Danh Sách Của Schindler

CHƯƠNG 38

CHƯƠNG 38

CHƯƠNG 38 Trong vài giờ sau phát biểu của Oskar, lính SS đồn trú bắt đầu đào ngũ. Trong nhà máy, đội tự vệ được tuyển chọn từ nhóm tù Budzyn và một số phần tử khác trong trại đã được phát vũ khí do Oskar cung cấp. Họ hy vọng có thể tước vũ khí của SS, chứ không buộc phải giao chiến. Như Oskar đã lý giải, sẽ là không khôn ngoan nếu thu hút sự chú ý từ những đơn vị Quốc xã đang ôm hận rút lui. Nhưng trừ phi đạt được một điều hoang đường nào đó, một hòa ước chẳng hạn, cuối cùng họ vẫn sẽ phải dùng lựu đạn tập kích các tháp canh. Tuy nhiên, trên thực tế, đội tự vệ chỉ phải trang trọng hóa việc giải giáp mà Oskar đã hình dung. Lính gác cổng chính gần như biết ơn khi được giao nộp vũ khí. Trên bậc cấp tối tăm dẫn vào trại lính, Poldek Pfefferberg và một tù nhân tên gọi Jusek Horn tước vũ khí của Commandant Motzek. Pfefferberg gí ngón tay vào lưng y, và Motzek, như mọi người đàn ông ngoài bốn mươi, tỉnh táo và có gia đình để về, cầu xin họ tha cho. Pfefferberg tước súng lục của y, còn Motzek, sau khi kêu khóc cầu cứu Herr Direktor trong thời gian tạm giam ngắn ngủi, được thả và đi bộ về nhà. Uri và nhóm du kích phát hiện ra các tháp canh, mục tiêu mà có lẽ họ đã mất hàng giờ phán đoán và lên kế hoạch, đã bị bỏ không. Một số tù nhân, trang bị súng vừa tịch thu của lính Đức, được bố trí trên đó để ai đi qua sẽ tưởng tại đây trật tự cũ vẫn đang ngự trị. Đến nửa đêm, trong trại chẳng còn bóng SS, nam cũng như nữ. Oskar gọi Bankier lên và giao cho ông chìa khóa một kho hàng. Đó là kho dự trữ của Hải quân, và đến trước khi quân Nga tấn công Silesia, vẫn nằm đâu đấy trong vùng Katowice. Có lẽ nó được sử dụng để tiếp tế cho tàu tuần tra trên sông và kênh đào, và

Oskar biết tin Tổng cục Quân giới muốn tìm thuê địa điểm mới ở một khu vực ít bị đe dọa hơn. Oskar đã nhận được hợp đồng này - “với sự trợ giúp của một ít quà cáp,” sau này ông kể lại. Vậy là mười tám xe tải đầy áo khoác, quân phục, vải may đồ lót, sợi xe và len, nửa triệu cuộn sợi và nhiều loại giày, đã đi vào cổng Brinnlitz trước khi được dỡ xuống và nhập kho. Stern và nhiều người đều khẳng định, Oskar biết kho hàng vẫn nằm trong tay mình khi chiến tranh sắp kết thúc, và ông tính lấy chỗ vải vóc này cho tù nhân làm vốn. Trong tài liệu về sau, Oskar cũng xác nhận điều này. Ông đã nhắm hợp đồng kho vận này “với mục đích chuẩn bị sẵn quần áo cho công nhân Do Thái của tôi khi chiến tranh kết thúc. Các chuyên gia dệt may Do Thái ước tính giá trị kho vải vóc này lên tới hơn 150.000 đô la Mỹ (tỉ giá thời bình)”. Ở Brinnlitz ông có người đủ khả năng thực hiện việc định giá này - ví dụ như Juda Dresner, từng kinh doanh vải vóc ở phố Stradom; Itzhak Stern, từng làm công cho một công ty vải bên kia đường. Khi thực hiện nghi thức bàn giao chiếc chìa khóa đắt giá ấy cho Bankier, Oskar và Emilie đều mặc áo tù kẻ sọc. Cuộc đảo vận mà ông hằng nỗ lực đạt đến kể từ ngày đầu thành lập DEF nay đã hiển hiện trước mắt. Khi ông xuất hiện dưới sân để chia tay, ai nấy đều ngỡ đó chỉ là y phục cải trang được ông nhẹ nhàng mặc lên và cũng sẽ nhẹ nhàng trút bỏ một khi gặp quân Mỹ. Nhưng khoác lên bộ áo vải thô ấy lại là hành động mà Oskar chẳng bao giờ rũ bỏ được hoàn toàn. Ông sẽ, theo một nghĩa trọn vẹn nhất, mãi mãi bị cầm tù ở Brinnlitz và Emalia. Có tám tù nhân tình nguyện tháp tùng Oskar và Emilie. Họ đều rất trẻ, nhưng gồm một đôi vợ chồng, Richard và Anka Rechen. Lớn tuổi nhất là một kỹ sư tên là Edek Reubinski, nhưng anh vẫn kém vợ chồng Schindler gần mười tuổi. Sau này, chính anh là người cung cấp chi tiết về cuộc viễn du kỳ dị của cả đoàn. Emilie, Oskar và lái xe sẽ đi chiếc Mercedes. Những người còn

