Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

phần lớn chúng tôi một loại cảm giác say sưa, khoan

phần lớn chúng tôi một loại cảm giác say sưa, khoan

phần lớn chúng tôi một loại cảm giác say sưa, khoan khoái... Người ta bước đi mà đầu óc chẳng nghĩ đến điều gì, trong một trạng thái hoàn toàn thư giãn thần kinh”. Trên cứ điểm Êlian 10 rải đầy những xác chết, những vũ khí bị phá vỡ, những băng vỏ đạn, những lựu đạn, chẳng ai quan tâm đến những người bị thương. Những bộ đội Việt Minh đi qua đã nhận lời cầm mũ sắt xuống sông múc nước cho đại úy Tơrap đang lên cơn sốt. Chiến binh trên tiến duyên là những người duy nhất nhạy cảm với sự đè nặng của chiến tranh lên đôi vai của họ. “Anh qua ngày 7-5 trong một đầu hào của Việt Minh, Tơrap kể với vợ. Việt Minh không chú ý đến anh và ngày 7, lúc 18 giờ anh mới biết là các cuộc chiến đấu đã ngừng. Việt Minh bắt đầu sơ tán người chết của họ và việc đó kéo dài cả đêm. Chỉ đến 10 giờ ngày 8-5 các y tá Pháp mới được phép đến tìm người bị thương trên vị trí. Anh được khiêng đến trạm giải phẫu và mổ lúc 17 giờ. Bayi được mổ

390 trước anh; tình trạng của anh ấy trầm trọng hơn nhiều. Anh ấy bị mất một mẩu xương ống lớn; và may mắn lạ lùng là vẫn giữ được chân”. Khi đoàn người vô tận đi qua công sự tiền duyên của Đôminíc 3, các hạ sĩ quan tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri, những người biết rõ mọi đường hào ở đây, đã có một cuộc khám phá làm đảo lộn đầu óc họ. Trung sĩ nhất Hecviu và hạ sĩ nhất Zanenli tìm thấy, trong một cái hố bẩn thỉu, một hạ sĩ quan tưởng đã chết từ ngày 1 -5 . Trung sĩ nhất Guy Máctanh ở trong một tình trạng mà thoạt tiên họ nhầm là “một xác chết sắp phân hủy". Anh bị nhiều viên đạn trúng vào người và mùi bốc lên từ các vết thương bị viêm nhiễm của anh đã giải thích sự nhầm lẫn đó. Được cử về đơn vị thông tin của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri, Máctanh bị thương lần đầu vào ngày 25-3 và nếu chiếc Đacôta của thiếu tá Blăngsê đã cất cánh lại, thì viên hạ sĩ quan này đã ở trong một bệnh viện Hà Nội từ lâu rồi. Được săn sóc ở trạm giải phẫu Ginđrây, Mác tanh vừa mới bình phục thì được gửi xuống Đôminíc 3 từ ngày 8-4 để trở lại chức vụ ở đại đội Philôđô. Ngày 1-5, khi đại úy Perê thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đến, Máctanh ở lại. Đêm sau Việt Minh tấn công và bắt được Perê. Bị một băng tiểu liên bắn trúng, bị bỏ lại vì tưởng đã chết, Máctanh lê đến một hầm trú ẩn và ngã gục ở đó. Không được chăm sóc, không có cáng, không nước, không thức ăn. Bộ dội Việt Minh đi qua, đôi khi dừng lại, chui vào hầm khi những làn đạn pháo của Pháp quá chính xác và rồi lại rời đi không để ý đến người bị thương. Sự dửng dưng. “Đầy bất hạnh, Máctanh nói, tôi bị bệnh kiết lỵ, gây cho tôi muôn ngàn khó khăn mỗi khi giải quyết những nhu cầu tự nhiên. Tình trạng đó buộc tôi phải tập luyện mệt đến lả người càng làm tăng thêm những nỗi đau đớn của tôi. Rồi dòi sinh ra trong các vết thương của tôi nhiều nhung nhúc đến nỗi tôi có cảm giác là mình sẽ bị nuốt sống”. Thế mà anh ấy vẫn sống sót. Một ngày, hai ngày, ba ngày... Bảy ngày chỉ gặm một miếng bánh quy mốc tìm được trong một cái túi, liếm các vách hào khi nước mưa chảy vào, nhưng không được săn sóc, luôn luôn không được săn sóc. Rồi đến ngày 7-5 nhưng làm sao anh ấy biết được là ngày 7-5? - Các đồng đội của anh đã xuất hiện, nói chuyện với anh và đưa anh ra khỏi cái bãi đầm ấy. Anh đi chân không, tưởng anh đã chết hoặc gần chết, người ta đã lấy đi đôi giày của anh. Zanenli và Hécvuiét kéo anh đi. Người ta mang đến cho anh một mũ sắt nước sông và anh uống một hơi. Với sự giúp đỡ của trung sĩ nhất Bônôpêra, cũng là người của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri, họ lại ra đi cùng với người bị thương, đẩy anh đi, mang anh cho đến một trạm nghỉ mà họ hy vọng có thể giao

