao ký, thì mày sẽ lãnh thêm một…” Harry vui vẻ nói: “Không phải đơn từ đâu, đây là thư của cha đỡ đầu của con.” Dượng Vernon lắp bắp: “Cha… cha đỡ đầu? Mày làm gì có cha đỡ đầu?!” Harry rạng rỡ nói: “Dạ, có chứ! Chú ấy là bạn thân nhứt của ba và má con. Chú ấy bị buộc tội sát nhân, nhưng chú ấy đã vượt ngục phù
thủy và bây giờ đang đào tẩu. Dù vậy, chú ấy muốn giữ liên lạc với con… muốn biết tin tức của con… xem con có hạnh phúc không…” Trước vẻ mặt kinh hoàng của dượng Vernon, Harry toét miệng cười và bắt đầu đi về phía lối ra nhà ga. Con Hedwig kêu lách chách phía trước Harry, vì triển vọng một mùa hè sáng sủa hơn hè năm ngoái rất nhiều. HẾT TẬP 3
Harry Potter và Hòn Đá Phù Thủy và Phòng Chứa Bí Mật và Tên Tù Nhân Ngục Azkaban và Chiếc Cốc Lửa và Hội Phượng Hoàng và Hoàng Tử Lai và Bảo Bối Tử Thần
* Lumos: có nghĩa là “Tỏa sáng.”
* Có nghĩa là: “Nhét nhồi! Nhồi nhét!”
* Có nghĩa là: “Kỳ cà kỳ cục.”
* Có nghĩa là: “Trúng mánh lớn.”
* Có nghĩa là: “Không thấm nước!”
* Dissendium: Có nghĩa là: “Mở đường thoát lối.”
* Mobili = di chuyển; arbus = arbustich = cây. Mobiliarbus có nghĩa là: “Nhúc nhích, cây xích qua đây!”
* Có nghĩa là: “Hú hồn Thần Hộ Mệnh!”
* Có nghĩa là: “Họ hàng thân thể chông chênh.”
* Có nghĩa là: “Đồ ngồi lê đôi mách.”
* Có nghĩa là: “Tối đen.”
* Ferrule = Miếng băng để bó khớp. Ferula có nghĩa là: “Nẹp chân khớp gối.”
* Có nghĩa là: “Di thân chuyển thể.”
1. 1 NGÔI NHÀ RIDDLE 2. 2 VẾT THẸO 3. 3 THIỆP MỜI 4. 4 TRỞ LẠI TRANG TRẠI HANG SÓC 5. 5 MÁNH PHÙ THỦY NHÀ WEASLEY 6. 6 KHÓA CẢNG 7. 7 BAGMAN VÀ CROUCH 8. 8 CÚP QUIDDITCH THẾ GIỚI 9. 9 DẤU HIỆU ĐEN 10. 10 HỖN LOẠN Ở BỘ PHÁP THUẬT 11. 11 TRÊN TÀU TỐC HÀNH HOGWARTS 12. 12 THI ĐẤU TAM PHÁP THUẬT 13. 13 MOONDY MẮT-ĐIÊN 14. 14 NHỮNG LỜI NGUYỀN KHÔNG THỂ THA THỨ 15. 15 TRƯỜNG BEAUXBATONS VÀ TRƯỜNG DUMSTRANG 16. 16 CHIẾC CỐC LỬA 17. 17 VỊ QUÁN QUÂN THỨ TƯ 18. 18 CÂN ĐŨA PHÉP 19. 19 RỒNG ĐUÔI-GAI HUNG-RA-RI 20. 20 BÀI THI ĐẦU TIÊN 21. 21 MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG GIA TINH 22. 22 CÔNG TÁC BẤT NGỜ 23. 23 DẠ VŨ GIÁNG SINH 24. 24 TIN GIẬT GÂN CỦA RITA SKEETER 25. 25 CÁI TRỨNG VÀ CON MẮT 26. 26 BÀI THI THỨ HAI 27. 27 CHÂN NHỒI BÔNG TRỞ LẠI 28. 28 CƠN ĐIÊN CỦA ÔNG CROUCH 29. 29 GIẤC MƠ 30. 30 CÁI TƯỞNG KÝ 31. 31 BÀI THI THỨ BA 32. 32 MÁU, THỊT, VÀ XƯƠNG 33. 33 TỬ THẦN THỰC TỬ 34. 34 NHỮNG CÂU THẦN CHÚ TỪ TRƯỚC TỚI NAY 35. 35 CHÂN DƯỢC 36. 36 NGÃ BA ĐƯỜNG 37. 37 BẮT ĐẦU
J.K. ROWLING LÝ LAN dịch Harry Potter và Chiếc Cốc Lửa Tái bản lần thứ 09 NHÀ XUẤT BẢN TRẺ 2005
D 1 NGÔI NHÀ RIDDLE ân làng Hangleton Nhỏ vẫn còn gọi đó là “Ngôi nhà Riddle”, mặc dù đã bao năm tháng trôi qua rồi kể từ thời gia đình Riddle còn sống ở đó. Ngôi nhà nằm trên một đỉnh đồi ngó xuống làng, một số cửa sổ đã bị bít lại bằng ván, ngói lợp mái thủng lỗ chỗ, và dây trường xuân tự do mọc tràn lan khắp mặt tiền nhà. Có một thời ngôi nhà đó từng là một ngôi biệt thự xinh xắn, đứng cách đó cả dặm vẫn nhìn thấy rõ. Đó cũng từng là ngôi nhà rộng lớn nhứt, sang trọng nhứt; nhưng giờ đây Ngôi nhà Riddle chỉ còn là một nơi điêu tàn, ẩm mục, vô chủ, không người vãng lai. Dân làng Hangleton Nhỏ đều nhất trí với nhau rằng ngôi nhà cũ xưa ấy rất “rùng rợn”. Cách đây nửa thế kỷ, có một chuyện lạ lùng và khủng khiếp đã xảy ra ở đó, một chuyện mà các bậc tiền bối trong làng vẫn còn bàn tán mỗi khi cạn đề tài tán gẫu. Câu chuyện đã được kể đi kể lại nhiều lần, và đã được thêu dệt nhiều chỗ, đến nỗi không còn ai dám chắc đâu là sự thật nữa. Tuy nhiên, mọi phiên bản của câu chuyện đều cùng bắt đầu từ một chỗ: năm mươi năm về trước, thuở Ngôi nhà Riddle còn đang thời hưng thịnh, được chăm sóc kỹ lưỡng,
nguy nga lộng lẫy; vào buổi bình minh của một ngày hè đẹp trời, một cô hầu gái bước vào phòng khách, và phát hiện ra cả ba người nhà Riddle đều đã chết. Cô hầu gái vừa la vừa chạy xuống đồi để vô làng, đánh thức tất cả những người mà cô ta có thể đánh thức được: “Nằm đó mắt mở trừng trừng! Lạnh như băng! Vẫn còn ăn mặc trịnh trọng!” Cảnh sát được gọi đến, và cả cái làng Hangleton Nhỏ sôi sục lên đầy tọc mạch khích động cùng vẻ hào hứng cố giấu mà không xong. Mà cũng không ai hơi đâu giả bộ đau buồn thương tiếc gia đình Riddle làm gì, bởi vì những người họ Riddle không được ai ưa hết. Ông bà Riddle vốn giàu có, hợm hĩnh, bất lịch sự; và người con trai đã lớn của họ - Tom - nếu có khác thì chỉ khác ở chỗ là xấu xa hơn thôi. Tất cả dân làng đều chỉ quan tâm đến lý lịch của kẻ sát nhân, vì rõ ràng là ba người lớn khỏe mạnh cùi cụi đó không thể bỗng cùng lăn đùng ra chết trong một đêm chỉ vì những nguyên nhân tự nhiên thông thường nào đó. Quán rượu Kẻ Chết Treo đột nhiên buôn may bán đắt ngay đêm đó; gần như cả cái làng kéo ra đó hết để bàn tán về bọn sát nhân. Những kẻ chịu khó bỏ chỗ ngồi êm ấm bên lò sưởi nhà mình để ra đây cuối cùng cũng được tưởng thưởng khi bà bếp của nhà Riddle đột ngột đến nhập bọn và tuyên bố cho cả cái quán chợt lặng trang rằng một người đàn ông tên là Frank Bryce vừa mới bị bắt. Nhiều người cùng thốt lên: “Frank hả? Không đời nào!”