lại sẽ theo sau trên chiếc xe tải chở đầy thực phẩm, thuốc lá và rượu để đổi chác. Oskar có vẻ sốt ruột muốn lên đường. Một trong hai mối đe dọa từ Nga, binh lính của Vlasov, đã không còn. Chúng đã rút đi trong mấy ngày qua. Nhưng mối kia, dự kiến sẽ đến Brinnlitz trước sáng hôm sau, thậm chí sớm hơn. Từ băng sau chiếc Mercedes, nơi họ đang yên vị trong bộ áo tù - nói thật là không giống tù nhân cho lắm, mà giống một đôi quý tộc đi dự dạ hội hóa trang hơn - Oskar vẫn gầm gừ căn dặn Stern, ra lệnh cho Bankier và Salpeter. Nhưng có thể thấy ông rất muốn đi. Thế nhưng khi tay lái xe, Dolek Grünhaut, toan khởi động, xe lại chết máy. Oskar xuống xe và tự mình xem xét dưới nắp capô. Ông tỏ ra hốt hoảng - khác hẳn con người vừa có bài phát biểu đầy uy quyền vài giờ trước. “Làm sao thế?” ông hỏi liên tục. Nhưng trong bóng tối Grünhaut khó mà nói được. Mất một lúc anh mới bắt được bệnh, vì lỗi nằm ngoài phán đoán của anh. Ai đó, lo sợ trước viễn cảnh Oskar ra đi, đã cắt dây điện. Pfefferberg, có mặt trong đám đông tiễn biệt Herr Direktor, lao vội về xưởng hàn lấy đồ nghề và bắt tay vào sửa. Anh toát mồ hôi, tay chân lóng ngóng, vì sự gấp rút mà anh cảm thấy từ Oskar cũng làm anh cuống. Schindler không ngừng ngóng ra cổng như thể quân Nga sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào. Nỗi sợ ấy không phải là không có cơ sở - những người có mặt đều bị giằng xé trước cái kịch bản oái oăm ấy - mà Pfefferberg thì sửa quá khổ sở và quá lâu. Nhưng cuối cùng, cỗ máy cũng rung lên dưới vòng xoay chìa khóa run rẩy của Grünhaut. Khi máy đã nổ, chiếc Mercedes xuất phát, xe tải theo sau. Ai nấy bồn chồn đến nỗi không kịp nói lời chia tay cho đàng hoàng, nhưng họ vẫn kịp trao cho Schindler và vợ một bức thư, có chữ ký của Hilfstein, Stern, và Salpeter, chứng thực công trạng của Oskar và Emilie. Đoàn xe lăn bánh ra khỏi cổng và, đến đoạn đường tàu tránh, rẽ trái về hướng Havlíčkův Brod và về vùng đất an toàn hơn cho Oskar ở châu Âu. Cuộc viễn du phần nào mang

