Danh Sách Của Schindler

phần vào những thảm kịch chốn văn

phần vào những thảm kịch chốn văn

phần vào những thảm kịch chốn văn phòng ấy, chẳng ai có thể nói rằng anh sống cuộc đời được bảo bọc ở Płaszów. Nhưng nó vẫn ít hiểm nguy hơn ý trung nhân của anh. Rebecca Tannenbaum là một cô bé mồ côi, dù trong cộng đồng Do Thái nặng tình máu mủ ở Cracow, cô không thiếu những ông bác bà dì tốt bụng. Cô mười chín, gương mặt ưa nhìn, thân hình gọn ghẽ. Cô nói thạo tiếng Đức và có nết chuyện trò nhã nhặn, ôn nhu. Gần đây cô bắt đầu làm việc trong văn phòng của Stern sau Tòa nhà Quản trị, tức là ngoài vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những cơn điên của viên Commandant. Song công việc tại Phòng Xây dựng chỉ là phân nửa chức trách của cô. Cô là thợ sửa móng tay. Hằng tuần cô phải săn sóc Amon; cô phải chăm lo đôi tay của Untersturmführer Leo John, của bác sĩ Blancke lẫn nhân tình, ả Alice Orlowski cay nghiệt. Cầm bàn tay Amon, cô thấy chúng thon dài và cân đối, ngón tay búp măng - tuyệt không phải tay một người béo phì; càng không phải một kẻ man rợ. Lần đầu tiên khi một bạn tù đến tìm cô và bảo Herr Commandant cho gọi cô, cô đã cắm đầu bỏ chạy qua những dãy bàn, xuống cầu thang. Người tù nọ vừa đuổi theo vừa kêu, “Lạy Chúa, đừng mà! Cô mà không đi thì tôi chết với hắn mất.” Thế là cô theo anh về biệt thự của Goeth. Nhưng trước khi vào phòng khách, cô rẽ vào căn hầm hôi hám - tại dinh cơ đầu tiên

của Goeth, được đào ăn vào một nghĩa trang Do Thái cổ. Dưới tầng đất nghĩa trang này Helen Hirsch bạn cô đang săn sóc những vết bầm. Cậu phiền phức rồi, Helen công nhận. Thôi cứ làm xem sao. Cũng chả còn cách nào. Có người hắn vừa lòng vì tác phong chuyên nghiệp, có người lại không. Và khi nào cậu đến tớ sẽ cho cậu bánh và xúc xích. Nhưng đừng tự tiện lấy thức ăn; nhớ hỏi tớ trước. Có những người lấy mà không hỏi, về sau tớ chẳng biết lấy gì mà bù vào. Amon chấp nhận tác phong chuyên nghiệp của Rebecca, chìa tay ra và nói chuyện bằng tiếng Đức. Tưởng như đây lại là khách sạn Cracovia, và Amon là tay tài phiệt người Đức trẻ trung béo tốt, sơ mi hồ cứng, đến Cracow bán vải vóc, sắt thép hoặc hóa chất. Tuy nhiên, có hai yếu tố làm giảm giá trị của không khí thân mật xa xưa ở những lần hội ngộ này. Viên Commandant luôn kê khẩu súng ngắn ổ quay dưới khuỷu tay, và một trong hai con chó thường xuyên ngủ trong phòng khách. Cô đã chứng kiến cảnh chúng, trên Appellplatz, cắn xé kỹ sư Karp. Nhưng có đôi lúc, khi lũ chó khụt khịt trong giấc ngủ, còn cô và Amon trao đổi hồi ức về những lần nghỉ dưỡng ở suối nước khoáng Carlsbad trước chiến tranh, những nỗi kinh hoàng vào giờ điểm danh bỗng xa xôi đến hoang đường. Một ngày, cô thấy đủ tự tin để hỏi vì sao gã luôn giữ khẩu súng dưới khuỷu tay. Câu trả lời làm cô, đang cúi đầu tỉa tót tay gã, lạnh buốt sống lưng. “Để nhỡ cô cắt vào tay ta,” gã nói. Nếu có bao giờ cần bằng chứng rằng với Amon tán gẫu về suối khoáng cũng chẳng khác gì một hành động điên cuồng, cô sẽ nhận được nó cái lần cô vào sảnh và thấy gã nắm tóc Helen Hirsch lôi ra từ phòng khách - Helen cố giữ thăng bằng và giữ mái tóc nâu đỏ khỏi đứt tận chân; còn Amon, nếu có tuột tay giây lát thì cũng siết lại ngay bằng bàn tay đồ sộ được săn sóc kỹ càng. Vào buổi tối cô sẽ có thêm bằng chứng khi bước vào phòng khách và một con chó - Rolf hoặc Ralf - xuất hiện, lao bổ vào cô, đè cô

