phần vào làm cho cái đường hào thành những vũng bùn ghê người, không thể cáng chúng tôi đi thay băng, ngửi thấy đầy mùi xác chết”. Nhờ trung úy Hêbe của binh đoàn biệt kích hỗn hợp không vận, ba thương binh có được "một hộp dầu hỏa dùng làm đèn" nhưng khổ vì thiếu thông gió. Tuy nhiên chính họ đã được ưu tiên bởi vì một số hầm chẳng có đèn ngày cũng như đêm. Ngày 7-5, Ruyte, Bullê và Cácơray được một y tá cho biết là các cuộc chiến đấu sẽ chấm dứt. “Đó là sự cáo chung, Ruyle nhận xét, người ta sẽ giương cờ trắng lên trạm giải phẫu vào 17 giờ. Đối với chúng tôi đó là một sự suy sụp tinh thần ghê gớm. Cácơray đã khóc không cần che giấu". Trong một hầm khác, Alanh Lêcuyê có vẻ như thoát nạn. Một sợi dây kim loại được bác sĩ Grauuyn đặt vào nối liền hai mép của vết thương sọ não và bác sĩ hy vọng ý chí muốn sống của Lêcuyê sẽ thắng. Anh cần sự yên tĩnh sự thư giãn, một chút hạnh phúc và nếu không thì anh "như là người bị chôn sống" trong căn hầm cùng ba người bị thương khác. Khi một lê dương bị bó bột đến tận vai báo tin ngừng bắn "chúng tôi khóc nức nở như những đứa trẻ", Lêcuyê thú nhận. Sau khi đến bệnh xá của tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, trung úy Rúc cảm thấy an toàn, anh đã trở về với người của mình. Jớtx đã giúp anh vượt sông mà anh không ngờ lại sâu đến thế và anh buộc phải bơi. Một chiến công với cái mông của anh có hàng chục mảnh đạn nằm gần đó . “Ở bệnh xá tôi bị lột trần truồng. Tất cả những gì tôi mang trên lưng bị ướt sũng và lấm bùn. Tôi phải nằm trên cáng, người ta rửa vết thương cho tôi, băng tạm và
381 tiêm. Tôi xin tiêm moócphin vì chân tôi rất đau. Tôi phải ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy vào buổi chiều, bác sĩ Rôngđi báo cho biết là chúng ta ngừng bắn. Tôi chỉ ngạc nhiên một phần. Tôi lấy một cái quần, một áo và một puynlôve và tôi dốc các túi của bộ quân phục chiến đấu đã bị ướt: lịch, bật lửa, la bàn. Tất cả trong những túi nhỏ ni lông”. Trừ những loạt đạn pháo bắn vào Isaben, tiếng pháo đã giảm dần và đến 17 giờ các pháo của phân khu trung tâm ngừng bặt. Chỉ còn đại liên và vài khẩu pháo không giật đối đáp nhau và riêng súng phòng không là hoạt động rất tích cực. Trên bầu trời vào cuối buổi chiều, các máy bay ném bom nhận được lệnh quay về và chỉ ném bom vào những mục tiêu thứ yếu nhưng chỉ khi đã về đến trên bầu trời vùng châu thổ thì các phi hành đoàn mới biết về sự kết thúc của Điện Biên Phủ (Chú thích: Ngày 7-5, sau khi làm nhiệm vụ cuối cùng ở Điện Biên Phủ trở về, chiếc B26 của đại úy Đơpacđông bị súng 12 ly 7 bắn trúng cánh trái, rồi một quả đạn cao xạ giật đầu cuối của cánh phải, một quả thứ hai giết thượng sĩ nhất Môruy sau khi chọc thủng khoang đựng bom. Đơpacđông đã lái được máy bay vế đến Cát Bi (trao đổi thư giữa tác giả và tướng Đơpacđông).). * * * Một trận đánh khi tàn lụi giống như một buổi hoàng hôn. Quả tim của phân khu trung tâm đập chậm lại và các chiến binh giữ lại trong trí nhớ sự im lặng đè lên các trung tâm đầu não của GONO. Sau những phát súng cuối cùng và trước khi bộ đội Việt Minh bước vào sân khấu, sự tan biến của những tiếng động chiến tranh gây nên một sự ngạc nhiên sâu sắc. Mắc Ruyte nói về "sự im lặng mênh mông tiếp theo sau trận đánh đầy ấn tượng mạnh mẽ". Clốt Xecgiăng nói về “sự kinh hoàng khi phải chìm đi trong cái im lặng bất ngờ đang đè lên chúng ta sau những ngày và đêm đầy tiếng động". Rô be Salaun thì đảm bảo rằng "sự im lặng trùm lên vừa đầy ấn tượng vừa xa lạ". Ở sở chỉ huy của Lăngle, đại úy Lơpagiơ: "Cái đánh vào chúng ta là sự im lặng. 56 ngày nay, chúng ta sống trong sự ồn ào náo động, bỗng dưng, chẳng còn gì nữa?". Với trung úy Anle vừa sang bên hữu ngạn "sự im lặng đang ngự trị ở trong thung lũng vốn là inh tai". “Cách các cứ điểm Êlian không xa lắm, bộ đội Việt Minh đã phản ứng một cách phấn khởi về cuộc đơn phương ngừng bắn. Họ biết được nhờ nghe lỏm rađiô hay là việc pháo GONO ngừng bắn làm họ cảm thấy chiến thắng sắp đến với họ? Tay luôn bị trói, đại úy Brăngđông được một sĩ quan nói tiếng Pháp rất trau chuốt hỏi cung. Đó là một người quen cũ, đơn vị của sĩ quan này đã chạm súng với đại đội Brăngđông - và đã gây cho ông những tổn thất nặng nề vào tháng 12- 1953, trong
382 vụ Mường Pồn. Người ấy đòi tù binh của mình chỉ cho con đường ngắn nhất để đi đến sở chỉ huy của tướng Đờ Caxtơri. Úi già, Brăngđông chẳng biết gì cả “khoảng 17 giờ - 17 giờ 30 ông viết, những đoàn bộ đội Việt Minh tiến về Điện Biên Phủ, tiếng reo hò vang lên từ các hàng quân cửa họ, về sau tôi mới biết là phân khu trung tâm đã ngừng chiến đấu” . Những câu chuyện khác cũng xác nhận câu chuyện của Brăngđông. Bị bắt làm tù binh vào những giờ đầu tiên trong ngày và bị thương ở chân - anh bị khập khiễng nhưng vẫn đi được, trung sĩ nhất Mênagiơ lúc đầu bị nhốt trong một lô cốt với những người hấp hối và những người chết. Đến rạng sáng, bộ đội Việt Minh rời đi và Mênagiơ lợi dụng cơ hội để cố tìm về với những người của tiểu đoàn 6. Đến một khuỷu hào anh đụng vào một tiểu đội Việt Minh đang ngồi xổm trên bờ hào theo kiểu người Việt Nam. Thấy anh không có súng, chân bị băng, họ không tỏ ý chống lại và bảo anh ngồi bên cạnh họ. Mênagiơ xin nước uống nhưng bi đông của họ đã rỗng. “Tôi ngồi như vậy đến 16 - 17 giờ, anh nói, rồi nghe những tiếng reo hò rất lớn vang lên tiếp theo sau đó là sự im