Frank Bryce là người làm vườn của nhà Riddle. Gã sống một mình ở căn chòi ọp ẹp trong sân vườn của Ngôi nhà Riddle. Frank đã từ chiến trường trở về với một cái chân què và sự chán ghét đám đông, ghét tiếng động ồn ào. Và gã đã làm việc cho gia đình Riddle từ ấy. Mọi người bèn xúm lại mua mấy thứ giải khát lạnh cho bà bếp để nghe thêm chi tiết. Sau ly rượu ngọt thứ tư, bà bếp nói với những dân làng đang háo hức lắng nghe: “Lúc nào tôi cũng thấy thằng cha đó quái dị. Thiệt là thiếu thân thiện. Tui biết chắc là nếu mà tui mời được thằng chả một lần thì tui đã mời thằng chả cả trăm lần rồi. Không đời nào chịu hòa nhập, thằng chả là vậy đó.” Một người đàn bà ở quầy rượu nói: “À, do vầy nè, anh ta đã trải qua một cuộc chiến tranh tàn khốc, anh chàng Frank ấy. Anh ta ưa đời sống yên tịnh. Chẳng có lý do nào để…” Bà bếp sừng cồ ngay: “Vậy chứ còn ai khác có chìa khóa cửa sau hử? Theo như tui nhớ thì có một chiếc chìa khóa sơ cua treo trong căn chòi của người làm vườn! Tối hôm qua đâu có ai phá cửa vô nhà! Cũng không có cửa sổ nào bị đập bể hết! Thằng cha Frank chỉ làm có mỗi việc dễ ợt là rón rén đi lên Ngôi nhà Riddle khi mà tất cả chúng ta đang ngủ…” Dân làng đưa mắt trao đổi với nhau những cái nhìn tăm tối. Một ông ngồi ở quầy bia càu nhàu: “Tôi luôn luôn nghĩ thằng cha đó có cái nhìn bẩn thỉu,
đúng như vậy.” Ông chủ quán nói: “Theo ý tôi thì chính chiến tranh đã biến đổi hắn thành kỳ cục.” Một bà sôi nổi ngồi ở góc phòng lên tiếng: “Đã bảo anh rồi, nhớ không anh Dot, em chẳng đời nào muốn sinh chuyện rắc rối với thằng Frank đó.” Dot nhiệt liệt tán đồng: “Nóng tánh dễ sợ. Tui nhớ hồi nó còn là một đứa con nít…” Đến sáng hôm sau thì hầu như không còn ai trong làng Hangleton Nhỏ mà không tin rằng chính Frank Bryce đã giết cả nhà Riddle. Nhưng mà ở thị trấn lân cận Hangleton Lớn, trong trạm cảnh sát tối tăm và bẩn thỉu, Frank cứ ngoan cố lặp đi lặp lại là gã vô tội, rằng kẻ duy nhứt mà gã đã nhìn thấy gần Ngôi nhà Riddle vào cái ngày cả nhà này bị giết là một cậu bé xa lạ mười mấy tuổi, tóc đen và màu da nhợt nhạt. Trong làng chưa ai từng nhìn thấy một cậu bé như vậy, và cảnh sát yên chí là gã chỉ bịa ra thằng nhóc ấy mà thôi. Thế rồi, vừa đúng lúc mọi chuyện trở nên nghiêm trọng đối với Frank Bryce thì bản báo cáo khám nghiệm tử thi của ba người nhà Riddle đến và thay đổi mọi thứ. Cảnh sát chưa bao giờ đọc một báo cáo nào kỳ quặc hơn. Một đội bác sĩ đã khám nghiệm tử thi và đã kết luận rằng không một người nào trong ba người nhà Riddle chết vì ngộ độc. Cũng không chết
vì bị đâm chém, bắn, bóp cổ, ngạt hơi, hay (như người ta thấy được) bị đánh đập hay tổn thương gì sất. Thật ra, (bản báo cáo tiếp tục bằng giọng văn ngơ ngác không nhầm vào đâu được), rằng những người nhà Riddle đều tỏ ra hoàn toàn khỏe mạnh - nếu không tính đến sự kiện rằng họ đều đã chết queo. Các ông bác sĩ có ghi chú (như thể quyết tâm tìm xem có gì trục trặc trên toàn bộ các thi thể không) rằng trên gương mặt của mỗi người chết của nhà Riddle đều có một vẻ hãi hùng… Nhưng mấy ông cảnh sát nổi giận nói rằng hồi nào giờ có ai từng nghe nói có chuyện ba người vì sợ mà phát chết được không? Bởi vì không có chứng cớ nào cho thấy ba người nhà Riddle bị ám sát, cảnh sát đành phải thả Frank ra. Ba người nhà Riddle được chôn cất trong nghĩa trang của làng Hangleton Nhỏ, và những ngôi mộ của họ trở thành đối tượng hiếu kỳ trong suốt một thời gian dài. Nhưng điều khiến mọi người ngạc nhiên hơn hết thảy là Frank, mặc dù bị bao phủ bởi đám mây mù ngờ vực, vẫn quay trở lại căn chòi của gã trong sân vườn của Ngôi nhà Riddle. Trong quán Kẻ Chết Treo, Dot nói: “Theo tui thấy thì chính thằng đó đã giết họ, và tui cóc cần biết cảnh sát nói gì. Và nếu mà thằng chả biết điều một chút xíu thì thằng chả nên bỏ đi biệt xứ cho rồi, bởi vì thằng chả cũng phải hiểu là chúng ta biết tỏng chuyện thằng chả làm chớ.” Nhưng Frank chẳng thèm bỏ đi đâu hết. Gã cứ ở lại giữ vườn cho một gia đình khác dọn đến Ngôi nhà Riddle, rồi cho gia đình khác nữa… bởi vì chẳng có gia đình nào sống ở trong
ngôi nhà đó được lâu. Có lẽ một phần tại Frank mà mấy chủ nhân mới đều nói là họ có một cảm giác khó chịu về ngôi nhà. Còn ngôi nhà đó, từ khi không có người ở thì bắt đầu suy tàn, không được sửa sang nữa. Vào những ngày này, một người đàn ông giàu có đến mua ngôi nhà, không phải để ở mà cũng không dùng nó vào mục đích gì khác. Trong làng đồn đại là ông ta giữ ngôi nhà đó vì ‘lý do thuế má’, mặc dù cũng không ai giải thích được rõ ràng như vậy nghĩa là sao. Tuy nhiên, ông chủ giàu có tiếp tục mướn Frank làm vườn. Bây giờ Frank đã gần bảy mươi bảy tuổi, rất lãng tai, cái chân què càng xi cà que hơn bao giờ hết, nhưng lão vẫn đi rảo quanh vườn hoa mỗi khi thời tiết tốt, cho dù cỏ đã bắt đầu mọc lút đầu và lão thì cứ phải ráng hết sức để đạp chúng bẹp xuống. Cỏ không phải là thứ duy nhứt mà lão Frank phải đấu tranh chống chọi. Mấy thằng nhóc trong làng vẫn có thói quen quăng đá vô cửa sổ Ngôi nhà Riddle. Tụi nó cỡi xe đạp chạy nhong nhong qua những bãi cỏ mà lão Frank đã vất vả chăm sóc cho được mượt mà. Đã một hay hai lần gì đó, tụi nó còn đột nhập vô trong nhà để mạo hiểm chơi. Biết lão Frank tận tụy với ngôi nhà và khu vườn đến nỗi việc chăm nom ngôi nhà gần như là một ám ảnh của lão, cho nên tụi nhỏ lấy làm khoái lắm khi nhìn thấy lão khập khiêng băng ngang khu vườn, quơ quơ cây gậy và khào khào quát thét bọn nhóc, về phần Frank, lão tin rằng mấy thằng nhóc hành hạ lão vì tụi nó, cũng giống như ba má và ông bà của tụi nó, tưởng rằng lão là kẻ sát nhân. Vì vậy vào một đêm tháng tám, lão Frank thức dậy và thấy cái gì đó rất bất thường phía trên ngôi nhà cũ xưa, thì lão cũng chỉ
