phần lúng túng của đám lính trẻ, những người mời họ hút thuốc, loại thuốc Virginia tỏa ra vẻ long lanh - như chiếc jeep, quân phục và trang bị của họ - của thứ vật chất đến từ một nền sản xuất quy mô, hào nhoáng, không hạn chế và không có thứ phẩm. Dù Emilie và các tù nhân lo ngại Oskar có thể bị bắt giữ, ông ngồi trên thảm cỏ với vẻ vô ưu rõ rệt, hít thở không khí mùa xuân giữa khu rừng chót vót này. Ông có lá thư tiếng Hebrew, và New York, ông biết, xét về mặt chủng tộc, là một thành phố mà Hebrew không hề xa lạ. Nửa giờ trôi qua và một toán lính xuất hiện, tiến lại họ với vẻ thoải mái, không căng thẳng kiểu nhà binh. Cả tốp đều là dân Do Thái, có cả một giáo sĩ chiến trường. Họ tỏ ra rất cảm kích, ôm hôn cả nhóm, kể cả Emilie lẫn Oskar. Vì họ, tốp lính tiết lộ, là những người sống sót từ trại tập trung đầu tiên mà tiểu đoàn tìm được. Kết thúc màn chào hỏi, Oskar trao cho họ lá thư giới thiệu tiếng Hebrew. Vị giáo sĩ đọc và bắt đầu khóc. Ông dịch nội dung cho những lính Mỹ khác. Màn hoan hô, bắt tay và ôm hôn tiếp tục. Đám lính trẻ tỏ ra thật cởi mở, thật ồn ào, thật trẻ thơ. Mặc dù mới xa cách Trung Âu một hai thế hệ, dấu ấn Mỹ quốc ở họ đã rõ ràng đến mức Schindler và các tù nhân nhìn họ với vẻ ngạc nhiên chẳng kém gì ngược lại.
Hệ quả là nhóm Schindler lưu lại ở biên giới Áo làm khách của chỉ huy trung đoàn và vị giáo sĩ hai ngày liền. Họ uống thứ cà phê tuyệt hảo mà tù nhân trong đoàn từ khi ghetto ra đời chưa được uống bao giờ. Họ ăn rất vương giả. Sau hai ngày, vị giáo sĩ tặng họ một chiếc xe cứu thương tịch thu được, và họ dùng nó để lái đến thành phố bị tàn phá Linz ở vùng thượng Áo. * Sang ngày hòa bình thứ hai ở Brinnlitz, quân Nga vẫn chưa xuất hiện. Nhóm tự vệ lo ngại rằng họ sẽ phải lưu lại trại lâu hơn dự kiến. Họ nhớ rằng lần duy nhất SS tỏ ra khiếp sợ - không kể sự bồn chồn của Motzek và đồng bọn mấy ngày qua - ấy là khi có dịch sốt phát ban. Họ bèn treo biển cảnh báo phát ban khắp hàng rào. Ba du kích Czech xuất hiện trước cổng vào buổi chiều và nói chuyện qua hàng rào với lính gác. Tất cả kết thúc rồi, họ nói. Các anh muốn ra lúc nào cũng được. Bao giờ quân Nga đến đã, đội tự vệ đáp. Cho đến lúc đó, bọn tôi vẫn ở trong này. Câu trả lời phần nào thể hiện tâm bệnh của tù nhân: nỗi nghi ngờ thường trực của họ sau một thời gian rằng thế giới ở ngoài hàng rào đầy rẫy hiểm nguy, và phải tái hòa nhập từ từ. Nó cũng cho thấy sự khôn ngoan ở họ. Họ chưa tin các đơn vị Đức cuối cùng đã rút đi. Đám du kích Czech nhún vai và bỏ đi. Đêm đó, khi Poldek Pfefferberg có phiên gác cổng chính, từ ngoài đường vẳng đến tiếng động cơ mô tô. Chúng không đi qua như tốp Panzer hôm qua mà rẽ thẳng về hướng trại. Năm chiếc xe có hình đầu lâu SS xuất hiện từ bóng tối, và rầm rập đến gần hàng rào. Khi tốp lính SS - rất trẻ, Poldek còn nhớ - tắt máy, xuống xe, lại gần cổng, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa nhóm tự vệ rằng liệu có nên bắn hạ ngay đám khách không mời.