lặng đầy ấn tượng. Chẳng còn những tiếng nổ, chẳng còn bắn nhau. Các Việt Minh “của tôi" nhảy lên vì vui sướng và bảo tôi: Đi mau lên, đến chỗ Hồ Chí Minh, rất tốt, rất tốt!" Tôi leo lên bờ hào, một đoàn tù binh đang tiến về phía Đôminíc. Người ta dẫn tôi đến với đoàn và tôi lại có vận may lạ lùng là được gặp lại cậu bạn ở tiểu đoàn 6: Rinhắc, Xôtôrô và hạ sĩ nhất Mácxông, họ giúp tôi bước đi..” Ở Đôminíc 2, đại úy Clêđíc vẫn luôn luôn bị trói, ông phát hiện "những công trình phi thường và một lối vào được ngụy trang dẫn vào dưới lòng đất". "Chúng tôi đang ở đó, ông nói, thì một tiếng reo hò từ phía ngoài vang đến và được các sĩ quan Việt Minh đứng quanh chúng tôi nhắc lại cho chúng tôi biết là tập đoàn cứ điểm đã sụp đổ. Tiếng reo hò tác động vào Mác xen Clêđíc như một quả truỳ: "Tôi rời rạc chân tay, hoàn toàn suy sụp (mất ngủ) và nhất là về tinh thần, bởi vì cho đến giờ phút cuối cùng ở Êlian 4, chúng tôi vẫn tưởng rằng có thể thoát ra được”. Môrít Đuyten, một trong các sĩ quan của Clêđíc mặt bị nhiều mảnh đạn nhỏ, đến trạm cấp cứu để được băng bó. Nhiều thân thể không hồn ùn lại trước lối vào của sở chỉ huy để chờ chôn cất. Thấy anh, Brêsinhắc nói: "Anh bị thương. Anh đứng vào chỗ cuối". Đuyten vâng lệnh, sửng sốt nhìn trung úy Giăccơ Abađi hình như hóa điên anh phá hủy các hồ sơ sau khi ra lệnh phá vỡ các trạm rađiô. "Brêsơ"
383 sau đó đã cử một trung sĩ người Việt đến trước Việt Minh để nói với họ rằng không cần ném lựu đạn. “Bộ đội Việt Minh bảo những người có thể đi được ra ngoài, Đuyten kể, chúng tôi đi theo đường hào của ta rồi vào đường hào của họ trước khi đến phía trong cùng của một thung lũng, ở đó có nhiều người của họ bị thương. Chúng tôi ở lại đó cho đến lúc Việt Minh vui sướng reo lên. Tôi hiểu rằng thế là hết và sự im lặng đột ngột đã làm cho tôi hoàn toàn đờ đẫn”. Bộ đội Việt Minh đến như một đợt triều dâng ở Điện Biên Phủ. Những tốp lẻ, ngày càng đông, tập hợp lại trên vị trí giống như một ngôi làng bị một dòng bùn chảy phủ lên. Gần những khẩu trọng liên bốn nòng đã bị phá hủy mà phía sau chúng là cả một núi vỏ đạn 12 li 7, trung úy Rơđông đã cất lon đi và những Việt Minh đầu tiên, anh thấy có vẻ "rách rưới". Người ta cũng có thể nói như vậy với nhiều chiến binh GONO. Cầm một khẩu súng Môde, có cắm lưỡi lê một "bộ đội” thúc anh đi qua sông. "Chẳng người nào muốn lục soát tôi" viên sĩ quan ngạc nhiên. Ở trạm quân cảnh của chỉ huy trưởng quân cảnh Xalaun: “Họ kiểm tra từng hầm, từng hào, một cách có phương pháp. Họ bắt những người ở trong đó đi ra, nếu không chủ động đi ra và dẫn đến cầu Bai lây (cầu Mường Thanh) và cả đi về phía Bắc, theo đường mòn Pa vi. Tôi đợi họ ở ngoài và tôi muốn vào lại để lấy các hồ sơ của các lính quân cảnh Ácnon bị giết ở Êlian 2 và Xăngxuy đang nằm bệnh xá trong một căn hầm nhưng họ không cho vào nữa”. Anle không có thời gian để đến sở chỉ huy của Biga: “Họ như một đàn ong, lặng lẽ, hiệu quả. Tôi quyết định phá hủy rađiô của tôi và chờ đợi. Họ nói với nhau như tuồng không có chúng tôi, nhưng đột nhiên có một bộ đội đe tôi bằng chiếc lưỡi lê cắm ở đầu ở một khẩu súng nặng hơn anh ta. Tôi hỏi một người Việt của chúng ta về nguyên nhân của việc bực bội đó. “Họ nói anh phải vứt súng lục đi!" Tôi hoàn toàn quên khuấy vũ khí mà tôi còn mang, lấy được của một người Đức trong thời kỳ giải phóng và tôi đeo thắt lưng. Lúc đó tai tôi vang lên những từ mà hằng ngày trong thời gian bị bắt làm tù binh tôi vẫn nghe: “Đi đi, mau lên!”. Đại úy Kruymenắckê thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 đã “sửng sốt vế việc
384 quân địch đã mau lẹ bám chắc vào khu vực trung tâm và tổ chức việc sơ tán những người chiến bại: Không có hành động thô bạo, cho phép tù binh cầm một túi dết đựng những đồ dùng vệ sinh và sau đó "Đi đi mau lên" về phía cầu sông Nậm Rốm". "Krum" cho rằng mình thuộc “sức khỏe loại 2" và chỉ bước đi với một ý nghĩ trong đầu: Dừng lại và ngủ. Phó của ông, trung úy Giêrácđanh, cánh tay bó bột và một mảnh đạn dưới xương bánh chè đã hơn một tháng nay đang ở trong hầm thì trung sĩ Giăngsépski đến báo tin ngừng chiến. Viên sĩ quan giao cho anh khẩu cácbin của mình với nhiệm vụ phân tán rải rác các bộ phận của súng: “Bộ đội Việt Minh đã vào sau đó, họ rất bận rộn nhưng không bị kích động. Thấy tôi bị thương, họ bảo tôi ra, không có hành động bạo lực, chúng để cho tôi có thời gian lấy một số đồ dùng tối thiểu. Mặc quần soóc và đi chân không, cánh tay đeo băng, tôi bước thấp bước cao với một tốp tù binh bị thương”. Ở các cứ điểm Clôđin, đại úy Biêngvô nhận xét "một cơn gió nhỏ lo lắng đã thổi đến, đặc biệt ở những người Ma rốc và những người Việt" rồi những Việt Minh đầu tiên "đã tiếp cận chúng tôi. Có thể có những bàn tay giơ lên và than ôi những mảnh giẻ trắng kín đáo”. Ở Clôđin 3, đại úy Buốcgiơ chăm chú nhìn bộ đội Việt Minh "chân họ đi kiểu giày đánh tenis và miệng hô mau lên, mau lên! vừa thể hiện sự vui mừng và nhất là sự vội vã muốn thấy chúng tôi chuồn đi để họ lục soát nơi ở của chúng tôi". Ở Giuynông, đơn vị người Thái trắng, Đuyluyat vừa đập vỡ rađiô khi những trinh sát Việt Minh lội sang sông. Người phó của ông là trung sĩ nhất Ruvray đi theo một sĩ quan Việt Minh đang hỏi anh về cơ cấu tổ chức Điện Biên Phủ. Tò mò, Đuyluyat hỏi viên sĩ quan không mang phù hiệu cấp bậc gì, có phải là Chính ủy không. Một