phần lớn sẽ khó sống nổi một tuần nữa. Emilie còn chăm sóc Janka Feigenbaum, cô gái mười chín bị ung thư xương. Lutek Feigenbaum, anh cô, làm việc dưới xưởng, thi thoảng vẫn thấy Emilie xuất hiện từ căn hộ tầng trệt, mang cặp lồng xúp bà tự nấu tới cho Janka đang chết mòn. “Bà ấy bị Oskar lấn át,” Lutek nói. “Ai cũng vậy. Nhưng bà vẫn là người độc lập.”
Khi Feigenbaum bị vỡ kính, bà lo sửa cho cậu. Đơn kính của cậu nằm ở một phòng khám nhãn khoa nào đó trên Cracow, đã ở đấy từ trước khi ghetto ra đời. Nhân có người đi Cracow, Emilie nhờ họ tìm đơn và đem về cặp kính đã sửa. Đối với chàng trai Feigenbaum, điều này vượt xa một cử chỉ nhân ái thông thường, nhất là trong một chế độ thật sự mong muốn anh bị cận, và âm mưu tước đi cặp kính của người Do Thái khắp châu Âu. Chuyện Oskar tặng kính cho tù nhân thì nhiều. Người ta tự hỏi, liệu có cử chỉ nhân ái nào kiểu ấy của Emilie lại không bị hấp thụ vào truyền thuyết về Oskar, cái cách hành vi của những anh hùng nhỏ bé hơn bị gộp chung vào hình tượng Arthur hay Robin Hood. (77) Tiếng Đức: Nhóm của Schindler. (78) Có lẽ tác giả muốn ám chỉ những trận đánh ở vùng Flanders trong Thế chiến I, diễn ra trong tình trạng ngập ngụa bùn lầy. (79) Tiếng Đức: Nữ (lao động) của Schindler. (80) Chánh thanh tra hình sự. Trước khi chuyển sang phụ trách việc đầu độc tù nhân, Wirth là Chánh thanh tra của Cảnh sát hình sự Stuttgart. (81) Tiếng Đức: die Endlösung der Judenfrage (giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái), cụm từ “chính thống” của phát xít Đức để chỉ kế hoạch diệt chủng Do Thái. (82) Nguyên văn: selinona, là