xuống và chực táp vào ngực cô. Cô nhìn quanh và thấy Amon nằm ườn trên sofa, cười cợt. “Đừng có run, đồ ngốc,” gã nói, “không thì ta cũng chả cứu nổi cô đâu.” Trong giai đoạn cô chăm sóc viên Commandant, gã sẽ bắn cậu bé đánh giày vì làm ăn tắc trách; treo cổ cậu cần vụ mười lăm tuổi, Poldek Deresiewicz, lên vòng sắt ở phòng làm việc do chó của gã có một con rận; xử tử cậu đầy tớ Lisiek vì cho Bosch mượn xe ngựa mà không xin phép. Thế nhưng hai lần một tuần, cô bé mồ côi xinh đẹp vẫn đến phòng khách và bình thản đón nhận bàn tay con quái vật. Cô gặp Josef Bau một sớm ảm đạm khi anh đứng ngoài Bauleitung, giơ bản vẽ lên dưới một bóng mây thu la đà. Thân hình mảnh khảnh của anh như trĩu xuống dưới sức nặng của cái khung. Cô hỏi anh có cần giúp không. “Không,” anh đáp. “Tôi chỉ đang chờ ánh nắng thôi.” “Tại sao?” Cô hỏi. Anh giải thích rằng bản vẽ tòa nhà mới trên giấy trong suốt được ép trong khung, chồng lên một lớp giấy xanh nhạy sáng. Nếu ánh nắng mạnh hơn, anh nói, một phản ứng hóa học huyền bí sẽ chuyển bản vẽ từ lớp giấy trong suốt sang lớp giấy xanh. Rồi anh tiếp, “Sao em không làm tia nắng diệu kỳ của tôi nhỉ?” Ở Płaszów, các thiếu nữ không quen được con trai mơn trớn. Ở đây, tính dục chịu sức ép khắc nghiệt của những tràng súng trên Chujowa Górka, bãi hành quyết trên Appellplatz. Hãy tưởng tượng một ngày, khi nhóm công nhân từ nhà máy cáp trên Wieliczka trở về bị phát hiện giấu theo một con gà. Amon quát tháo ở Appellplatz, do lính gác khi lục soát ngẫu nhiên đã phát hiện ra con gà giấu trong túi vứt trước cổng trại. Túi đấy của ai? Amon tra khảo. Gà của ai? Vì không ai ở Appellplatz chịu khai gì, Amon giằng súng trường của một tên lính và bắn người tù đứng đầu hàng. Đạn xuyên qua anh ta, hạ gục cả người đứng sau. Vẫn không ai khai gì. “Các người yêu nhau quá nhỉ!” Amon gầm lên, chuẩn bị bắn người tiếp theo. Một cậu bé mười bốn bước ra khỏi

hàng. Cậu vừa run vừa khóc. Cậu biết ai mang con gà về, cậu bảo viên Commandant. “Ai nào?” Câu trỏ một trong hai người chết. “Anh này!” cậu thốt. Amon khiến cả Appellplatz bất ngờ khi tin lời cậu bé, ngửa đầu ra sau với nụ cười hoài nghi ưa thích của giáo viên dành cho học trò. Cái giống người này… chẳng lẽ đến giờ chúng chưa hiểu tại sao tất cả lại bị trừng phạt? Sau một tối như thế, trong giờ sinh hoạt tự do từ bảy đến chín giờ, hầu hết tù nhân cảm thấy không có thời gian mà thư thả tán tỉnh nhau. Rận giày vò nơi háng và nách họ như chế nhạo những nghi thức yêu đương. Nam thanh thản nhiên đè nữ tú. Trong trại nữ, họ hát bài ca hỏi tại sao cô gái đồng trinh lại mua dây buộc mình, định giữ cái ngàn vàng để cho ai? Tình hình ở Emalia không bi đát đến thế. Những hốc riêng tư được bố trí giữa dãy máy móc trong xưởng tráng men, để các đôi tình nhân bên nhau được lâu hơn. Sự phân biệt tại khu lán đông đúc này chỉ trên lý thuyết. Vắng nỗi sợ hãi thường trực và khẩu phần bánh mì đầy đặn giúp họ đỡ yêu cuồng sống vội hơn. Chưa kể Oskar vẫn kiên quyết không cho lính SS tự tiện vào trong trại. Một người tù kể rằng, Oskar cho lắp hệ thống báo động để đề phòng có sĩ quan SS đòi vào trong trại. Khi tên SS đang trên đường vào, Oskar chỉ cần nhấn nút nối với chuông báo động dưới trại. Bà con trước tiên sẽ dập hết thuốc lá lậu họ nhận mỗi ngày từ Oskar. (“Chạy lên nhà,” hầu như ngày nào ông cũng bảo một tù nhân như vậy, “lấy thuốc đầy cái hộp này cho tôi.” Và nháy mắt đầy lộ liễu.) Và tiếng chuông còn đánh động để tù nhân nhanh chóng trở về giường họ. Thế nên Rebecca gần như choáng váng, như hồi tưởng lại một nét văn hóa đã tiêu vong, khi gặp giữa Płaszów một chàng trai buông lời ong bướm như thể gặp cô tại một tiệm bánh trên Rynek. Một sớm khác, khi cô từ văn phòng của Stern đi xuống, Josepf

dắt cô vào xem bàn làm việc của anh. Anh đang vẽ thêm lán mới. Em ở lán mấy, và Alteste (63) ở lán em là ai? Cô trả lời anh với vẻ ngần ngừ đúng phép. Cô từng chứng kiến Helen Hirsch bị nắm tóc lôi dọc hành lang, và cô sẽ chết nếu nhỡ cắt vào đầu ngón tay Amon. Thế nhưng chàng trai này đã cho cô lại được e lệ, được làm con gái. Anh sẽ nói chuyện với mẹ em, Josef hứa. Em không còn mẹ, Rebecca đáp. Thế thì anh sẽ thưa chuyện với Alteste. Họ bắt đầu tìm hiểu nhau như thế - sau khi xin phép trưởng bối, và như thể trong tay có bất tận không gian và vô tận thời gian (64) . Vì anh là bậc quân tử một niềm thủ lễ, họ không hôn nhau. Lần đầu họ ôm nhau thật sự chính là dưới mái nhà Amon. Đó là sau một buổi cắt tỉa móng tay. Rebecca xin Helen nước nóng và xà phòng rồi trốn lên tầng trên cùng, đang bỏ trống chờ cải tạo, để giặt áo khoác và đồ lót. Chậu giặt của cô là cái cặp lồng. Ngày mai cô sẽ cần đến nó để đựng xúp. Cô đang mải miết với cái xô nhỏ đầy bọt xà phòng thì Josef xuất hiện. Sao anh lại ở đây? cô hỏi. Anh lên đo phòng ốc để làm bản vẽ chuẩn bị cải tạo, anh đáp. Còn em, sao lại lên đây? Anh thấy rồi còn gì. Mà anh nói khẽ thôi. Anh phất phới lượn quanh phòng, xập xòe cuộn thước đo tường và phào. Anh làm cẩn thận vào, cô quở, lo lắng vì biết tính ưa chính xác của Amon. Nhân tiện ở đây, anh bảo, để anh đo em luôn thể. Anh chạy thước dọc tay cô, đi từ gáy xuống thắt lưng cô. Cô không cưỡng lại khi ngón tay anh chạm vào cô, đánh dấu từng số đo của cô. Nhưng khi đã ôm nhau trọn vẹn được một lúc, cô giục anh đi. Đây không phải chỗ cho một buổi chiều lười biếng. Tại Płaszów còn nhiều cuộc tình tuyệt vọng khác, của cả SS, nhưng tất cả đều kém bề tươi sáng, nếu so với mối tình hết sức chuẩn mực giữa Josef Bau với cô gái sửa móng tay. Chẳng hạn, Oberscharführer Albert Hujar, kẻ hạ sát bác sĩ Rosalia Blau ở