loạt đạn ngắn của tiểu liên đã bắn gần chân ông ta, để ông ta hiểu rằng sự tò mò của ông là không đúng chỗ. Đuyluyat: “Tôi bị trói cánh khuỷu ở sau lưng và cùng với Ruvray, chúng tôi được một "bộ đội" dẫn đến chỗ lội qua sông rồi áp giải chúng tôi đến tận các quả đồi, chúng tôi qua đêm đầu tiên trong một hầm nhỏ ẩm thấp và tôi có một cảm giác được an ủi - điều làm tôi xấu hổ. Tất nhiên là kẻ chiến bại, là người tù binh nhưng vẫn được sống!” Ở chỗ các lê dương của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, trung úy Uynpát thi hành
385 lệnh của đại úy Capâyrông: “Tôi là người đầu tiên ra khỏi hào và nhanh chóng yên tâm. Việt Minh, khoảng một chục người, đến từ khu vực cầu, quan tâm nhiều hơn đến sở chỉ huy Đờ Caxtơri cách đây gần 100m hơn là đám lê dương không còn vũ khí đang noi theo tôi Khi họ đến đông hơn, họ chỉ cho tôi hướng đông bắc”. Bộ đội Việt Minh vội vã đến bắt Đờ Caxtơri đến nỗi họ đốt cháy giai đoạn, không vào sở chỉ huy Lăngle. Ông này cùng với các sĩ quan của mình đành để thời gian trôi qua: "Một cuộc phi nước đại phóng túng trên đường cái, Lơ Pagiơ ghi lại, vượt qua hầm của chúng tôi đến chỗ tướng Đờ Caxtơri". Đội mũ ca lô đỏ của kỵ binh Spahi, đeo cuống huân huy chương, Caxtơri đứng chờ đợi họ, và tự giới thiệu với một sĩ quan. Một lát sau, người sĩ quan này ngồi vào ghế bành của tướng và hân hoan gọi điện cho cấp trên báo cáo rằng ông ta đang ở sở chỉ huy của GONO. Lơ Pa giơ: “Cuối cùng một bóng người đã xuất hiện trong khung cửa hầm và một lính bộ binh Việt Minh, tiểu liên ngang hông, với cái nhìn long lanh của kẻ chiến thắng, lệnh cho chúng tôi ra khỏi hầm. Với tư thế nghiêm trang, không giơ tay lên, chúng tôi đi ra. Tôi không có gì ngoài bộ quân phục chiến đấu và những tấm ảnh của vợ tôi và con gái tôi. Chúng tôi đi qua những khu vực có nhiều xác chết của cả hai bên. Tôi nhặt một túi dết mà số phận đã đặt lên trên đường tôi đi, nó chứa một mảnh vải lều và một pulôve.” Đại úy Vécđenhan đi ra sau Lơ Pagiơ với một ý nghĩ đã xác định chạy sang hầm bên cạnh lấy chiếc túi để quên ở đó. Không dễ dàng gì vì Việt Minh đứng đầy chung quanh, ngón tay lăm lăm cò súng. Nào với bốn bước chân anh đã làm được: “Tôi mất mười giây và chịu một loạt câu chửi rủa và cả nguy cơ xơi lựu đạn ném xuống đường hầm, nơi tôi nhảy xuống lấy cái túi” . Một trong các đại úy của Biga thấy người Việt Minh đầu tiên của mình trong phòng mổ của trạm giải phẫu. Dùng bàn tay phải để đỡ cánh tay trái của mình, Lơ Buđéc trở lại đặt mình vào hai bàn tay chuyên môn của Ginđrây. Trung sĩ Lơvacsơ đã gây mê cho ông trước khi cố định vết gãy, anh đã để mở các vết thương, được bảo vệ bằng gạc tuyn và băng.