cho là lũ nhóc đã bạo gan đi xa hơn một bước trong cái trò hành hạ lão. Đúng ra là chính cái chân đau đã đánh thức lão Frank. Khi tuổi về già, cái chân làm lão đau đớn hơn bao giờ hết. Lão thức dậy và đi khập khiễng xuống cầu thang, vô nhà bếp, định đong đầy chai nước nóng để chườm lên những chỗ đau trên đầu gối của mình. Đứng bên bồn rửa chén, đổ đầy nước vô ấm, lão ngó lên Ngôi nhà Riddle và thấy ánh sáng lập lòe bên trong cửa sổ trên lầu. Lão Frank biết ngay chuyện gì đang xảy ra. Nhứt định là lũ nhóc đã lại đột nhập vô nhà một lần nữa, và căn cứ vào bóng chập chờn của ánh sáng, lão chắc là tụi nó đã thắp lên một ngọn lửa. Lão Frank không có điện thoại, mà trong bất kể trường hợp nào thì lão cũng không thèm tin cậy cảnh sát kể từ khi lão bị bắt để thẩm vấn về cái chết của ba người nhà Riddle. Lão bèn đặt ngay ấm nước xuống, vội vã lê đôi chân xi cà que của lão lên cầu thang cho thiệt nhanh và ngay sau đó lại trở xuống nhà bếp, lúc này đã mặc thêm quần áo, lão lấy cái chìa khóa cũ kỹ rỉ sét treo trên cái móc gần cửa, cầm lấy cây gậy đang dựng đứng dựa tường, và bắt đầu bước đi trong đêm. Cánh cửa trước của Ngôi nhà Riddle không có dấu hiệu gì chứng tỏ đã bị cạy, mấy cửa sổ cũng vậy. Lão Frank đi cà nhắc vòng ra phía sau của ngôi nhà, cho đến khi lão đến được một cánh cửa gần như bị dây trường xuân mọc lan bít gần kín. Lão rút cái chìa khóa ra, đút vô ổ khóa và mở cánh cửa êm ru. Lão bước vô một cái nhà bếp giống như một cái hang. Nhiều năm rồi lão Frank không hề bước chân vào đây. Cho dù
vậy, và mặc dù trong bếp rất tối, lão vẫn nhớ cánh cửa mở ra hành lang nằm ở đâu, và lão dò dẫm đi về phía đó, mũi lão hít đầy mùi mốc meo, tai lão giỏng lên nghe ngóng bất cứ tiếng người và tiếng bước chân nào vang lên phía trên đầu lão. Khi ra được tới hành lang, chỗ đó hơi sáng nhờ ánh trăng sao rọi qua những khung cửa sổ lớn có chấn song nằm hai bên cửa chính, lão bắt đầu leo lên cầu thang, lòng cám ơn trời ban cho lớp bụi phủ dầy trên các bậc thang bằng đá, bởi vì nhờ nó mà tiếng bước chân và tiếng cây gậy của lão không đến nỗi vang lên cồm cộp. Khi lên tới đầu cầu thang, lão Frank quẹo phải, và nhận ra ngay nơi mà bọn đột nhập gia cư đang tụ tập: ở cuối hành lang có một cánh cửa để hé mở, xuyên qua khe hở là ánh lửa chập chờn, trải một dải ánh sáng vàng trên sàn nhà đen thui. Lão Frank mon men nhích lại gần hơn, tay nắm chặt cây gậy. Còn cách lối vào nhiều bước, lão có thể ngó thấy một thẻo phòng bên trong cánh cửa. Cái mà lão thấy lúc này là lò sưởi đã được nhóm lên trong vỉ lò. Lão ngạc nhiên quá. Lão bèn ngừng bước và chăm chú lắng nghe, bởi vì có tiếng đàn ông đang nói trong phòng; nghe giọng rụt rè sợ sệt: “Thưa ngài, trong chai vẫn còn một chút, nếu ngài còn thấy đói.” Giọng thứ hai nói: “Để lát nữa.” Giọng này cũng là giọng đàn ông, nhưng có âm sắc cao chói lói một cách lạnh lùng, và lạnh lùng như một luồng gió
băng giá thình lình thổi tạt qua. Có cái gì đó trong giọng nói đó làm cho mấy sợi tóc hiếm hoi còn sót lại trên ót lão Frank dựng đứng lên. “Đuôi Trùn, chuyển ta đến gần lò sưởi hơn nữa.” Lão Frank dỏng tai phải về phía cửa, tai phải của lão còn nghe được tàm tạm. Có tiếng lanh canh của một cái chai được đặt xuống một bề mặt cứng, và rồi tiếng cọt kẹt ngắc ngứ của một chiếc ghế nặng nề được kéo lê trên sàn. Lão Frank thoáng thấy một người đàn ông nhỏ thó đưa lưng về phía cửa, đẩy cái ghế đến vị trí cạnh lò sưởi. Người đàn ông đó khoác áo trùm dài màu đen, trên đầu hắn có một mảng sói sọi. Rồi hắn lại đi ra khỏi tầm nhìn của lão Frank. Giọng lạnh lùng vang lên: “Nagini đâu?” Giọng nói đầu tiên nghe lo âu căng thẳng: “Thưa ngài, tôi… tôi không biết. Tôi nghĩ… chắc là nó đi thám thính căn nhà…” Giọng thứ hai nói: “Đuôi Trùn, mi phải vắt nọc nó trước khi chúng ta đi ngủ. Ta cần bồi dưỡng trong đêm. Cuộc hành trình làm cho ta mệt quá.” Lão Frank nhíu cả hai đầu chân mày khít lại, dỏng cái tai còn nghe khá tới gần cánh cửa hơn, hết sức chú ý lắng nghe. Yên lặng một lúc, rồi người đàn ông được gọi là Đuôi Trùn lại lên tiếng:
“Thưa ngài, cho phép tôi hỏi chúng ta sẽ lưu lại đây bao lâu ạ?” Giọng lạnh lùng đáp: “Một tuần. Có thể lâu hơn. Chỗ này cũng khá tiện nghi, và kế hoạch cũng chưa thể tiến hành được. Hành động trước khi mùa Cúp Quidditch Thế giới kết thúc thì đúng là ngu.” Lão Frank thọc một ngón tay co quắp vô lỗ tai của lão để ngoáy. Chắc là tại vì có một cục ráy tai tổ bố nào đó đã bít đường nghe, cho nên lão nghe một từ gì lạ hoắc, chẳng có ý nghĩa gì cả: “Quidditch.” Đuôi Trùn nói: “Thưa Ngài, mùa… mùa Cúp Quidditch Thế giới ạ?” (Lão Frank ngoáy ngón tay lão vô lỗ tai mạnh hơn.) “Xin tha lỗi cho tôi, nhưng mà… tôi không hiểu… tại sao chúng ta phải chờ cho đến khi kết thúc mùa Cúp Quidditch Thế giới?” “Bởi vì, đồ ngu à, vào lúc này phù thủy khắp thế giới đang đổ về nước này, và cả đám bắng nhắng ở Bộ Pháp thuật đều trực chiến, canh phòng mọi biểu hiện của bất cứ hoạt động bất thường nào, kiểm tra tới kiểm tra lui căn cước. Chúng sẽ bị vấn đề an ninh ám ảnh, phải làm sao cho dân Muggle không hay biết gì hết. Vì vậy chúng ta phải đợi thôi.” Lão Frank thôi tìm cách ngoáy lỗ tai của lão. Lão đã nghe rõ ràng mấy tiếng “Bộ Pháp thuật”, “phù thủy”, và “Muggle”. Rõ ràng, mỗi câu chữ này đều có một ý nghĩa bí mật nào đó, và lão Frank chỉ có thể nghĩ ra hai hạng người xài “mật mã”
khi nói chuyện với nhau, đó là gián điệp và bọn tội phạm. Lão Frank lại một lần nữa nắm chặt cây gậy trong tay, lắng nghe kỹ càng hơn nữa. Đuôi Trùn nói nhỏ: “Đức ngài vẫn còn quyết tâm?” Trong giọng nói lạnh lùng bây giờ có thêm sự đe dọa: “Chắc chắn ta vẫn còn quyết tâm, Đuôi Trùn ạ!” Sau câu nói này có một lúc yên lặng. Và rồi Đuôi Trùn nói, lời lẽ lộn xộn nháo nhào tuôn ra như thể hắn buộc mình phải nói ra điều đó trước khi mất hết can đảm: “Có thể làm chuyện đó mà không dính tới Harry Potter có được không, thưa ngài?” Lại một lúc yên lặng nữa, kéo dài hơn, rồi… giọng thứ hai vang lên thì thào trong hơi thở: “Miễn cho Harry Potter hả…? Ta hiểu rồi…” Giọng Đuôi Trùn cao lên nghe như tiếng chuột kêu chít chít: “Thưa ngài, tôi nói vậy không phải là vì tôi lo nghĩ đến thằng nhỏ đâu! Thằng nhỏ đó chẳng là cái gì đối với tôi cả, chẳng là gì cả! Chẳng qua là nếu chúng ta dùng một phù thủy khác… bất cứ phù thủy nào khác… thì nó sẽ được thanh toán nhanh hơn nhiều! Nếu ngài cho phép tôi được rời xa ngài một thời gian… Ngài cũng biết là tôi có thể tự ngụy trang hiệu quả nhứt… Tôi có thể quay trở lại đây trong vòng hai ngày với một người phù hợp…”