Viên hạ sĩ quan chỉ huy có vẻ nhận thức được nguy cơ tiềm ẩn ở tình huống này. Y đứng cách rào một chút, hai tay xòe ra. Bọn họ cần xăng, y nói. Y đoán Brinnlitz, là một trại sản xuất, ắt sẽ có xăng. Pfefferberg gợi ý cấp xăng cho chúng cuốn gói thì hay hơn là gây rắc rối bằng cách nổ súng. Đồng ngũ từ trung đoàn của chúng có thể ở gần đây và sẽ theo tiếng súng tìm đến. Sau cùng, họ mở cửa cho tốp lính SS, và một số tù nhân xuống ga ra hút xăng. Viên hạ sĩ quan SS rất lưu ý thể hiện cho đội tự vệ - vừa mặc đồng phục xanh cho giống lính gác, hoặc ít nhất là giống Kapo người Đức - thấy y chẳng thấy gì bất thường việc tù nhân được vũ trang để bảo vệ trại từ bên trong. “Tôi hy vọng anh nhận ra ở đây có dịch phát ban, Pfefferberg nói tiếng Đức và chỉ lên mấy tấm biển. Toán SS nhìn nhau. “Bọn tôi vừa mất hơn hai chục người,” Pfefferberg nói. “Còn năm mươi người nữa đang phải cách ly dưới hầm.” Thông tin này có vẻ tác động mạnh đến những vị khách đeo phù hiệu đầu lâu thần chết. Chúng mệt mỏi. Chúng đang trốn chạy. Thế là đủ lắm rồi. Chúng chẳng muốn gánh thêm nguy cơ lây bệnh làm gì nữa. Khi xăng được đưa đến trong từng can hai mươi lít, chúng cảm ơn, cúi chào và rút đi qua cổng. Các tù nhân quan sát chúng đổ xăng vào bình và nhã nhặn để lại cạnh hàng rào những can thừa không để vừa lên xe. Chúng đeo găng, nổ máy, rời đi mà không rồ ga quá to, không muốn hao bình xăng vừa đổ vào một trò trẻ trâu. Tiếng động cơ lắng dần về phía làng ở góc Tây Nam. Với những người gác cổng, cuộc tao ngộ lịch sự này sẽ là lần gặp gỡ cuối cùng với những kẻ mặc đồng phục quân đoàn tà ác của Heinrich Himmler. * Sang ngày thứ ba, trại được giải phóng, bởi một sĩ quan Nga
duy nhất. Anh ta cưỡi ngựa, xuất hiện từ hẻm núi nơi đường bộ và đường sắt chạy qua trước khi dẫn tới cổng trại. Khi anh ta đến gần, họ mới nhận ra con ngựa hóa ra chỉ là ngựa lùn, bàn chân gầy gò xỏ trong bàn đạp của viên sĩ quan gần như chạm đất và hai cẳng chân anh ta khuỳnh ra một cách hoạt kê dưới phần bụng lép kẹp của con ngựa. Sự giải phóng mà anh ta mang đến Brinnlitz có vẻ là một nỗ lực cá nhân đầy gian khó, bởi bộ quân phục đã tả tơi, dây da đeo sủng đã bị mồ hôi, mùa đông và chiến trận bào mòn tới mức phải thay bằng dây thừng. Cương ngựa cũng là dây thừng. Anh ta có nước da trắng và, như mọi người Nga trong mắt dân Ba Lan, vừa rất đỗi xa lạ, vừa vô cùng quen thuộc. Sau cuộc đối thoại ngắn lẫn lộn tiếng Nga và Ba Lan, nhóm tự vệ mở cổng cho anh vào. Tin anh xuất hiện lan khắp các ban công tầng hai. Khi vừa xuống ngựa anh đã nhận được một cái hôn từ bà Kumholz. Anh mỉm cười rồi, bằng hai thứ tiếng, xin một cái ghế. Một cậu thanh niên đưa ghế đến. Đứng trên ghế đem lại cho anh một lợi thế về chiều cao mà, xét tương quan với đa số tù nhân, anh không cần đến. Từ đây, anh thực hiện một bài diễn văn giải phóng có vẻ theo đúng công thức bằng tiếng Nga. Moshe Bejski cũng nắm được đại ý. Họ đã được Hồng quân Xô Viết quang vinh giải phóng. Họ được tự do vào thị trấn hay đi đâu tùy ý. Vì dưới chế độ Xô Viết, như trên thiên đường thần thoại, chẳng phân biệt Do Thái hay không Do Thái, đàn ông hay đàn bà, nô lệ hay tự do. Và họ không được có hành vi trả thù đáng hổ thẹn trong thị trấn. Đồng Minh sẽ săn lùng những kẻ đàn áp họ và có hình phạt đích đáng. Họ phải coi trọng tự do của mình hơn hết. Anh bước xuống khỏi ghế và mỉm cười, như muốn nói giờ đây khi xong nhiệm vụ phát ngôn, anh sẵn sàng trả lời câu hỏi. Bejski cùng vài người khác bắt chuyện với anh, và anh tự chỉ vào mình rồi nói bằng thứ tiếng Yiddish trọ trẹ của dân Belarus - kiểu khẩu