391 anh cho một tù binh là bác sĩ. Cả ba người đã cứu sống anh. (Chú thích: Bị thương ở ngực, ở cánh tay trái, ở cả hai chân, ở bụng, đầu và bàn tay, trung sĩ nhất Máctanh có những vết thương bị nhiễm trùng và đầy dòi, Ăngzê Bônopêra viết. Bị bẩn vì bệnh kiết lị, anh có mùi rất khó chịu và hai chân thì bị sưng lên vì bệnh tê phù.) Xanhglăng và Xanh-hile nghe những tiếng hét ở ngoài hầm và một Việt Minh có một đèn pin - của thu nhặt - xuống cầu thang rất thận trọng đề phòng. Thấy tình trạng của họ, anh ta cho mang hai cái cáng đến và ra lệnh đưa họ ra ngoài trời. Họ bị tách ra và nhập vào đoàn người đang kéo lê trên tỉnh lộ 41. Việc khiêng cáng làm cho đoàn người lộn xộn vô tổ chức, bộ đội Việt Minh áp dụng hiệu lệnh. “Sau khi đi được ba hoặc bốn kilômét, Xanhglăng viết, Việt Minh đặt tôi xuống bên bờ đường và tôi ở lại một mình. Chính ở đó tôi đã qua đêm đầu tiên của đời tù binh. Có những người đi qua mà không nhìn thấy tôi; thường là những tù binh đi lên phía bắc, bị lính gác thôi thúc, nhưng số lượng họ đã giảm. Đám tù binh lớn đã đi qua. Việt Minh cũng vậy vừa hát, vừa đi về phía nam. Chẳng ai chú ý đến tôi. Sáng ngày 8, sau cái đêm cô đơn vô tận, một sĩ quan Việt Minh có khoảng một chục bộ đội đi thu nhặt người bị thương lại gần tôi và nói tiếng Pháp hỏi về thân phận của tôi và tình trạng các vết thương. Rồi ông ta ra lệnh. Một người lính đi lấy nước ở sông và người thứ hai nhóm lửa nấu nước sôi. Viên sĩ quan nói ông ta không có cà phê mà chỉ có những lá chè biếu tôi để uống nước chè nóng. Ông ta sẽ yêu cầu người ta đến tìm tôi. Ông ta là sự tiếp xúc cuối cùng của tôi đối với thế giới chiến binh, cái thế giới mà, vì cả hai bên đều vất vả chịu đựng, người ta đã biết tôn trọng nhau và đôi khi quý mến nhau”. Buổi chiều ngày 7-5 này, đúng vào ngày thứ năm mươi sáu của cuộc chiến đấu, là một ngày mệt mỏi kiệt sức với binh sĩ mà nhiều người không nhìn thấy ánh sáng ban ngày từ nhiều tuần nay. Trong một sở chỉ huy, việc luyện tập thể lực là con số không, nhiều sĩ quan bình thường là những người đi bộ giỏi, vững chãi thế mà bây giờ lảo đảo vì buồn ngủ và mệt nhọc. Vécđenhan "cho thiếu tá Vađơ uống benzêđrine nhưng ông cũng không uống được nữa. Đại tá Lơmôniê không theo được đoàn người và xỉu xuống bên lề đường. Một lính lê dương kéo lê một cái chân bó thạch cao, để lại một mùi ô nhiễm vì băng chưa được thay". Đoàn sĩ quan dừng lại lúc hoàng hôn xuống và nhiều tù binh nói đến một "khoảng rừng thưa nhỏ" mà mỗi người sẽ nằm lại trên mặt đất để qua đêm. Những người không biết lo xa không mang theo khẩu phần ăn thì xiết thắt lưng