386 Grauuyn lúc đó vào báo là Việt Minh đã đến. Nên đợi họ ở ngoài "để họ khỏi quẳng lựu đạn"? Bao quanh Giônơvievô đờ Gala như là một đội cận vệ và để Lơ Buđéc ở lại trong hơi gây mê, tất cả mọi người leo lên những bậc thang bùn lầy. Grauuyn, Ginđrây và các kíp của họ không đi xa. Một sĩ quan Việt Minh dừng họ lại, họ được phép quay trở lại với người bị thương mà nhiều người đang chờ đợi trong hào dẫn đến trạm để được chăm sóc hoặc để mổ. Bác sĩ Riviê thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, trốn ở chỗ Grauuyn từ buổi sáng, ở lại trong trạm. Tuy nhiên, người chiến thắng đòi được gặp những người bị thương của phía mình bị bắt làm tù binh. Bác sĩ đại úy Vécđaghê thừa nhận rằng: "ông được an ủi nhiều vì Việt Minh đã đến lúc trời còn sáng như vậy góp phần tránh được mọi sự quá trớn. Sự tiếp xúc giữa tôi và họ là rất đúng mực, tôi mang băng chữ thập đỏ và tôi đã được ở lại với những người bị thương của chúng ta”. Ở tiểu đoàn 8 xung kích, trên cứ điểm Êpeiviê "Việt Minh đã đến ở phía trên cầu thang dẫn đến bệnh xá, Patơrit đờ Cácpho biết: Họ thét chúng tôi phải ra nhanh (đi đi, mau lên) nhưng những yêu cầu bắt buộc của họ không mang tính chất khiêu khích. Vừa tập hợp xong, hàng ngũ bé nhỏ của chúng tôi bắt đầu di động và tôi cố đến gần thiếu tá Turê, ông đã có những dấu hiệu kiệt sức”. Các y tá Giêôphrây và Tơrêhiu đi theo bác sĩ. Hai người khác Rivie và Rômiti ở lại với những người bị thương và để giải thích cho sự có mặt của họ, họ làm bó bột ở chân. Ở sở chỉ huy của tiểu đoàn 8, người chiến thắng tỏ ra rất vội vã đến nỗi Turê, Lamuliát và Banpêtơrơ bị bắt buộc bằng vũ lực phải đi ra "đến nỗi, Đêmông phát hiện, họ không kịp mang túi đồ đạc của họ chuẩn bị cho cuộc thoát vây sang Lào". Ở trạm giải phẫu dù số 5, nơi Hanz và Viđan làm việc, Viđan xác nhận rằng "người ta đã cho phép họ ở lại và tiếp tục các ca mổ". Nhân dịp lần đầu được ra ngoài với không khí tự do, Hanz thoạt đầu khám phá ra họ đã khác đi biết bao nhiêu: “Bị mụ đi như tất cả các chiến binh khác, chúng tôi gầy đi hàng chục ki lô, chúng tôi còn mang găng tay vấy máu và bùn nhưng chúng tôi đặc biệt bị choáng vì ánh sáng ban ngày” . Bác sĩ trưởng Lơ Đamany được xếp vào đoàn tù binh đi về phía Bắc. Bác sĩ Prêmiliơ thuộc trung đoàn 4 Marốc và bác sĩ Rôngđy thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, Mađơlen thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc cũng hòa nhập vào đoàn. Rôngđi
387 tức giận phải rời bỏ bệnh xá của mình nhưng anh phải phục tùng vì anh đoán thấy bộ đội Việt Minh sẽ dễ dàng bóp cò. Hai y tá của anh, Ran và Đi Lorengô giải thích cho cái đội tuần tra Việt Minh, được bố trí theo chiến thuật bàn cờ, rằng trong hầm chỉ có những người bị thương nặng và kỳ diệu thay, họ được phép ở lại tại chỗ. Việt Minh không tiến hành một cuộc kiểm tra nào và tiếp tục đi trong lúc những người khác ngày càng đông, xuất hiện trong địa điểm. “Sợ bị ném lựu đạn", trung úy Rúc lê cái bụng leo lên cầu thang để khỏi chạm vào mông đã bị thương và khi một bộ đội Việt Minh dừng lại ở đó, anh ra hiệu là anh không đứng lên được và cố làm cho người đó hiểu rằng còn nhiều