Giọng lạnh lùng nói nhỏ nhẹ: “Ta có thể xài một tên phù thủy khác, điều đó đúng…” Giọng của Đuôi Trùn bây giờ nghe như nhẹ nhõm đi: “Thưa ngài, như vậy khôn ngoan hơn. Đụng vô Harry Potter sẽ khó khăn lắm, nó được bảo vệ kỹ lắm…” “Và vì vậy nên mi xung phong đi tìm cho ta một kẻ thế mạng chứ gì? Ta tự hỏi… có lẽ công việc bồi dưỡng ta đã làm cho mi chán ngán rồi phải không, Đuôi Trùn? Cái đề nghị hủy bỏ kế hoạch của mi hóa ra chỉ là cố gắng của mi tìm cách bỏ rơi ta, phải không?” “Thưa ngài, tôi… tôi không hề có ý muốn rời bỏ ngài đâu, không hề đâu ạ…” “Đồ nói láo!” Giọng thứ hai rít lên. “Ta luôn luôn đi guốc trong bụng mi, Đuôi Trùn à! Mi đang hối tiếc là mi đã trở về với ta chứ gì! Ta khiến mi chán ghét hả? Ta thấy mi co rúm người khi mi nhìn ta, cảm thấy cái rùng mình của mi khi mi chạm vào ta…” “Không! Sự tận tụy của tôi đối với Đức ngài…” “Sự tận tụy của mi đối với ta chẳng qua là sự hèn nhát. Nếu mi còn có chỗ nào khác để dung thân thì mi đã chẳng tìm đến ta. Ta cần bồi dưỡng vài giờ một lần, không có mi thì làm sao ta tồn tại hả? Ai sẽ vắt nọc Nagini hả?” “Nhưng thưa ngài… trông ngài khỏe mạnh hơn nhiều lắm rồi…”
“Nói láo!” Giọng thứ hai thều thào: “Ta chẳng khỏe mạnh chút nào, và mi mà bỏ mặc ta chỉ trong vài ngày là ta sẽ kiệt quệ hết chút sức lực mà ta đã gom lại được dưới sự chăm nom dở ẹt của mi hôm nay. Im đi!” Đuôi Trùn vừa lắp bắp mấy tiếng rời rạc không nghĩa lý gì hết đã vội ngậm miệng lại ngay. Trong vài giây, lão Frank không thể nghe được tiếng gì nữa ngoại trừ tiếng củi lửa cháy bí bép trong lò sưởi. Rồi người đàn ông thứ hai lại nói, bằng giọng rít lên nghe gần như tiếng huýt gió: “Ta có lý do để xài thằng nhỏ, như ta đã giải thích cho mi rồi, và ta sẽ không xài ai khác cả. Ta đã chờ đợi mười ba năm. Chờ thêm vài tháng nữa không sao hết. Riêng đối với hàng rào bảo vệ chung quanh thằng nhỏ, ta tin là kế hoạch của ta sẽ có hiệu quả. Tất cả điều ta cần bây giờ chỉ là một chút lòng can đảm của mi thôi, Đuôi Trùn à… Mi phải tìm ra lòng can đảm đó, trừ khi mi muốn lãnh đủ cơn thịnh nộ của Chúa tể Hắc ám Voldemort ở mức tuyệt chiêu…” Giọng Đuôi Trùn bây giờ đã trở nên kinh hoảng: “Thưa Đức ngài, xin cho tôi nói! Trong suốt cuộc hành trình của chúng ta, tôi đã rà lại kế hoạch trong đầu tôi… Thưa ngài, việc Bertha Jorkin biến mất chẳng mấy chốc sẽ bị phát hiện ra thôi, và nếu mà chúng ta tiếp tục, nếu tôi mà ám sát…” Giọng thứ hai thì thầm: “Nếu? Nếu à? Nếu mi theo đúng kế hoạch, thì Đuôi Trùn à, Bộ Pháp thuật sẽ không bao giờ cần biết là ai chết nữa. Mi
sẽ làm việc đó một cách êm ru, không chút ồn ào nhặng xị; ta chỉ ước ao là chính ta có thể làm việc đó, nhưng trong tình trạng ta hiện nay… Đuôi Trùn, lại đây, chỉ cần trừ khử thêm một chướng ngại vật nữa thôi là con đường chúng ta đi tới Harry Potter sẽ quang đãng. Ta không bắt mi phải hành động một mình. Đến thời điểm thích hợp đó, tên đầy tớ trung thành của ta sẽ trở về đầu phục ta…” Đuôi Trùn nói, giọng rầu rĩ thảm hại: “Tôi chính là tên đầy tớ trung thành của ngài đây.” “Đuôi Trùn à, ta cần một kẻ nào đó có đầu óc, một kẻ nào đó có lòng trung thành không bao giờ giao động, mà mi thì rủi thay, chẳng đáp ứng được cả hai yêu cầu đó.” Đuôi Trùn nói, bây giờ trong giọng của hắn lộ rõ vẻ chua chát hờn dỗi: “Chính tôi đã tìm ra ngài. Tôi là người đã tìm lại ngài. Tôi đã mang Bertha Jorkin đến cho Ngài.” Giọng nói thứ hai nghe có vẻ khoái trá: “Điều đó đúng. Một sự thông minh đột xuất mà ta không nghĩ ra là mi cũng có thể có… Tuy nhiên, nếu nói cho đúng sự thực, thì khi mi bắt cóc con mụ đó, mi đâu có biết mụ ta hữu ích như thế nào hả?” “Tôi… tôi cũng có nghĩ mụ ta có thể có ích chứ… thưa Ngài…” “Đồ nói láo!” Giọng thứ hai lại thốt lên với sự thích thú ác độc lồ lộ hơn
bao giờ hểt: “Nhưng mà ta không chối rằng thông tin của mụ ta là có giá trị. Nếu không có nó, chúng ta đâu có vạch ra được kế hoạch này. Vì vậy mi sẽ được thưởng, Đuôi Trùn à. Ta sẽ cho phép mi thực hiện một công việc trọng yếu cho ta, một công việc mà nhiều đồ đệ của ta sẵn sàng xung phong nhận lãnh…” “Th… thiệt… hả, thưa ngài? Công việc gì…?” Giọng của Đuôi Trùn bây giờ lại đầy vẻ kinh sợ. “À, Đuôi Trùn à, mi đâu có muốn ta làm hỏng sự ngạc nhiên thú vị của mi hả? Vai trò của mi nằm ở giai đoạn cuối… nhưng mà ta hứa với mi, mi sẽ được hưởng cái vinh dự là kẻ hữu ích, như Bertha Jorkins vậy.” Giọng Đuôi Trùn bỗng trở nên khào khào, như thể miệng hắn chợt khô đắng đi: “Ngài… Ngài… Ngài … sẽ giết cả tôi nữa à?” Cái giọng lạnh lùng lại trở nên mơn trớn: “Đuôi Trùn ơi, Đuôi Trùn à, tại sao ta lại phải giết mi kia chứ? Ta giết Bertha là bởi vì ta cần phải làm như vậy. Sau khi ta tra hỏi mụ ta xong thì mụ trở nên vô dụng hoàn toàn. Vả lại, nếu mụ ta mà trở về lại Bộ Pháp thuật với cái tin là mụ đã gặp mi vào kỳ nghỉ hè, thì mụ lại bị họ vặn hỏi những câu ngốc nghếch nữa. Mấy phù thủy đã bị coi như chết rồi thì không nên đụng đầu với phù thủy của Bộ Pháp thuật ở mấy cái quán ven đường…, biết không?” Đuôi Trùn lầm bầm cái gì đó nhỏ đến nỗi lão Frank không thể nghe lọt tai, nhưng mà cái điều đó khiến cho người đàn
ông thứ hai trong phòng phá lên cười - một tiếng cười hoàn toàn bi thảm, lạnh lẽo như giọng nói của y: “Chúng ta có thể thay đổi ký ức của mụ ấy ư? Nhưng Bùa Mê Ngải Lú có thể bị một pháp sư cao tay ấn phá vỡ như chơi, như ta đã chứng minh khi tra vấn mụ ta. Đuôi Trùn à, nếu không xài những thông tin mà ta đã khai thác được ở mụ ấy thì quả thiệt là xúc phạm đến ký ức của mụ.” Ở ngoài hành lang, lão Frank chợt nhận thấy bàn tay nắm chặt cây gậy của lão đã ướt đẫm và trơn nhớt mồ hôi. Thì ra gã đàn ông có giọng nói lạnh lùng kia đã giết một người đàn bà. Hắn đang nói đến chuyện đó mà không có một chút ăn năn hối hận gì hết - mà còn có vẻ khoái trá nữa. Hắn thiệt là nguy hiểm - một thằng điên. Và hắn lại đang lên kế hoạch giết thêm nhiều người nữa. Cái thằng nhỏ Harry Potter nào đó, chẳng biết là thằng nhỏ nào nữa, đang bị nguy hiểm… Lão Frank biết là lão phải làm gì. Bây giờ, chính là lúc - nếu có lúc nào đáng làm thì chính là lúc này - đi kêu cảnh sát. Lão tính sẽ lẻn ra khỏi Ngôi nhà Riddle và đi thẳng tới trạm điện thoại công cộng trong làng… nhưng cái giọng lạnh lùng lại vang lên, và lão Frank cứ đứng như phỗng tại chỗ, cố hết sức dỏng tai lên mà nghe. “Thêm một tên nữa bị giết… tên đầy tớ trung thành của ta ở trường Hogwarts… Đuôi Trùn à, Harry Potter giỏi lắm thì cũng bằng ta là cùng thôi. Chuyện đó ta đã quyết rồi. Sẽ không còn tranh cãi gì nữa hết. Nhưng mà im coi… ta nghĩ ta nghe tiếng con Nagini…” Và giọng của người đàn ông thứ hai thay đổi. Hắn bắt đầu