âm học mót từ ông bà hơn là cha mẹ - rằng anh là người Do Thái. Cuộc đối thoại bỗng trở nên gần gũi hơn. “Anh đã đến Ba Lan chưa?” Bejski hỏi. “Rồi,” viên sĩ quan xác nhận. “Tôi vừa từ Ba Lan đến đây.” “Còn người Do Thái nào ở đấy không?” “Không thấy ai hết.” Tù nhân vây quanh anh, dịch và truyền đạt nội dung cuộc đối thoại lại cho nhau. “Quê anh ở đâu? viên sĩ quan hỏi Bejski. “Cracow.” “Tôi mới ở Cracow hai tuần trước.” “Còn Auschwitz? Auschwitz thì sao?” “Thấy bảo ở Auschwitz vẫn còn một ít tù Do Thái.” Các tù nhân trở nên trầm ngâm. Theo lời anh bạn Nga, Ba Lan giờ đây như một xứ trống không, và nếu trở lại Cracow họ sẽ vật vờ trơ trọi ở đấy như vài hạt đậu khô trong lọ. “Mọi người có cần tôi giúp gì không?” viên sĩ quan hỏi. Ai nấy nhao nhao xin thực phẩm. Anh nói sẽ kiếm được cho họ một xe bánh mì, có thể thêm ít thịt ngựa. Tất cả sẽ đến trước khi trời tối. “Nhưng mọi người cũng nên xem trong thị trấn có gì,” anh gợi ý. Đấy là một ý tưởng táo bạo - rằng họ cứ thế ra khỏi trại và vào Brinnlitz mua bán. Với một số người, lựa chọn ấy vẫn là điều không tưởng. Đám thanh niên như Pemper và Bejski bám theo viên sĩ quan khi anh chuẩn bị rời đi. Nếu Ba Lan không còn dân Do Thái, nghĩa là họ không còn chỗ mà đi. Họ không cần anh chỉ dẫn, nhưng cảm thấy anh nên trao đổi về thế tiến thoái lưỡng nan của họ. Người lính Nga ngừng tay cởi dây buộc ngựa. “Tôi chịu,” anh nói, ngó thẳng vào mặt họ. “Tôi chẳng biết phải khuyên các anh thế nào. Chớ đi hướng Đông - tôi chỉ biết có vậy. Nhưng cũng đừng đi hướng Tây.” Bàn tay anh tiếp tục cởi dây
cương. “Chẳng đâu ưa chúng ta sất.” * Nghe lời kêu gọi của viên sĩ quan Nga, các tù nhân Brinnlitz sau cùng cũng ra khỏi cổng để thực hiện sự tiếp xúc dè dặt đầu tiên với thế giới bên ngoài. Những người trẻ thử đầu tiên. Danka Schindel ra khỏi trại sau ngày giải phóng, leo lên ngọn đồi cây phủ phía sau. Hoa bách hợp với ngân liên bắt đầu hé nụ, chim thiên di từ châu Phi đã bay về. Danka ngồi trên đồi một lúc lâu, tận hưởng, rồi lăn xuống, nằm trên thảm cỏ dưới chân đồi, hít thở mùi hương và nhìn ngắm bầu trời. Cô nằm ở đó lâu đến nỗi bố mẹ tưởng cô đã gặp chuyện chẳng lành trong làng, với dân địa phương hoặc với quân Nga. Goldberg cũng rời trại sớm, có lẽ là đầu tiên, để về thu nhận của cải giấu ở Cracow. Y sẽ di cư sang Brazil ngay khi thu xếp được. Đa số tù nhân lớn tuổi hơn lưu lại trại. Lúc này quân Nga đã vào Brinnlitz, lấy một villa trên đồi nhìn xuống ngôi làng làm nơi ở cho sĩ quan. Họ đưa vào trại một con ngựa đã mổ, và tù nhân ăn ngấu nghiến, một số còn thấy món này quá đầy bụng sau thời gian dài sống với bánh mì, rau và cháo yến mạch của Emilie. Lutek Feigenbaum, Janek Dresner, và cậu trai nhà Sternberg vào thị trấn tìm kiếm thức ăn. Ngôi làng nằm dưới sự tuần tra của du kích Czech, do đó cư dân Brinnlitz gốc Đức rất e ngại những tù