người bị thương khác đang ở trong hầm. Anh xin người lính trẻ cho nước uống nhưng cậu lính này không có bi đông. Liều mạng, Rúc giải thích cho cậu lính biết một can nước đầy để ở dưới cầu thang. Cậu ta do dự rồi, kẹp tiểu liên vào nách, xuống tìm can nước quý báu đó. Mười phút sau, Rúc lại gọi một người khác và nói bằng một loại ngôn ngữ pha trộn Pháp - Việt để truyền đạt thông điệp. Anh không thể lê như vậy trên mặt đất, có một cái cáng cách đó 30m có thể giúp ích. Với thái độ ân cần giúp đỡ, người lính Việt Minh đằng sau quay đi lấy cái cáng và đưa về cho Rúc, anh cảm ơn lia lịa: “Họ không có vẻ dữ tợn, viên sĩ quan của tiểu đoàn dù ngoại ghi nhận, nhưng họ cảnh giác và người ta đoán rằng nếu thấy một cử chỉ khả nghi nhỏ nhất thì...". Lưu trữ hồ sơ của ủy ban điều tra ước lượng quân số của Điện Biên Phủ là 10.133 người cho đến ngày 5-5. Một nguồn tin khác nói số tù binh ngày 7-5 - không tính người Việt - là 6.954 (SHAT - 10H319). Trong tổng số này phải tính 1.444 người bị thương phải sơ tán và 531 người không chọn lọc, tất cả khoảng 2000 người bị thương. Một tài liệu khác (Chú thích: Thông tri số 5688/BT của Giám đốc Sở y tế đề ngày 8-5 (SHAT - Bìa 10H2015). Theo đại úy Ghighen thuộc Cục tù binh, quân số ở Điện Biên Phủ lúc ngừng bắn là 7.481 chiến binh của Liên hiệp Pháp và 2.308 chiến binh bản địa, tổng cộng 9.789 người (nghiên cứu ngày 2-7-1954. SHAT - Bìa 10H314).) rút các con số đó xuống 1310 người bị thương phải sơ tán trong đó 820 người ngồi và 490 người nằm nhưng nhiều người bị thương không được xếp vào loại "phải sơ tán". Chúng ta nói thêm là trong các cuộc chiến đấu cuối cùng tại Clôđin 5 và các Êlian một nửa ngàn chiến binh đã biến mất trong bảng quân số. Những người bị thương của Êlian 10 và Êlian 4, những người mất tích bị chôn vùi vì pháo kích và vụ nổ mìn trước cuộc xung phong vào Êlian 2 không được biết đến. Số tù binh của các Êlian cũng vậy. Sau khi sàng lọc - theo sự ngẫu nhiên may rủi - những người bị thương không đi được còn ở lại địa điểm và những người có thể và phải đi, người chiến thắng tổ
388 chức tù binh đi thành hàng. Đi đi, mau lên? Một hàng đầu tiên đã dài từ hai đến ba kilômét và không ngừng dài thêm, bị những người bị thương và người què không đi theo kịp, làm cho chậm lại. “Hai chân tôi không muốn mang tôi nữa, thiếu úy Anle than vãn. Gánh nặng của sự mệt nhọc đã quá lớn, của sự nhục nhã cũng vậy. Sự căng thẳng thần kinh đã từng trợ lực tôi nhường chỗ cho một sự sút giảm về thể lực không thể kiểm soát nổi nữa. Người "bạn dây chuyền" của anh, thiếu úy Herô, nhớ lại rằng “các cuộc tiếp xúc đầu tiên với Việt Minh nói chung là câm, những người chiến thắng dùng cử chỉ điệu bộ để làm cho người ta hiểu mình. Chúng tôi tất cả đều mệt lử, đều bị thương nhiều lần, không ngủ quá hai tiếng liên tục từ nhiều ngày nay”. Các sĩ quan của Lăngle làm thành một khối chung quanh ông khi ông đã có những dấu hiệu của sự mệt nhọc. Đại úy Vécđenhan "bước lên trên những hố đạn, vượt qua những đường hào bị đảo lộn, những hệ thống rào bị phá rách nát và đến các cứ điểm Êlian mà cảnh tượng thật là kỳ lạ như một ảo ảnh: các đường hào đầy xác người