phát ra những âm thanh mà lão Frank cả đời chưa từng nghe thấy bao giờ. Hắn đang rít lên như huýt gió và phun phì phì mà không cần lấy hơi thở. Lão Frank nghĩ chắc là hắn đang lên cơn động kinh gì đó. Và rồi lão Frank nghe đằng sau lão có cái gì đó đang chuyển động trong hành lang tối om. Lão quay đầu lại dòm và cảm thấy mình tê liệt đi vì kinh hãi. Có cái gì đó đang trườn về phía lão trên sàn hành lang tăm tối, và khi nó trườn tới gần dải sáng của ánh lửa lò sưởi hắt ra, lão hoảng kinh hồn vía nhận ra đó là một con rắn khổng lồ, ít nhứt cũng dài tới ba thước sáu. Hãi hùng, chết điếng, lão Frank trừng mắt ngó thân hình dợn sóng của con rắn quét một vệt rộng ngoằn ngoèo xuyên qua lớp bụi dày trên sàn, đến càng lúc càng gần lão hơn… Lão phải làm gì đây? Lối chạy trốn duy nhứt là chạy tuốt vô căn phòng mà hai người đàn ông kia đang mưu tính chuyện sát nhân, nhưng nếu lão cứ đứng ỳ ra tại chỗ thì chắc chắn con rắn sẽ giết lão… Nhưng trước khi lão quyết định được phải làm thế nào thì con rắn đã bò tới ngang chỗ của lão, và không thể nào tin được, con rắn bò qua, một cách huyền bí lạ lùng. Con rắn bò theo tiếng huýt gió và tiếng phun phì phì của người đàn ông có giọng nói lạnh lùng ở bên trong cánh cửa, và chỉ vài giây sau, cái đuôi đa giác hình viên kim cương của con rắn biến mất sau khe cửa để hở. Bây giờ thì mồ hôi đầm đìa trên trán lão Frank, còn bàn tay cầm gậy của lão thì run bần bật. Bên trong căn phòng, cái giọng lạnh lùng vẫn tiếp tục rít lên và lão Frank chợt lóe lên
một ý tưởng lạ lùng, một ý nghĩ không thể nào có nổi… Gã đàn ông đó có thể nói chuyện với rắn. Lão Frank không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Điều lão mong muốn hơn hết thảy mọi thứ lúc này là được trở về cái giường của mình với chai nước nóng để chườm cái chân đau. Vấn đề là cái chân lão dường như không thèm nhúc nhích nữa. Trong lúc lão đứng đó run rẩy, tìm cách làm chủ lấy bản thân mình, thì cái giọng lạnh lùng đang nói tiếng rắn ấy đột ngột chuyển sang tiếng Anh: “Đuôi Trùn, Nagini có một tin thú vị đây.” Đuôi Trùn hỏi: “Thực… sao, thưa ngài?” Giọng lạnh lùng ấy trả lời: “Ừ, thực vậy. Theo như Nagini thì có một lão Muggle đang đứng ngay ở ngoài cửa phòng này, rình nghe hết từng lời chúng ta nói.” Lão Frank chẳng còn cơ hội nào để núp vô đâu nữa. Tiếng bước chân vang lên, và rồi cánh cửa phòng bật mở rộng. Một gã đàn ông nhỏ thó, hói đầu, tóc lưa thưa màu xám, mũi nhọn và nhỏ, mắt mọng nước, đứng ngay trước mặt lão Frank, trên mặt hắn lẫn lộn nỗi sợ hãi với vẻ cảnh giác. “Mời hắn vô trong này coi, Đuôi Trùn. Phép lịch sự của mi để đâu hả?” Giọng nói lạnh lùng vang lên từ chiếc ghế bành cổ xưa đặt trước lò sưởi, nhưng lão Frank không thể nhìn thấy người đang
nói. Con rắn, mặt khác, thì đã cuộn tròn trên tấm thảm rách mướp bẩn thỉu, trông như thể nhại theo phong cách một con chó cưng. Đuôi Trùn vẫy tay ra hiệu cho lão Frank bước vào phòng. Mặc dù vẫn còn run lập cập, lão Frank nắm chặt lấy cây gậy, bước khập khiễng qua ngưỡng cửa. Ngọn lửa lò sưởi là nguồn ánh sáng duy nhứt trong căn phòng - hắt những cái bóng dài lằng ngoằng lên tường. Lão Frank đăm đăm nhìn vào lưng cái ghế bành; gã đàn ông ngồi lọt thỏm trong cái ghế đó dường như còn nhỏ hơn cả tên đầy tớ Đuôi Trùn của hắn, bởi vì lão Frank chẳng nhìn thấy được cái đầu của hắn đâu, chỉ nghe giọng lạnh lùng vang lên: “Mi nghe hết mọi chuyện rồi hả, tên Muggle kia?” “Ông gọi tôi là gì hả?” Lão Frank đáp, giọng thách thức, bởi vì đằng nào thì lão cũng đã vô tận trong phòng rồi, và bây giờ là lúc phải hành động, bất kể là hành động gì. Lão bỗng cảm thấy can đảm hơn; hồi trong chiến tranh lão luôn cảm thấy như vậy. Cái giọng của gã đàn ông ngồi trong ghế bành trở nên mát mẻ: “Ta gọi mi là một tên Muggle, có nghĩa mi không phải là một pháp sư.” Giọng lão Frank tăng thêm phần rắn rỏi: “Tôi không biết ông nói pháp sư là ông định nói gì. Tôi chỉ hiểu là những gì tôi đã nghe đêm nay đủ để làm cho cảnh sát quan tâm. Ông đã giết người và ông đang mưu toan giết thêm
người nữa! Và tôi cũng phải nói cho ông biết điều này…” Giọng lão đột ngột hăng lên khi lão nói thêm: “Vợ tôi biết tôi đến đây, và nếu tôi không trở về…” Cái giọng lạnh lùng thản nhiên ngắt ngang lời lão: “Mi không có vợ. Không ai biết mi ở đây. Mi không nói cho ai biết mi đến đây. Tên Muggle kia, đừng có nói láo với Chúa tể Hắc ám Voldemort, bởi vì ngài biết… Ngài luôn luôn biết…” Lão Frank thô lỗ: “Có đúng không đó? Chúa tể cơ à? Chà, tôi thì không lấy phong thái lịch sự làm điều đâu, thưa ngài. Nhưng tại sao ông không quay mặt lại đối diện với tôi như một con người nhỉ?” “Nhưng ta không phải là một con người, đồ Muggle ạ.” Giọng lạnh lùng vang lên nhưng rất khó nghe trong tiếng củi lửa cháy lách tách: “Ta hơn hẳn, hơn hẳn một con người. Tuy nhiên… sao lại không? Ta sẽ đối diện với mi… Đuôi Trùn, đến đây xoay ghế lại cho ta.” Tên đầy tớ rên rỉ. “Có nghe ta bảo không, Đuôi Trùn?” Với gương mặt dúm đó, gã đầy tớ làm như thể hắn thà làm bất cứ thứ gì còn hơn là phải đến gần ông chủ của hắn và cái thảm lót nền lò sưởi chỗ con rắn đang nằm. Gã đàn ông nhỏ thó đó bước chậm chạp tới trước và xoay cái ghế lại. Con rắn ngóc cái đầu hình tam giác xấu xí và huýt gió khe khẽ khi mấy
cái chân ghế làm đùn tấm thảm của nó. Và rồi cái ghế được xoay ra đối diện với lão Frank. Lão nhìn thấy cái đang ngồi trên ghế. Cây gậy rơi khỏi tay lão rớt xuống sàn kêu cành cạch. Lão há miệng ra, thốt lên một tiếng thét. Lão thét to đến nỗi lão không nghe được mấy lời thần chú mà cái vật ngồi trong ghế lẩm bẩm khi giơ cây đũa phép lên. Một làn ánh sáng xanh lè nhá lên, một tiếng đổ ụp xuống, và lão Frank ngã gục trên sàn. Lão chết trước cả khi thân thể lão chạm tới sàn nhà. Cách đó hai trăm dặm, một thằng bé tên là Harry Potter giựt mình thức giấc.