nhân vừa tự do. Một ông hàng xén gợi ý bọn họ có thể lấy một bao đường trong kho. Cậu trai Sternberg nhịn không nổi khi thấy đường, vục mặt xuống làm một vốc đầy. Nó hành cậu một phen điên đảo. Bài học cậu thu được cũng là điều nhóm của Schindler đang nhận ra ở Nuremberg và Ravensburg - phải làm quen với tự do và sung túc một cách từ từ. Mục đích chính của cuộc thám hiểm vào thị trấn là để kiếm bánh mì. Feigenbaum, là thành viên đội tự vệ Brinnlitz, được trang bị cả súng trường lẫn súng lục, thành thử khi ông hàng
bánh khăng khăng chối là không có bánh mì, một người xui cậu, “Lấy súng ra mà dọa lão.” Ông ta, nói cho cùng, là dân Đức Sudeten, và bởi vậy trên lý thuyết là người tán đồng mọi khổ đau họ phải gánh chịu. Feigenbaum chĩa súng vào ông hàng bánh rồi xộc vào nhà trong để tìm chỗ giấu bột mì. Đến phòng khách, cậu thấy vợ và hai con gái chủ nhà đang rúm ró vì sợ hãi. Vẻ khiếp đảm của họ và của những gia đình Cracow vào đợt Aktion giống nhau đến nỗi một niềm hổ thẹn lớn lao ngập tràn trong cậu. Cậu gật đầu chào họ, như thể một vị khách viếng thăm xã giao, rồi rút lui. Cũng nỗi hổ thẹn ấy đã xâm chiếm Mila Pfefferberg trong lần đầu vào làng. Khi cô đến quảng trường, một du kích Czech chặn hai cô gái Sudeten lại, bắt họ cởi giày cho Mila, đang đi đôi guốc gỗ, chọn xem đôi nào vừa hơn. Hành vi ngang ngược này làm cô đỏ mặt, và cô ngồi trên vỉa hè, lúng túng đưa ra lựa chọn. Tay du kích đưa guốc cho cô gái Sudeten rồi bỏ đi. Mila sau đó đang đi bỗng dừng lại, đuổi theo cô gái, và trả lại đôi giày. Cô gái, Mila vẫn nhớ, chẳng buồn tỏ ra biết ơn. Tối đến, lính Nga vào trại mò gái. Pfefferberg phải gí súng vào đầu một gã lính lẻn vào khu tù nữ và vồ được bà Krumholz. (Nhiều năm sau bà Krumholz vẫn còn oán trách Pfefferberg, chỉ mặt anh mà bảo. “Được dịp cao chạy xa bay theo giai trẻ mà bị thằng ranh này nó phá đám!”) Có ba cô gái được đưa - ít nhiều tự nguyện - đến một buổi tiệc tùng của quân Nga, và trở lại sau ba ngày, theo lời họ, khoái hoạt. Bám trụ lại Brinnlitz là một lựa chọn tiêu cực, và sau một tuần tù nhân bắt đầu ra đi. Một số đã mất cả gia đình di cư thẳng sang phương Tây, chẳng có nguyện vọng thấy lại Ba Lan lần nữa. Anh em Bejski, lấy suất vải và vodka của họ để lót đường, sang Ý rồi từ đó lên một con tàu Zionist đi Palestine. Nhà Dresner đi bộ băng qua Moravia và Bohemia về Đức, nơi Janek là một trong mười sinh viên đầu tiên đăng ký vào Đại học Erlangen của bang Bavaria
khi trường này mở cửa cuối năm ấy. Manci Rosner trở lại Podgórze, nơi Henry hẹn gặp cô, Henry Rosner, sau khi được giải thoát khỏi Dachau cùng Olek, một hôm vào nhà vệ sinh công cộng tại Munich thì thấy một người mặc áo sọc. Anh hỏi anh ta bị tù ở đâu. “Brinnlitz,” anh ta đáp. Theo lời anh ta (thực tế là không chính xác), trừ một bà cụ, mọi người ở Brinnlitz đều sống sót. Manci sẽ biết tin Henry còn sống qua ông anh họ, người tìm đến căn phòng ở Podgórze nơi cô đang chờ đợi, tay huơ tờ báo có danh sách những người Ba Lan được giải phóng từ Dachau. “Manci.” anh gọi, “hôn anh đi. Henry còn sống, Olek cũng vậy.” Regina Horowitz có một cuộc hẹn tương tự. Bà mất ba tuần để đi từ Brinnlitz đến Cracow cùng cô con gái Niusia. Bà thuê một căn phòng - nhờ có