ghetto và Diana Reiter trong vụ sập móng trại lính, cũng phải lòng một nữ tù Do Thái. Con gái Madritsch đem lòng yêu một cậu trai Do Thái ở ghetto Tarnow - tất nhiên, cậu làm việc cho nhà máy của Madritsch ở đây cho đến khi chuyên gia giải thể ghetto Amon được điều đến vào cuối hè để đóng cửa Tarnow như gã từng làm với Cracow. Giờ cậu đã chuyển sang nhà máy của Madritsch trong Płaszów; cô gái có thể đến đây thăm cậu. Nhưng chuyện của họ không có tương lai. Tù nhân cũng có chỗ cho các đôi tình nhân và vợ chồng gặp gỡ. Nhưng tất cả - luật lệ của Đế chế lẫn quy tắc kỳ lạ của tù nhân - đều ngăn trở cuộc tình giữa Fraulein Madritsch và chàng trai trẻ. Tương tự, Raimund Titsch trung hậu cũng đã phải lòng một nữ thợ máy. Đây cũng là một cuộc tình ôn nhu, thầm kín và khó bề trọn vẹn. Còn về phần Oberscharführer Hujar, đích thân Amon đã lệnh cho gã chấm dứt trò hề ấy. Vậy là Albert đưa cô gái đi dạo trong rừng, và trong niềm hối tiếc đầy trìu mến, dành cho cô một viên đạn vào sau gáy. Thần chết dường như luôn lởn vởn quanh những mối tình SS. Henry Rosner, nghệ sĩ violin, và em trai Leopold, nghệ sĩ accordion, rải rắc những giai điệu thành Vienna quanh bàn ăn tối của Goeth, biết rõ điều ấy. Tối nọ, một sĩ quan Waffen SS cao gầy tóc hoa râm đến ăn tối ở nhà Amon, và sau khi uống khá rượu, liên tục đòi anh em Rosner chơi nhạc phẩm Hungary “Chủ nhật buồn”. Bài ca là sự tuôn trào cảm xúc của một chàng trai sắp tự tử vì tình. Cảm xúc cực đoan ấy chính là thứ, Henry để ý thấy, lôi cuốn lính SS mỗi lúc nghỉ ngơi. Kỳ thực, từ những năm ba mươi, bài hát đã gặp nhiều tai tiếng - chính quyền Hungary, Ba Lan và Czechoslovakia xem xét cấm phổ biến bởi xem nó là căn nguyên của một làn sóng tự tử vì thất tình. Thanh niên đôi khi vẫn trích lời bài hát trong thư tuyệt mệnh trước khi gí súng vào đầu và bóp cò. Từ lâu, nó đã bị Phòng Tuyên truyền của Đế chế cấm lưu hành. Giờ đây, vị khách cao lớn, lịch lãm nọ, con cái nếu có cũng đến

tuổi thiếu niên và cũng đang ngây ngất trong thứ tình yêu mới lớn, liên tục đề nghị anh em nhà Rosner chơi bài “Chủ nhật buồn”. Và dù điều này bị tiến sĩ Goebbels nghiêm cấm, chẳng ai ở miền Nam Ba Lan xa xôi này lại định tranh cãi với một sĩ quan SS ôm hồi ức đau thương về một cuộc tình. Sau khi vị khách yêu cầu bài hát bốn năm lần, một ý tưởng kỳ dị chiếm lĩnh đầu óc Henry. Trong nguồn gốc nguyên thủy của nó, âm nhạc luôn có ma thuật. Và không ai ở châu Âu hiểu rõ quyền năng của vĩ cầm hơn một nghệ sĩ Do Thái Cracow như Henry, người xuất thân từ một gia tộc nơi âm nhạc là sản phẩm của di truyền hơn là giáo dục, cũng như vị trí cohen, hay giáo sĩ truyền thừa. Khi ấy Henry chợt nhận ra, và như sau này anh kể lại - “Lạy Chúa, ví thử ta có quyền năng, biết đâu thằng chó chết này sẽ tự sát.” Bài hát cấm kỵ đã trở nên hợp pháp trong phòng ăn của Amon sau nhiều lần trình diễn; và nay Henry tuyên chiến với nó, Leopold song tấu cùng anh, vững dạ vì ánh mắt u uẩn gần như cảm kích viên sĩ quan đẹp trai dành cho họ. Henry toát mồ hôi, cảm thấy việc mình cò cưa tên SS đến với cái chết quá đỗi lộ liễu và bất kỳ lúc nào Amon cũng có thể phát hiện và lôi anh ra ngoài hành quyết. Về màn trình diễn của Henry, ta không nên hỏi anh chơi hay hay dở. Anh chơi như lên đồng. Có duy nhất một người, viên sĩ quan, là nhận thấy, hưởng ứng, và, giữa trận huyên náo say sưa của Bosch và Scherner, Czurda và Amon, tiếp tục từ chỗ mình nhìn thẳng vào mắt Henry, như sẽ bật dậy bất kỳ lúc nào và nói, “Tất nhiên, thưa quý vị. Anh bạn nhạc công violin hoàn toàn đúng. Không lý gì ta phải chịu đựng mãi nỗi đau này.” Anh em Rosner tiếp tục lặp lại bài hát đến độ Amon ngày thường sẽ phải quát lên, “Đủ rồi!” Rốt cuộc vị khách đứng dậy bỏ ra ban công. Henry biết mình đã làm xong tất cả những gì có thể. Họ chuyển sang chơi von Suppé và Lehar, xóa dấu vết bằng một khúc operetta nồng đậm. Vị khách vẫn đứng một mình ngoài ban

công và nửa giờ sau làm gián đoạn cuộc vui bằng cách tự bắn vào đầu mình. Tình dục ở Płaszów là thế. Chấy rận và hối hả bên trong rào thép gai; chết chóc và điên dại rình mò lân cận. Giữa khung cảnh ấy, Josef Bau và Rebecca Tannenbaum theo đuổi điệu nghi vũ của ái tình. * Mùa tuyết năm ấy Płaszów trải qua một thay đổi về danh phận ảnh hưởng tới mọi cặp tình nhân sau hàng rào. Vào đầu tháng Một năm 1944, nơi này được biên chế thành Konzentrationslager (Trại Tập trung) dưới quyền Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS của tướng Oswald Pohl ở Oranienburg, ngoại ô Berlin. Các trại con của Płaszów - như Emalia của Schindler - nay cũng do Oranienburg quản lý. Các trùm cảnh sát, Scherner và Czurda, mất quyền điều hành trực tiếp. Lệ phí thuê lao động tù nhân của Oskar và Madritsch không nộp cho phố Pomorska nữa, mà đi lên văn phòng của tướng Richard Glücks, Cục trưởng Cục D (phụ trách trại tập trung) của Pohl. Nếu muốn được ưu ái, giờ Oskar không chỉ phải đến Płaszów phỉnh phờ Amon, không chỉ phải khoản đãi Julian Scherner, mà còn phải tiếp cận một số nhân vật trong bộ máy hành chính đồ sộ của Oranienburg. Oskar sớm tranh thủ cơ hội lên Berlin gặp gỡ những người sẽ phụ trách hồ sơ của ông. Khởi đầu Oranienburg cũng là trại tập trung. Giờ nó đã bành trướng ra thành một chuỗi doanh trại hành chính. Văn phòng Cục D điều phối mọi mặt đời sống và cái chết của tù nhân. Cục trưởng, Richard Glücks, còn chịu trách nhiệm, trên cơ sở tham khảo Pohl, xác lập sự cân bằng giữa số lao động với ứng viên cho phòng hơi ngạt, cho phương trình với X là số lao động khổ sai còn Y là số người đoản mệnh hơn. Glücks thiết lập quy trình cho mọi tình huống, và từ chỗ у trút xuống cơn mưa chỉ thị soạn thảo bằng bộ từ vựng gây tê liệt của người lên kế hoạch, kẻ nhào nặn văn bản, tay chuyên gia