H 2 VẾT THẸO arry đang nằm ngửa thẳng cẳng, thở khó nhọc như thể nó vừa mới chạy xong một cuộc hộc tốc. Nó đã bừng tỉnh từ một giấc chiêm bao sống động, với hai bàn tay bưng lấy mặt. Vết thẹo cũ trên trán Harry, cái vết thẹo có hình một tia chớp đó, đang phỏng rát dưới mấy ngón tay của nó, như thể có ai đó vừa ấn một cọng kẽm nung nóng vô da. Nó ngồi dậy, một bàn tay vẫn còn đặt trên vết thẹo, tay kia thò ra với lấy cặp mắt kiếng để trên cái bàn nhỏ cạnh giường ngủ. Nó đeo kiếng vô và căn phòng ngủ hiện ra rõ ràng hơn, nhờ ánh sáng màu cam nhợt nhạt của ngọn đèn dường bên ngoài cửa sổ chiếu mờ mờ qua tấm màn. Harry lại xoa xoa mấy ngón tay lên vết thẹo, vẫn còn đau lắm. Nó bật bóng đèn bên cạnh lên, lồm cồm ra khỏi giường, băng ngang qua căn phòng, mở tủ quần áo, và dòm vô tấm gương gắn bên trong cánh cửa tủ áo. Một thằng nhỏ mười bốn tuổi ốm o đang ngó lại nó, đôi mắt xanh biếc sáng rực để lộ cái nhìn hoang mang dưới mái tóc đen rối bù. Harry xem xét cái vết thẹo hình tia chớp của cái bóng nó trong gương một cách
kỹ lưỡng. Trông cái thẹo tuy vẫn bình thường, nhưng mà nhức nhối. Harry thử nhớ lại những điều nó đã chiêm bao trước khi chợt tỉnh giấc. Giấc mơ có vẻ thật đến nỗi… Trong mơ có hai người mà nó biết và một người mà nó không biết… Nó hết sức tập trung, đầu mày châu lại, nó cố gắng nhớ… Hình ảnh mờ mờ của căn phòng tối tăm hiện ra trong trí nó… Có một con rắn cuộn mình trên tấm thảm trải nền lò sưởi… một gã đàn ông nhỏ thó tên Peter, bí danh Đuôi Trùn… và một giọng nói the thé lạnh lùng… giọng nói của Voldemort. Harry có cảm giác như có một cục nước đá vừa chui tọt xuống bao tử của nó với cái ý nghĩ… Nó nhắm tịt mắt lại và cố gắng nhớ xem mặt mũi Voldemort ra làm sao, nhưng mà nó không thể nhớ nổi… Nó chỉ biết là vào lúc cái ghế bành của Voldemort được xoay lại, thì nó, Harry, đã nhìn thấy cái gì đang ngồi trong cái ghế đó, nó đã cảm thấy một cơn khiếp hãi co giật khắp toàn thân, đánh thức nó dậy… Hay đó chính là cơn đau của vết thẹo trên trán nó? Và ông cụ già đó là ai? Bởi vì nhứt định là đã có một cụ già; Harry đã nhìn thấy cụ ngã gục xuống sàn. Mọi thứ bắt đầu trở nên rối rắm. Harry úp mặt vô hai bàn tay, che cho mắt khỏi nhìn thấy căn phòng ngủ, cố gắng nhớ lại hình ảnh của căn phòng lập lòe ánh lửa lò sưởi kia, nhưng mà thiệt chẳng khác gì cố gắng bụm tay mà giữ nước; chi tiết cứ rò rỉ đi, mất nhanh đến nỗi không giữ kịp gì cả… Voldemort và Đuôi Trùn đang nói chuyện về người nào đó mà họ đã giết, nhưng Harry không
thể nhớ được cái tên người đó… và họ cũng đang trù tính giết một người khác nữa… giết chính nó. Harry ngước mặt lên khỏi hai bàn tay, mở to mắt ra, trừng trừng ngó quanh căn phòng ngủ của nó như thể muốn tìm xem có gì bất thường không? Thì quả có thế thật, có cả đống thứ bất thường trong căn phòng này. Một cái rương gỗ to đùng nằm dưới chân giường của nó, nắp để mở, để lộ ra một cái vạc, một cây chổi, áo chùng đen, và những quyển sách thần chú đủ loại. Mấy cuộn giấy da nằm bừa bộn trên cái bàn giấy của nó, lấn hết những chỗ nào không bị cái lồng cú khổng lồ chiếm cứ. Cái lồng đang bỏ trống, đó là nơi con Hedwig thường đậu. Trên sàn phòng, bên cạnh chân giường của nó là một cuốn sách mở ra; Harry đang đọc cuốn sách đó vào đêm hôm qua thì ngủ thiếp đi. Hình ảnh trong cuốn sách đang cử động. Những người đàn ông mặc áo chùng cam đang bay vòng vòng khi ẩn khi hiện trên những cây chổi thần, quăng cho nhau một trái banh đỏ. Harry bước tới gần cuốn sách, lượm nó lên, quan sát một trong những phù thủy đang làm bàn hết sức ngoạn mục bằng cách thảy trái banh qua một cái vòng trên cột cao mười sáu thước. Rồi nó đóng ập quyển sách lại. Ngay cả môn Quidditch - môn thể thao tuyệt vời nhứt thế giới, theo ý Harry - cũng không thể chi phối tâm trí nó vào lúc này. Nó đặt quyển Bay Cùng Súng Thần Công lên cái bàn bên cạnh giường ngủ, bước đến bên cửa sổ, kéo màn ra để nhìn bao quát con đường phía dưới. Đường Privet Drive trông giống hệt như bất cứ con đường ngoại ô đáng kính nào mà người ta kỳ vọng trông thấy vào
buổi sớm tinh mơ của ngày thứ bảy. Tất cả màn cửa sổ đều đóng kín. Harry cố phóng tầm mắt vào bóng tối mờ mờ, nhưng chẳng thấy có một sinh vật nào cả, đến một con mèo cũng không. Thế nhưng… thế nhưng… Harry nôn nóng quay trở lại giường và ngồi xuống, đưa một ngón tay lên vết thẹo trên trán xoa xoa một lần nữa. Không phải cơn đau làm nó bận lòng; Harry không xa lạ gì với những cơn đau và thương tích. Có lần nó đã mất hết xương của cánh tay phải và đã phải trải qua nỗi đau đớn, dưỡng cho mấy cái xương đó mọc lại nội trong một đêm. Cũng cánh tay ấy sau đó lại bị cắm phập bởi một cái răng nanh bự khủng khiếp, đầy nọc độc, dài đến ba tấc. Và mới năm ngoái đây, Harry đã té nhào khỏi một cây chổi thần từ trên độ cao mười sáu thước. Nó đã quen thuộc với các thứ tai nạn và thương tích kỳ quái. Mấy thứ đó không thể nào tránh được nếu người ta theo học ở Hogwarts - trường Pháp thuật và Ma thuật - và lại có chút khuynh hướng thu hút về mình cả đống rắc rối. Không, cái đang làm cho Harry buồn phiền là cái lần mới đây nhứt mà cái thẹo làm cho nó đau đớn, và đó là lần mà Voldemort đến gần nó nhứt… Nhưng bây giờ thì Voldemort không thể nào ở gần đây được… Ý tưởng Voldemort đang ẩn náu đâu đây trên đường Privet Drive nghe thiệt là vô lý, không đời nào… Harry lắng nghe rất kỹ sự yên vắng chung quanh. Hay là nó đang lơ mơ chờ đợi nghe thấy tiếng kọt kẹt trên cầu thang hay tiếng phất gió của tấm áo trùm? Và rồi nó hơi nhảy nhổm lên khi nghe tiếng thằng anh họ của nó ngáy lên một tiếng như