392 lại trước khi tìm kiếm một giấc ngủ, vừa cầu nguyện để cho mưa rào không biến họ thành một miếng xốp hút nước giữa trời đêm. Đại úy Buốcgiơ thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, thích thú với sự yên lặng đưa ông trở về với thiên nhiên, cây cối và bụi rậm tỏa lên một hương thơm dịu dàng và chim chóc đã lấy lại niềm tin, cơn bão thép đã qua đi. “Khi chúng tôi dừng lại ở khu rừng thưa, Buốcgiơ nói, chẳng có gì dự tính để tiếp đón chúng tôi, còn tôi thì bằng lòng với những gì mình đã mang đi: bánh quy, mứt hoa quả, và một khẩu phần ăn. Thế rồi tôi nằm dài lên một gốc cây và tôi ngủ”. Cách đó hai bước, đại úy Biêngvô thấy mình "suy sụp vì mệt nhọc, mất ngủ - ngày 7 thật là gay go? - bị u mê vì vết thương đau nhói trên đầu, gần như bị trầm cảm". Với một giọng hài hước lạnh băng, trung úy Anle thấy đêm đầu tiên dưới bầu trời đầy sao, trên một mặt đất ẩm thấp, không khác gì với những đêm trước đây, trừ việc chúng ta mất tự do và sự yên lành đã thay thế tiếng gầm thét của trận đánh". Một số sĩ quan đã có chủ tâm hạn chế tầm quan sát của các bộ đội Việt Minh: Cayô, Vécđenhan, Roy và Lơgiăng làm thành một màn người xung quanh Lăngle. Bê rê đội sụp xuống mắt, Biga hòa lẫn vào đoàn người đang đi trên tỉnh lộ 21. Họ hiểu rằng sớm hay muộn rồi Việt Minh cũng tìm thấy họ nhưng "Bruynô" và "gã Pie" không muốn tự ý nộp mình. Lơ Pagiơ: “Đêm sắp tới, khi Việt Minh dừng chúng tôi lại gần những hầm trú ẩn đào ngay trên đồi, ở đây họ sẽ dồn đống chúng tôi lại với lý do bảo vệ chúng tôi tránh hỏa lực của không quân chúng ta. Không khí trở nên khó thở, chúng tôi đi ra ngoài để ngủ ở chỗ không khí thoáng ... Tôi cùng đại tá Lăngle nằm chung trên miếng bạt lều nhưng không thể ngủ được. Việt Minh tìm ông và lay từng người nằm ngủ. Thấy mình làm phiền đến mọi người, đại tá đứng dậy và đi theo họ”. Biga cũng bị phát hiện trong những điều kiện như vậy. Gimbe Roy và "Ri ki" Lơgrăng vẫn giữ vải bạt lều của họ và ngủ ngon lành. Cách Vécđanhen hai bước chân, "một người bị gãy tay gào lên trong đêm, đòi tiêm moócphin mà chẳng ai có thể cho anh ta được" . Nghĩ đến những thử thách đã hình thành, Lơ Pa giơ cho rằng "những ngày đầu tiên, làm tù binh đã diễn ra như là sự tiếp tục của trận đánh, tất nhiên là với một mục tiêu khác, không phải để chiến thắng mà để sống sót".