khách quan. Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS Cục trưởng Cục D (Trại tập trung) D1-AZ: 14fl-Ot-S GEH TGB NO 453-44 Gửi Commandant của các Trại tập trung Da, Sah, Bu, Mau, Slo, Neu, AuI-III, Gr-Ro, Natz, Stu, Rav, Herz, A-L-Bels, Gruppenl. D. Riga, Gruppenl. D. Cracow (Płaszów). Số tờ trình của các Commandant kiến nghị phạt roi với các vụ phá hoại của tù nhân trong các ngành sản xuất phục vụ chiến tranh đang gia tăng. Tôi đề nghị thời gian tới với mọi vụ phá hoại có chứng cứ rõ ràng (có báo cáo của ban quản lý gửi kèm), trại phải kiến nghị án tử hình treo cổ. Án tử hình phải được thực thi trước sự chứng kiến của toàn bộ thành viên tổ, nhóm lao động liên quan. Lý do tử hình phải được công khai nhằm mục đích răn đe. (đã ký) Obersturmführer SS * Tại tòa pháp đình đáng sợ này, có văn bản quy định tóc tù nhân dài bao nhiêu thì được xem là có giá trị kinh tế để “sản xuất bít tất sợi tóc cho thủy thủ tàu ngầm và ủng lót nỉ tóc cho ngành đường sắt”, lẫn văn bản lập luận xem mỗi trường hợp tử vong có cần tám cơ quan khác nhau lập tờ khai hay chỉ cần một thông báo để đính vào hồ sơ cá nhân ngay sau khi cập nhật thẻ chỉ mục. Herr Oskar Schindler từ Cracow đến nơi này để trao đổi về cơ sở công nghiệp nhỏ bé của mình ở Zablocie. Một nhân vật tầm trung, một cán bộ nhân sự mang hàm sĩ quan, được giao xử lý trường hợp của ông.

Oskar không lấy thế làm phiền. Có nhiều công ty sử dụng tù nhân Do Thái còn lớn hơn ông. Các đại gia như Krupp hayI. G. Farben. Nhà máy cáp tại Płaszów. Walter C. Toebbens, doanh nhân Warsaw, kẻ suýt bị Himmler tống vào Wehrmacht, cũng thuê nhiều nhân công hơn Herr Schindler. Rồi các nhà máy luyện kim tại Stalowa Wola, các xưởng máy bay ở Budzyn và Zakopane, các cơ sở của Steyour-Daimler-Puch bên Radom. Hồ sơ về Emalia nằm trên bàn của tay cán bộ nhân sự. Tôi hy vọng, y nói cụt lủn, ông không định mở rộng quy mô trại. Làm vậy kiểu gì cũng gây ra dịch sốt phát ban. Oskar mau mắn bác bỏ ý tưởng đó. Điều ông quan tâm là tính ổn định lâu dài của nguồn nhân lực. Ông đã thảo luận việc này với một người bạn, đại tá Erich Lange. Cái tên, Oskar nhận thấy, đã tác động đến viên sĩ quan. Oskar đưa ra một bức thư từ viên đại tá cho tay cán bộ đọc. Căn phòng chìm trong im lặng - chỉ có tiếng bút lẹt xẹt, tiếng giấy loạt xoạt, tiếng nói chuyện khẽ khàng, trịnh trọng vang lên ở các phòng bên, như thể chẳng ai biết nơi đây là cốt lõi của một mạng lưới những tiếng kêu gào. Đại tá Lange là người có thế lực, Chánh văn phòng Tổng cục Quân giới thuộc Bộ Tổng tư lệnh ở Berlin. Oskar quen ông ta trong một bữa tiệc tại văn phòng tướng Schindler ở Cracow. Họ có cảm tình với nhau gần như ngay lập tức. Điều này vẫn hay xảy ra ở các bữa tiệc - hai cá nhân cảm nhận được hơi hướng phản kháng chế độ của người kia và rút ra một góc thăm dò nhau trước khi xác lập tình bằng hữu. Erich Lange thấy kinh hoàng trước những trại lao động ở Ba Lan - chẳng hạn các cơ sở củaI. G. Farben, nơi đốc công áp dụng “nhịp điệu lao động” của SS và bắt tù nhân phải chạy khi bốc dỡ xi măng; nơi xác người chết đói, chết gục bị ném xuống hào chôn cáp và phủ xi măng lên trên. “Các ngươi đến đây không phải để sống mà để vùi thây dưới bê tông,” một viên quản đốc tuyên bố với người mới đến. Lange nghe được chuyện này, và choáng váng.