bốc lên một mùi kinh sợ dưới ánh nắng mặt trời. Cuối cùng, người ta đã ra ngoài khu vực của tập đoàn cứ điểm, ở vùng của Việt Minh. Trong lúc người ta rời xa Điện Biên Phủ thì các máy bay Đacôta vẫn tiếp tục thả dù thuốc men và lương thực...” . Trung úy Rắcca ngoái đầu lại, anh nhìn thấy "một đoàn dài hùng vĩ mà thảm hại của các đồng đội anh với nét mặt hốc hác, trang phục cũ nát, đây đó có những người quấn đầy băng hoặc chống gậy đi khập khiễng ... Một số sĩ quan đã thể hiện nội tâm trong đáy sâu thẳm của lòng mình tấm thảm kịch tập thể hoặc cá nhân mà họ đang sống, chân bước đi rã rời, mắt nhìn tuyệt vọng.. " . Ở cứ điểm Giuynông, lính lê dương của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 và tiểu đoàn Clêmăngxô tập hợp đằng sau cán bộ của họ, lê giầy đi về phía Êlian 2, đi phía trước họ là lính bộ binh tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc. “Những tiếng động duy nhất nghe được là lệnh của bộ đội Việt Minh thôi thúc người bị bắt ra khỏi các địa điểm, đại úy Philíp nói thêm. Chúng tôi rời đi lúc 18 giờ để vượt qua sông Nậm Rốm ở ngang tầm Êlian 3, tiếp đến là cuộc leo lên Êlian 2. Khi đi qua, chúng tôi kéo từ đống đổ nát ra một sĩ quan của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa nhưng anh bị thương nặng không thể đi theo chúng tôi và Việt Minh bảo để anh lại”. Bị thương ở bụng trong các cuộc chiến đấu ban đêm, trung úy Guyliên thuộc đại
389 đội Pugiê vào ẩn trong một căn hầm, một quả đạn nổ sập hầm đè lên người anh. Nếu như có mang anh đến trạm giải phẫu gần nhất - với sự đồng ý của Việt Minh - thì cũng đã là quá muộn. Anh bị vùi đã hơn mười hai giờ rồi và các vết thương ở bụng là những vết tử thương. (Chú thích: Sinh năm 1920, Andrê Giuyliên phục vụ trong lực lượng nội địa Pháp tháng 9-1944 và nhập ngũ tháng 10. Thiếu úy (dự bị) ở trung đoàn bộ binh 95, rồi sĩ quan thể thao trung đoàn bộ binh 110. Có bằng nhảy dù. Thiếu úy ngạch thường trực tháng 2-1948, lấy Baryron Mitxơ, có ba con. Năm 1950 ở tiểu đoàn xung kích 11. Được cử đi Đông Dương, lên tàu tháng 7-1953. Được cử về tiểu đoàn 1 dù thuộc địa. Nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 5-5-1954. Bị tử thương ngày 7-5-1954.) Các pháo thủ Caban và Côngbơ đi một đoạn đường với trung úy Savina mà tinh thần không được sáng sủa lắm. Bị bắt làm tù binh ở Đức từ năm 1941-1945, Lui Savina trở nên chán nản khi nghĩ đến việc lại phải đi tù lần nữa. Cả ba sĩ quan cùng một ý nghĩ đối với trung úy Bruynbrúc khi đi qua vị trí cũ của anh còn rải rác những mảnh thân người "tỏa lên một mùi kinh sợ". Xa hơn một chút, họ đi qua một cuộc tập hợp sĩ quan cao cấp, trong đó nổi lên chiếc mũ canô đỏ của tướng Đờ Caxtơri. Cây cối làm họ ngạc nhiên, tưởng như trước đó họ chỉ biết bùn lầy của hầm hào. Những tiếng chim hót đầu tiên được nghe thực là một niềm hạnh phúc, các tù binh dừng lại nghe tiếng chim, dầu chỉ là những tiếng ríu ran nho nhỏ. Nhưng bộ đội Việt Minh đã giục giã họ tiếp tục lên đường. Cuộc tái ngộ với thiên nhiên đã đem sức mạnh đến cho sự yên lặng: “Chẳng ai ba hoa cả, đại úy Côngbơ nhận xét. Sự tương phản với những gì chúng tôi vừa sống đã tạo ra trong