393 Một tiếng động quen thuộc, tiếng pháo bắn, làm ông dỏng tai: "Từ phía nam đến, chúng tôi nghe những tiếng pháo bắn lác đác từ Isaben. Vậy là họ luôn luôn giữ vững...". Dẫu ông có muốn nữa thì tướng Đờ Caxtơri cũng không thể trà trộn vào tù binh, Việt Minh không rời ông nửa bước nhưng đồng ý để các sĩ quan thân cận của ông cùng đi với ông. Đến chân các Đôminíc, họ được yêu cầu leo lên một chiếc xe tải Môlôtôva hình như đang chờ họ và bạt kéo kín, xe chạy gần hai giờ với tốc độ thấy trên những ổ gà lầy lội. Đại úy Đruin nhớ lại cuộc đỗ xe: “Thiếu tướng đi với sĩ quan tùy tùng người Ma rốc, trung tá Tơranca, thiếu tá Vôinô đi sau hai bước, còn tôi thì cùng với hai ba sĩ quan GONO. Chúng tôi đi bộ khoảng một giờ để đến sở chỉ huy bí mật của tướng Giáp, được ngụy trang rất khéo và ở một vị trí đặc biệt, vì từ đây có thể nhìn thấy tất cả các vị trí của tập đoàn cứ điểm. Thiếu tướng nói chuyện với tướng Giáp, mặt giáp mặt, trong nửa giờ. Một cuộc đối thoại “nếu không thân mật thì ít nhất cũng là lịch sự”, sau đó thiếu tướng nói lại với tôi. Thế rồi, lại theo lộ trình đó, chúng tôi trở về tỉnh lộ 41 và đến một ngã tư, lại xuống xe. Chúng tôi còn phải đi bộ và gần một vài căn nhà tranh, chúng tôi gặp những sĩ quan tù binh trong đó có đại úy Pugiê bị bắt ở Êlian 3”. Họ nhập vào những người khác và nhận nắm cơm nếp đầu tiên. Chúng tôi không rõ tướng Đờ Caxtơri có được nhận thêm một món ăn phụ kiểu như "phomát" hoặc "tráng miệng" không, nhưng trong các sổ tay của mình, đại úy Vécđenhan bảo đảm rằng cơm có kèm theo "một chút nước mắm", một loại nước muối cá rất được ưa thích ở Việt Nam và có nhiều vitamin. Sau "bữa ăn", các đoàn, trong đó tù binh đã được sàng lọc, tiếp tục ra đi theo hướng Mường Phan là trại cải huấn của tù binh." “Chúng tôi đến nơi khi trời đã tối đen, Vecđenhan kể lại. Mệt đến chết được, người ta lê bước và nằm ngủ trên những khúc củi tròn của vách ngăn nhưng giường nằm không tiện nghi cộng với cái rét cửa trời đêm đã làm cho chúng tôi không nhắm mắt được. Sáng sớm chúng tôi tìm hiểu trại. Thật là ảm đạm, nó ở trên một sườn núi có rừng, bùn lầy và ẩm thấp. Một căn nhà tranh đã đổ nát và mái nhà trông thảm hại”. Đại úy Philíp nghĩ rằng "Bộ chỉ huy Việt Minh coi nhiệm vụ tổ chức ở Mường Phan có một tầm quan trọng lớn. Sau khi sàng lọc, việc tập hợp lại các sĩ quan là một dịp để khám xét họ". Máy ảnh của đại úy Đềmông bị tịch thu, rồi đến các ảnh và phim thả dù vào cuối tháng 4, camêra vẫn còn sau ba lần khám nhưng đến

394 lần thứ tư thì bị lấy. Có cái nhìn thực tế, đại úy Côngbơ vứt máy ảnh của mình vào một đầm lầy. Đại úy Kruymơnăcke vứt khẩu súng lục cỡ 7,65. Chính ở Mường Phan, những kẻ chiến bại sẽ học cách đóng vai trò tù binh của quân đội nhân dân Việt Nam. Tuần lễ trôi qua không phải là một thời kỳ thư giãn. Sau khi xác định những người bị thương nặng, các sĩ quan, những người bị thương nhẹ, người chiến thắng chuyển sang việc kiểm kê hạ sĩ quan và binh lính. Rồi những cuộc sàng lọc khác nữa cũng được tiến hành: các lính bộ binh Bắc Phi, các pháo thủ Xênêgan, lính bổ sung Thái và dĩ nhiên, người Việt đã "vàng hóa" từng tiểu đoàn Điện Biên Phủ. Trong hai ngày, họ lập nên các nhóm mà mọi quan hệ hữu cơ với nhau đều bị phá vỡ. “Ở Mường Phan, trung úy Rêginan Uyiem xác nhận, chúng tôi được chia thành từng đội khoảng ba chục sĩ quan và đội trưởng của tôi là trung úy Pie Rơnôn thuộc tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13 lê dương ngoại quốc. Hằng ngày, anh phải điểm danh, nếu ai thiếu thì anh bị xử phạt. Cùng với chúng tôi có Đômigô, Răngcun, Giăccơmê, bác sĩ Riviê, đại úy Pêtơrê và Morăng, cả hai thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc. Ngày 15-5 lúc 15 giờ trưởng trại báo ngày mai lên đường. Ông ta nói rõ là chúng tôi “sẽ đi tất cả các đêm trong nhiều tuần lễ với một nắm cơm không muối, như các binh sĩ của chúng tôi”! ông ta có trình độ văn

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 102

Đang tải bình luận...