Trước lá thư gửi Oranienburg, Lange đã gọi một số cuộc điện thoại, cả điện và thư đều nhằm thúc đẩy cùng một đề xuất: Herr Schindler, với những bộ đồ ăn cá nhân và đạn chống tăng 45 mm, được Cục đánh giá là có đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc. Ông đã xây dựng được một đội ngũ lao động lành nghề và không gì được phép làm gián đoạn công việc họ đang thực thi dưới sự giám sát của Herr Direktor Schindler. Lá thư tác động mạnh đến tay cán bộ nhân sự. Y sẽ thành thực với Herr Schindler. Hiện không có kế hoạch thay đổi vị thế hay điều chỉnh dân số ở Zablocie. Tuy vậy, Herr Direklor phải hiểu rằng tình cảnh của dân Do Thái, kể cả lao động lành nghề trong ngành quân giới, luôn tiềm ẩn rủi ro. Đơn cử ngay các doanh nghiệp của SS. Ostindustrie sử dụng tù nhân cho xưởng than bùn, nhà máy bàn chải, cơ sở luyện kim ở Lublin, nhà máy thiết bị ở Radom, xưởng lông thú ở Trawniki. Trong khi đó các phân hiệu SS khác không ngừng bắn giết nhân lực, khiến Osti coi như sập tiệm toàn diện. Tương tự, các lò sát sinh không bao giờ giữ lại đủ tỉ lệ tù nhân cho các nhà máy. Đó chẳng qua là chuyện thường xuyên trao đổi thông tin, nhưng cái bọn ngoài thực địa ấy cứng đầu lắm. “Tất nhiên,” tay cán bộ nhân sự gõ gõ bức thư rồi nói, “tôi sẽ làm tất cả những gì có thể.” “Tôi hiểu chứ.” Oskar nói và ngước nhìn tay cán bộ SS bằng nụ cười rạng rỡ quen thuộc. “Nếu có cách nào để tôi bày tỏ lòng biết ơn của mình…” Sau cùng, Oskar rời Oranienburg với ít nhất vài lời đảm bảo rằng khu trại sân sau của ông ở Cracow sẽ tiếp tục tồn tại. * Vị thế mới của Płaszów tác động đến những đôi tình nhân qua sự ngăn cách mang tính trừng giới giữa nam và nữ - theo đúng quy định trong một loạt chỉ thị từ Văn phòng Hành chính và Kinh tế. Hàng rào giữa trại nam và nữ, hàng rào ngoại vi, lẫn hàng rào quanh khu nhà xưởng đều dẫn điện. Hiệu điện thế, khoảng cách

giữa các dây thép gai, số dây dẫn và trụ cách điện đều được quy định cụ thể. Amon và cộng sự nhanh chóng nhận ra công dụng răn đe của hệ thống này. Giờ đây chúng có thể bắt tù nhân đứng hai mươi bốn tiếng giữa lớp rào ngoài dẫn điện và lớp rào trong thông thường. Nếu lảo đảo vì kiệt sức, họ biết sau lưng mình vài tấc là nguồn điện hàng trăm volt. Mundek Korn đã nếm mùi đứng giữa hành lang hẹp này một ngày đêm sau khi dẫn nhóm lao động của mình về trại khuyết mất một người. Nhưng có lẽ đáng sợ hơn nguy cơ ngã vào hàng rào là việc dòng điện liên tục hoạt động từ khi hết phiên điểm danh tối đến tận giờ kèn báo sáng, như một hào nước giữa nam và nữ. Thời giờ gặp gỡ đã rút lại chỉ còn vài phút lộn xộn ngắn ngủi trên Appellplatz, trước khi có lệnh xếp hàng. Mỗi đôi tình nhân tự chế ra một giai điệu, huýt lên, rồi căng tai tìm kiếm câu trả lời giữa một rừng tín hiệu. Rebecca và Josef cũng có một mật hiệu như thế. Quy định từ Văn phòng SS của tướng Pohl đã buộc tù nhân Płaszów phải áp dụng chiến thuật phối ngẫu của loài chim. Và cứ như thế, cuộc tình lễ mạo của Rebecca và Josef tiếp diễn. Cho đến khi Josef kiếm được một chiếc váy của người đã chết từ kho quần áo. Sau khi điểm danh tại hàng tù nam, anh sẽ lẻn vào nhà vệ sinh, mặc váy và trùm chiếc mũ bonnet lên đầu. Rồi anh nhập vào hàng tù nữ. Mái tóc ngắn sẽ chẳng khiến tên lính SS nào chú ý, vì

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 74

Đang tải bình luận...