sấm rền ở căn phòng kế bên. Harry giật mình, tự nhủ, mình ngu ngốc thiệt. Trong nhà này đâu có ai khác ngoại trừ dượng Vernon, dì Petunia và Dudley, và họ đều đang ngủ say sưa yên lành, những giấc mơ của họ không bị quấy phá, cũng không đau đớn. Cái thói ngủ say là đức tính của gia đình Dursley mà Harry ưa nhứt, chẳng như lúc thức họ chẳng giúp ích được gì cho nó. Dượng Vernon, dì Petunia, và Dudley là những người bà con duy nhứt còn sống của Harry. Họ là dân Muggle, căm ghét và khinh bỉ pháp thuật dưới bất cứ hình thức nào. Điều này có nghĩa là Harry được đón nhận trong gia đình này như một cục nợ ghẻ. Họ đã giải thích cho lối xóm về sự vắng mặt lâu ngày của Harry trong lúc nó đi học nội trú ở trường Hogwarts trong ba năm qua là Harry bị đưa vô Trung tâm Thánh Brutus Giam giữ Tội phạm Trẻ em Không Cải huấn được. Họ hoàn toàn biết rõ là Harry, một phù thủy vị thành niên, không được phép xài pháp thuật ở ngoài trường Hogwarts, nhưng họ cứ chằm hăm đổ thừa cho Harry về bất cứ thứ trục trặc gì xảy ra trong ngôi nhà của họ. Harry không bao giờ có thể giãi bày hay nói với họ bất cứ điều gì về cuộc sống trong thế giới phù thủy. Cái ý tưởng đi đến gặp dì dượng Dursley khi họ thức dậy, để kể cho họ nghe chuyện cái thẹo làm cho nó đau đớn và chuyện nó lo lắng về Voldemort, cái ý tưởng đó làm cho Harry phì cười. Vậy mà chính tại vì Voldemort mà Harry phải đến sống với gia đình Dursley ngay từ đầu. Nếu không phải tại Voldemort thì Harry đâu có bị mang cái vết thẹo hình tia chớp trên trán. Nếu không phải tại Voldemort thì Harry vẫn còn có cha mẹ…
Harry chỉ mới lên một tuổi vào cái đêm mà tên Voldemort ấy - tên phù thủy hắc ám hùng mạnh nhứt trong suốt một thế kỷ, tên phù thủy đã nắm trọn quyền lực vững bền trong suốt mười một năm - tên phù thủy ấy đã đến nhà Harry và giết cả ba lẫn má của Harry. Sau đó Voldemort đã chĩa đũa phép vào Harry, hắn đã thực hiện một lời nguyền từng tiêu diệt rất nhiều phù thủy già đời trên con đường giành lấy quyền lực của hắn… Và kỳ diệu đến mức không tin nổi là lời nguyền đó không linh nghiệm đối với Harry. Thay vì giết chết đứa bé, lời nguyền đã phản công lại chính Voldemort. Harry sống sót, không hề hấn gì hết, ngoại trừ một vết thương hình tia chớp để lại trên trán; còn Voldemort thì bị tàn rụi, chỉ còn là một đống ngắc ngoải. Quyền lực của hắn tiêu tan, sự sống của hắn hầu như tàn lụi, Voldemort đã chuồn mất. Nỗi kinh hoàng mà cộng đồng bí mật của các phù thủy từng chịu đựng bao lâu nay được giải tỏa, bọn thuộc hạ của Voldemort bị tứ tán, và Harry Potter trở nên nổi tiếng. Vào sinh nhật thứ mười một của Harry, nó đã vô cùng kinh ngạc khi khám phá ra rằng mình là một phù thủy. Nó còn hoảng hồn hơn nữa khi phát hiện ra cái điều là mọi người trong thế giới bí mật của phù thủy đều biết đến tên nó. Harry đã đến trường Hogwarts và nhận thấy rằng mọi cái đầu đều phải quay lại nhìn nó và những lời xì xào đuổi theo sau nó bất kể nó đi tới đâu. Nhưng bây giờ thì Harry đã quen rồi. Cuối mùa hè này nó sẽ bắt đầu vào năm thứ tư ở trường Hogwarts, và nó đã bắt đầu đếm ngược thời gian để tính đến ngày nó được trở lại tòa lâu đài. Nhưng vẫn còn gần nửa tháng nữa mới tới ngày tựu
trường. Harry lại nhìn quanh căn phòng của nó một cách vô vọng, và mắt nó chợt dừng lại trên mấy tấm thiệp mừng sinh nhựt của hai đứa bạn thân nhứt gởi cho nó vào cuối tháng bảy. Không biết tụi nó sẽ nghĩ sao nếu Harry viết thư kể cho tụi nó nghe về chuyện cái thẹo làm cho nó đau đớn? Lập tức, Harry nhớ lại giọng nói vừa hoảng hốt vừa chói tai của cô nàng Hermione: “Cái thẹo của bồ bị đau hả? Harry, cái đó nghiêm trọng lắm đó… Bồ viết thư cho cụ Dumbledore biết đi! Và mình sẽ đi tra cứu cuốn Những Đau Đớn Và Phiền Muộn Pháp Thuật Thông Thường… Có thể trong đó có chỉ cách phải làm sao với những vết thẹo do bị nguyền gây ra…” Ừ, thể nào Hermione cũng sẽ khuyên bảo nó như vầy: đi thẳng đến gặp thầy hiệu trưởng trường Hogwarts, đồng thời tham khảo một cuốn sách. Harry nhìn đăm đắm qua cửa sổ lên bầu trời xanh đen màu mực. Nó không tin chút nào là một cuốn sách lại giúp được nó lúc này. Theo như nó biết, nó là sinh vật duy nhứt sống sót dưới một lời nguyền kinh khủng như lời nguyền của Voldemort; vì vậy, sẽ không có mấy khả năng là nó sẽ tìm được những triệu chứng tương tự được liệt kê trong cuốn Những Đau Đớn Và Phiền Muộn Pháp Thuật Thông Thường. Còn về chuyện trình việc này cho thầy hiệu trưởng, thì Harry thiệt tình không biết suốt kỳ nghỉ hè cụ Dumbledore biến đi đâu. Nó tự giải trí cho mình một lát bằng cách hình dung ra cụ Dumbledore với bộ râu bạc dài lượt thượt, trong bộ áo chùng phù thủy dài thòng, đội cái nón phù thủy chóp nhọn… đang nằm dài trên bãi biển nào đó, đang xoa kem chống nắng lên cái mũi khoằm dài ngoằng của cụ. Nhưng
cho dù cụ Dumbledore đang ở đâu, Harry biết chắc là Hedwig cũng sẽ có thể tìm được cụ; con cú của Harry chưa bao giờ thất bại trong công tác giao một lá thư cho bất kỳ ai, ngay cả khi thư không có địa chỉ. Nhưng mà Harry sẽ viết cái gì trong thư? Kính thưa giáo sư Dumbledore, Con xin lỗi đã quấy rầy thầy, nhưng mà cái thẹo của con làm con đau hồi sáng này. Kính thư, Harry Potter Chẳng lẽ lại viết như vậy? Nhưng câu chữ đó thậm chí khi hãy còn nằm trong đầu Harry nghe cũng đã ngớ ngẩn hết chỗ nói rồi. Thành ra Harry cố nghĩ tới phản ứng của một đứa bạn thân khác của nó, Ron Weasley. Thế là trong khoảnh khắc, cái đầu tóc đỏ, cái mũi dài và cái mặt đầy tàn nhang của Ron dường như bơi bơi trước mặt Harry, mang một vẻ khoái chí vô cùng. “Cái thẹo của bồ đau hả? Nhưng Kẻ-mà-ai-cũng-biết-làai-đấy đâu có thể nào đang ở gần bồ lúc này, đúng không?… Ý mình nói là bồ sẽ biết nếu hắn đến gần bồ, đúng không? Hắn lại toan hại bồ một lần nữa, đúng không? Mình không biết Harry à, có thể mấy cái thẹo do lời nguyền gây ra luôn luôn nhức nhối một tý… mình sẽ hỏi ba mình coi sao.” Ông Weasley là một pháp sư có đầy đủ năng lực để làm việc cho văn phòng Dùng sai Chế tác của Muggle ở Bộ Pháp Thuật, nhưng, theo như Harry biết, ông lại chẳng có chuyên môn đặc biệt gì về những vấn đề đại loại như lời nguyền…. Dù sao đi nữa, Harry cũng không thích cái ý tưởng làm cho cả