màu hôn phối, bởi Oskar, người đã đến Brinnlitz với rất nhiều phụ nữ, nay lại ra đi cùng vợ. Stern và mọi người vẫn đứng lại ngoài sân. Sau rất nhiều hứa hẹn, họ đã được tự do. Giờ đây, họ phải gánh lấy sức nặng và sự bất trắc của thân phận ấy. * Thời gian đình chiến dài ba ngày, có những biến động và hiểm nguy riêng. Sau khi SS rút đi, đại diện duy nhất của cỗ máy sát nhân còn lưu lại ở Brinnlitz là một viên Kapo người Đức đã từ Gröss-Rosen đến đây cùng các tù nhân của Schindler. Hồi ở Gröss-Rosen y đã mắc nhiều nợ máu, khi tới Brinnlitz y cũng chuốc thêm nhiều kẻ thù. Một nhóm tù nam lôi y từ giường xuống xưởng rồi treo cổ y một cách hăm hở và không thương xót lên một trong những thanh xà mà Untersturmführer Liepold cách đây chưa lâu còn dùng để đe dọa tù nhân. Một số tù nhân cố can thiệp nhưng nhóm hành quyết đang say máu và không ai ngăn nổi. Đây là sự kiện, vụ sát nhân đầu tiên dưới thời bình này, mà nhiều cư dân Brinnlitz sẽ mãi mãi lên án. Họ đã chứng kiến Amon treo cổ viên kỹ sư Krautwirt tội nghiệp trên Appellplatz tại Płaszów, và vụ treo cổ này, dù với lý do khác, cũng làm họ ghê tởm sâu xa không kém. Bởi Amon là Amon và vô phương cải hóa. Nhưng toán đao phủ này là anh em của họ. Khi viên Kapo thôi co giật, họ để y lủng lẳng trên những cỗ máy câm lặng. Nhưng y làm họ hoang mang. Đáng lẽ khiến họ phấn khích, y lại gieo vào lòng họ nỗi hoài nghi. Sau cùng một số người không tham gia treo cổ hạ y xuống và hỏa thiêu. Điều này phản ảnh bản chất kỳ lạ của Brinnlitz khi thi thể duy nhất bị đưa vào lò luyện, theo chỉ thị là nơi hỏa thiêu tù nhân Do Thái, lại là xác một người Aryan. Việc phân bổ hàng hóa trong kho của Hải quân diễn ra suốt ngày hôm sau. Họ chia những súc vải lớn thành từng đoạn nhỏ. Moshe Bejski kể, mỗi người được chia ba mét, một bộ đồ lót và vài

cuộn bông. Ngay hôm đó, một số phụ nữ bắt tay vào may bộ quần áo họ sẽ mặc về nhà. Số khác giữ lại, để sau này đem đổi, ngõ hầu giúp họ mưu sinh trong những ngày rối ren sắp tới. Mỗi người còn được một phần thuốc lá Eginski mà Oskar đã cháy nhà hôi được từ Brno, cùng một chai vodka từ kho của Salpeter. Chẳng mấy ai uống. Với họ nó quá giá trị, không ai nỡ uống. Đêm thứ hai, sau khi trời tối, một phân đội Panzer xuất hiện trên đường từ hướng Zwittau. Lutek Feigenbaum, ôm súng nấp sau bụi cây gần cổng, chực bắn ngay khi cỗ xe tăng đầu tiên hiện ra trong tầm ngắm. Song cậu tự thấy thế là hấp tấp. Từng chiếc sầm sập đi qua. Tên pháo thủ trên một chiếc đi đoạn hậu, biết rằng hàng rào và tháp canh đồng nghĩa với khả năng bọn tội phạm Do Thái có thể đang ẩn nấp ở trong, xoay nòng pháo và bắn hai phát đạn vào trong trại. Viên thứ nhất nổ ở giữa sân, viên thứ hai trúng ban công khu nhà nữ. Đó là một biểu hiện thù địch ngẫu nhiên, và không biết vì khôn ngoan hay bất ngờ mà không tù nhân có vũ trang nào đáp trả. Khi chiếc tăng đi sau cùng vừa khuất bóng, đội tự vệ nghe thấy tiếng than khóc từ sân và khu tù nữ ở tầng trên. Một cô gái bị thương vì mảnh đạn. Bản thân cô chỉ bị choáng, nhưng cảnh cô bị thương đã giải phóng ở chị em mọi đau thương dồn nén suốt mấy năm qua. Trong khi phụ nữ khóc lóc, các bác sĩ Brinnlitz khám cho cô và kết luận vết thương không có gì nghiêm trọng. * Vài giờ đầu trên đường đào tẩu, đoàn Oskar nối đuôi một đoàn xe tải Wehrmacht. Nhờ bóng đêm, họ có thể làm vậy mà không bị ai gây khó dễ. Sau lưng họ, vọng lại tiếng quân Đức đặt mìn phá hủy các cơ sở, và thỉnh thoảng có âm thanh chát chúa từ một cuộc phục kích của du kích Czech từ xa vọng lại. Có lẽ gần tới Havlíčkův Brod, họ đã tụt lại sau, vì họ bị một tốp

du kích Czech chặn lại giữa đường. Oskar tiếp tục đóng vai tù nhân. “Tôi và các vị đây vừa trốn từ trại lao động ra. SS đã bỏ chạy, Herr Direktor cũng vậy. Chiếc ô tô này là của y.” Du kích hỏi họ có vũ khí không. Reubinski từ xe tải xuống gia nhập cuộc đối thoại. Anh thú nhận mình có một khẩu súng trường. Được rồi, tốp du kích Czech nói, tốt nhất các anh có gì thì đưa cả đây. Nếu bị quân Nga chặn lại và phát hiện ra các anh có vũ khí, chưa chắc họ đã hiểu. Áo tù sẽ là bảo chứng cho các anh. Ở thị trấn này, Đông Nam Prague và trên đường đi Áo, họ vẫn có khả năng bắt gặp những đơn vị còn ngoan cố. Du kích chỉ cho Oskar đến văn phòng Hội Chữ thập đỏ trên quảng trường thành phố. Tại đây họ có thể an toàn nghỉ qua đêm. Nhưng khi đến nơi, nhân viên Hội Chữ thập đỏ khuyên họ rằng, trong tình hình bất ổn hiện tại nhà tù thị trấn có lẽ là an toàn nhất. Họ để xe lại trên quảng trường, trước mặt văn phòng Hội, còn Oskar, Emilie và tám bạn đồng hành xách mớ hành lý ít ỏi theo và ngủ trong những xà lim không khóa ở đồn cảnh sát. Sáng hôm sau khi quay lại, họ thấy cả hai xe đã bị luộc. Lớp da bọc chiếc Mercedes bị xé toang, kim cương biến mất, xe tải bị tháo lốp, máy xe cũng bị cướp luôn. Dân Czech bình luận đầy minh triết. Thời buổi này mất mát là chuyện thường. Có lẽ họ còn nghi ngờ Oskar, da trắng và mắt xanh, là một sĩ quan SS đào vong. Cả đoàn không còn phương tiện, nhưng có một chuyến tàu xuôi Nam về Kaplice và họ lên tàu, vẫn mặc áo tù. Reubinski kể, họ ngồi tàu đến tận rừng, rồi xuống lội bộ. Đâu đó ở vùng rừng biên giới ấy, mạn Bắc của Linz, họ có hy vọng gặp quân Mỹ. Đang cuốc bộ trên một con đường chạy giữa rừng thì họ gặp hai lính Mỹ ngồi nhai kẹo cao su bên ụ súng máy. Một tù nhân bắt chuyện bằng tiếng Anh. “Chúng tôi có lệnh không cho ai đi qua,” một người nói. “Nếu đi vòng qua rừng thì có sao không?” người tù hỏi tiếp.

Anh lính vẫn nhai. Cái dân tộc bỏm bẻm kỳ quái này! “Chắc không.” rốt cuộc anh ta đáp. Vậy là, họ vòng qua rừng và, khi quay lại đường cái sau nửa tiếng, gặp một đại đội bộ binh đang hành quân hàng hai về phía Bắc. Qua người tù biết tiếng Anh, họ nói chuyện với trinh sát của đơn vị. Viên sĩ quan chỉ huy chạy xe jeep đến, nhảy xuống, thẩm vấn họ. Họ nói thật với anh ta, rằng Oskar là Herr Direktor, còn họ là dân Do Thái. Họ tin mình đang ở nơi an toàn, bởi qua BBC họ biết trong quân Mỹ có nhiều lính gốc Đức và Do Thái. “Ở bên đây,” viên đại úy nói. Anh ta lẳng lặng lái đi, để họ lại trong sự giám sát có

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 123

Đang tải bình luận...