nhà Weasley biết là nó, Harry Potter, mới bị đau một tý tẹo đã nhảy lên đong đỏng. Bà Weasley sẽ rối rít lên, hơn cả Hermione; và Fred và George, hai ông anh sinh đôi của Ron năm nay mười sáu tuổi, sẽ cho là Harry phát khùng. Gia đình Weasley là gia đình mà Harry yêu quí nhứt trên thế gian này. Nó đang hy vọng là trong nay mai thôi họ có thể mời nó đến nhà họ lưu lại chơi. (Ron đã nhắc đến cái gì đó về trận tranh Cúp Quidditch Thế giới), và nó dù sao cũng không muốn cuộc viếng thăm của nó bị ám bởi những thắc mắc lo âu về cái thẹo của nó. Harry xoa nắn cái thẹo bằng mấy khớp ngón tay. Điều mà nó thực sự muốn (mà nó lại gần như xấu hổ khi tự thú nhận với mình điều này) là có một người giống như…, một người nào đó giống như cha mẹ vậy; một phù thủy người lớn có thể dạy dỗ khuyên bảo nó mà nó không cảm thấy mình ngu ngốc, một người quan tâm lo lắng cho nó, một người có kinh nghiệm về Ma thuật Hắc ám… Bỗng nhiên nó nghĩ ra người đó. Thiệt là đơn giản, và thiệt là rõ ràng đến nỗi nó không thể tin được là nó phải mất nhiều thì giờ như vậy mới nghĩ ra. Người đó còn có thể là ai khác hơn chú Sirius? Harry nhảy phóc ra khỏi giường, vội vã băng ngang căn phòng, ngồi vô bàn viết. Nó kéo một tấm giấy da về phía mình, chấm cây viết lông chim đại bàng của nó vô bình mực, viết Chú Sirius kính mến, rồi ngừng lại, tự hỏi làm thế nào để diễn tả cái vấn đề của nó một cách tốt nhứt, lòng vẫn còn lấy làm lạ về cái chuyện mà nó đã không nghĩ ra chú Sirius ngay từ đầu. Nhưng mà rồi, có lẽ… nói cho cùng thì cũng không
đến nỗi đáng ngạc nhiên lắm, vì nó cũng chỉ mới phát hiện ra chứ Sirius là cha đỡ đầu của nó cách đây hai tháng. Ngay cả khi không thể cùng về sống chung với chú, thì chính nhờ chú Sirius mà bây giờ Harry có thể để tất cả những thứ đồ dùng học tập của nó ở trong phòng ngủ. Trước đây gia đình Dursley không đời nào cho phép làm như vậy. Ước nguyện chung của họ là làm sao cho Harry càng khốn đốn càng tốt, cộng thêm nỗi sợ hãi quyền lực pháp thuật của Harry đã khiến cho vào những mùa hè trước đây họ cứ nhét cái rương đựng đồ dùng học tập của nó vô căn phòng xép dưới gầm cầu thang . Nhưng thái độ của họ đã thay đổi kể từ khi họ biết Harry có một người cha đỡ đầu là một tên sát nhân nguy hiểm - Bởi vì Harry đã cố tình quên nói với gia đình Dursley rằng chú Sirius vô tội. Từ khi trở về ngôi nhà trên đường Privet Drive, Harry đã nhận được hai lá thư của chú Sirius. Cả hai đều được đưa tới, không phải bằng cú như trong thế giới phù thủy thường dùng đâu nhá, mà bằng những con chim miền nhiệt đới bự chảng đầy màu sắc rực rỡ. Hedwig không chấp nhận những khách không mời hào nhoáng đó; nó hết sức bất đắc dĩ để cho mấy con chim nhiệt đới đó uống miếng nước trong cái khay của nó trước khi bay đi. Harry, ngược lại, rất khoái chúng. Bọn chim nhiệt đới đó đem đến cho trí tưởng tượng của Harry những rặng dừa và bãi cát trắng mà Harry hy vọng là nơi chú Sirius đang trú ngụ và đang tự do tự tại (chú Sirius không bao giờ nói chú đang ở đâu, đề phòng trường hợp những lá thư bị coi trộm). Không hiểu vì sao, Harry thấy khó mà tưởng tượng nổi là những tên giám ngục Azkaban có thể sống sót lâu dưới ánh
mặt trời rạng rỡ; có lẽ vì vậy mà chú Sirius đã đi về phương nam. Những lá thư của chú Sirius có vẻ vui tươi phấn khởi; chúng hiện giờ đang được giấu kỹ dưới một tấm ván lót sàn có thể tháo ra được ngay dưới gầm giường của Harry. Và trong cả hai lá thư đó, chú Sirius đều nhắc Harry cứ gọi đến chú bất cứ khi nào thấy cần. Ừ, thì bây giờ chính là lúc nó cần, được thôi… Ngọn đèn của Harry dường như lu mờ đi khi ánh sáng xám bạc lạnh lẽo của buổi bình minh đang rạng dần từ từ lan tỏa vào phòng. Cuối cùng, khi mặt trời mọc, khi những bức tường trong phòng ngủ của nó nhuộm màu vàng rực, và tiếng đi lại lịch kịch vang lên từ phòng của dượng Vernon và dì Petunia, thì Harry dọn dẹp những mẩu giấy da vụn vương vãi trên bàn và đọc lại lá thư vừa viết xong: Chú Sirius kính mến, Cám ơn chú về lá thư mới nhứt của chú. Con chim đó bự dễ sợ; đến nỗi nó khó khăn lắm mới chui qua được cửa sổ vào phòng con. Cuộc sống ở đây vẫn như bình thường. Vụ ăn kiêng của Dudley không khá chút nào. Dì của con phát hiện nó lén đem bánh rán vô phòng ngủ của nó ngày hôm qua. Dì dượng nới là họ sẽ phải cúp tiền túi của nó nếu nó cứ làm như vậy, cho nên nó tức giận hết sức và quăng cái Trạm-Chơi của nó qua cửa sổ. Đó là một loại đồ điện tử mà người ta có thể dùng để chơi trò chơi. Thực ra nó làm vậy là ngu, bây giờ nó không còn cả cái chương trình điện tử Siêu-quậy Phần ba để mà mê cho quên sầu. Con thì yên ổn, ấy chủ yếu là nhờ gia đình Dursley quá sợ rằng chú có thể xuất hiện và biến họ thành dơi nếu con méc chú. Nhưng mà có một chuyện lạ xảy ra hồi sáng nay. Cái thẹo của con lại đau nữa. Lần mới nhứt mà cái thẹo đau là tại vì Voldemort vô trường Hogwarts. Nhưng mà con không nghĩ
là hắn đang ở gần con lúc này, chẳng lẽ nào? Theo chú thì liệu mấy cái thẹo do bị nguyền có đau đớn trong nhiều năm về sau không? Con sẽ nhờ Hedwig gởi thư này khi nó trở về; bây giờ nó đang đi săn. Chú cho con gửi lời chào Buckbeak nhé. Harry Harry nghĩ… Ừ, coi được rồi đây. Chẳng việc gì phải đề cập tới giấc mơ. Nó không muốn bức thư để lộ ra là nó quá lo lắng. Nó xếp miếng giấy da lại và đặt qua một bên trên bàn, chờ Hedwig trở về. Rồi nó đứng dậy, vươn vai, mở tủ quần áo ra một lần nữa. Không cần liếc bộ dạng mình trong gương, Harry bắt đầu mặc quần áo rồi đi xuống nhà bếp ăn điểm tâm.
K 3 THIỆP MỜI hi Harry xuống tới nhà bếp, ba người của nhà Dursley đã ngồi sẵn quanh cái bàn rồi. Không ai thèm ngẩng nhìn lên khi nó bước vô và ngồi xuống. Gương mặt to bè và đỏ au của dượng Vernon khuất đằng sau tờ báo buổi sáng Tin thư Nhật báo, còn dì Petunia thì đang cắt một trái bưởi làm tư, môi của dì mím lại trên những cái răng như răng ngựa. Dudley có vẻ tức tối hờn dỗi, và không biết do đâu mà nó dường như chiếm nhiều chỗ hơn thường ngày. Điều này rất có ý nghĩa, bởi vì thường ngày nó cũng đã một mình chiếm hết cả một cạnh của cái bàn vuông. Mắt Dudley đỏ lên khi dì Petunia đặt một phần tư trái bưởi không ướp đường lên cái đĩa của nó với giọng nói run run: “