Danh Sách Của Schindler

phần dưới đoàn tàu, và

phần dưới đoàn tàu, và

phần dưới đoàn tàu, và không khí rét cắt da. Nhưng không phải thứ không khí chua gắt, nặng nề của Auschwitz. Đây là một đoạn tàu tránh nào đó. Họ bước đi, ngón chân tê cóng, ai nấy đều lên cơn ho. Không bao lâu, họ trông thấy một cánh cổng lớn và, phía sau, một công trình có nhiều ống khói trông như anh em với những ống khói họ đã bỏ lại phía sau ở Auschwitz. Một nhóm SS đứng chờ trước cổng, xoa

tay vào nhau vì rét. Tốp lính SS và dãy ống khói - tất cả như thể hồi tiếp theo của bộ phim kinh dị ấy. Cô gái đi cạnh Mila bắt đầu sùi sụt. “Chúng đem mình tới tận đây để rồi vẫn tống tiễn mình lên ống khói.” “Không,” Mila đáp, “chúng không thừa thời gian thế đâu. Nếu muốn, chúng đã làm vậy từ Auschwitz.” Tinh thần lạc quan ấy, dẫu vậy, cũng giống như của cô bé Lusia - Mila cũng không hiểu nó ở đâu ra. Gần đến cổng, họ nhận ra Herr Schindler đứng giữa nhóm SS. Ban đầu, họ nhận ra ông qua vóc dáng đồ sộ khó quên. Tiếp đến, họ nhận ra gương mặt ông dưới chiếc mũ Tyrol dạo này ông hay đội để ăn mừng việc được hồi hương. Một viên sĩ quan SS thấp, da sậm đứng cạnh Oskar. Đấy là Commandant của Brinnlitz, Untersturmführer Liepold. Oskar đã biết - và chị em sẽ sớm biết rằng Liepold, khác với cả trại lính trung niên của y, vẫn chưa mất niềm tin vào dự án mang tên “Giải pháp Tối hậu” (81) . Mặc dù y đường đường là phó thủ của Sturmbannführer Hassebroeck, là đại biểu cho quyền lực ở đây, Oskar lại là người bước lên khi đoàn người đứng lại. Họ nhìn ông chăm chú. Một kỳ nhân giữa sương mù. Chỉ vài người nhoẻn cười. Mila, giống những phụ nữ khác trong hàng sáng hôm đó, vẫn nhớ đấy là một khoảnh khắc của niềm biết ơn thuần khiết nhất, thành kính nhất, và không nói nổi thành lời. Nhiều năm sau, một người trong số họ, khi đứng trước ống kính truyền hình Đức và nhớ về buổi sáng ấy, sẽ gắng diễn tả lại điều đó. “Ông là cha, ông là mẹ, ông là niềm tin duy nhất của chúng tôi. Chưa bao giờ ông làm chúng tôi thất vọng.” Và Oskar lên tiếng. Đây lại là một bài diễn văn táo bạo, đầy những hứa hẹn choáng ngợp nữa của ông. “Tôi biết mọi người sắp đến,” ông nói. “Zwittau đã gọi điện báo cho chúng tôi. Trong nhà đã có xúp và bánh mì đợi sẵn.” Và, nhẹ nhàng nhưng với vẻ quả quyết của bậc giáo chủ, ông nói: “Không phải lo gì nữa. Có tôi ở đây rồi.”

Đó là một tuyên ngôn khiến viên Untersturmführer bất lực. Oskar phớt lờ thái độ giận dữ từ Liepold. Khi Herr Direktor dẫn đoàn tù nhân vào sân nhà máy, Liepold chẳng thể làm gì để xâm nhập thành lũy vững chãi ấy. Nhóm tù nam biết tin. Họ tụ tập trên ban công ngóng xuống. Sternberg và con trai tìm Clara Sternberg. Ông Feigenbaum với Lutek Feigenbaum kiếm Nocha Feigenbaum và cô con gái mảnh mai. Juda Dresner và Janek, ông Jereth, giáo sĩ Levartov, Ginter, Garde, cả Marcel Goldberg, đều căng mắt tìm bóng dáng những phụ nữ của mình. Mundek Korn không chỉ trông mẹ và em, mà cả Lusia cô gái lạc quan, người cậu thầm cảm mến. Bau chìm trong một nỗi bi thương mà có lẽ anh chẳng bao giờ hoàn toàn thoát khỏi. Lầu đầu tiên, anh biết chắc rằng mẹ và vợ mình sẽ không tới Brinnlitz. Song Wulkan người thợ kim hoàn, khi thấy Chaja Wulkan dưới sân nhà máy, lại kinh ngạc nhận ra, có những cá nhân đã can thiệp và mang tới sự giải cứu bất ngờ. Pfefferberg vẫy Mila bằng gói đồ anh vẫn giữ đợi ngày cô đến - một cuộn len trộm từ một trong những kiện hàng Hoffman bỏ lại, và chiếc kim đan anh làm ở xưởng hàn. Cậu con trai mười tuổi của Frances Spira cũng từ ban công ngóng xuống. Cậu bé phải đút nắm tay vào miệng để khỏi kêu lên, vì dưới sân đầy SS. Đoàn tù nữ lảo đảo bước vào khoảnh sân lát đá trong trang phục Auschwitz tả tơi. Đầu họ cạo trọc. Một số ốm yếu, hốc hác đến nỗi khó nhận ra. Nhưng cuộc hội ngộ ấy vẫn thật phi thường. Sẽ chẳng ai ngạc nhiên khi về sau biết rằng, khắp châu Âu tang thương chẳng đâu có cuộc đoàn tụ nào như thế. Và rằng Auschwitz chưa có và sẽ không có cuộc giải cứu nào như vậy. Sau đó họ được dẫn đến một khu riêng. Chưa có giường tầng, mới chỉ có nệm rơm dưới sàn. Từ chiếc âu DEF to, một nữ nhân viên SS múc cho họ thứ xúp Oskar vừa nói đến ngoài cổng. Xúp đặc. Và ngồn ngộn dinh dưỡng. Trong mùi thơm ấy là dấu hiệu bề ngoài chứa đựng giá trị của những lời hứa không tưởng kia.

“Không còn gì phải lo lắng nữa.” Nhưng họ chưa được tiếp xúc với chồng con. Khu tù nữ tạm thời bị cách ly. Cả đến Oskar, được đội ngũ y tế tư vấn, cũng phải dè chừng những gì họ có thể đem về từ Auschwitz. Tuy nhiên, chế độ cách ly vẫn còn ba chỗ thủng. Một là viên gạch hổng ở bên trên giường của Moshe Bejski. Những đêm sắp tới, anh em sẽ thay phiên quỳ trên đệm của Bejski và nhắn gửi sang bên kia bức tường. Tương tự, dưới nhà máy có một lỗ thoáng thông sang khu vệ sinh nữ. Pfefferberg quây thùng xung quanh, làm thành một khoang đủ một người ngồi và nói vọng sang. Cuối cùng, mỗi sáng sớm và sẩm tối, họ lại tụ tập bên hàng rào ngăn cách ban công khu tù nam và tù nữ. Nhà Jereth gặp nhau ở đây: ông lão Jereth, người góp gỗ xây những lán đầu tiên ở Emalia; vợ ông, dạo ấy cần vào ghetto để lánh nạn Aktion. Các bạn tù vẫn hay đùa về cuộc đối thoại giữa hai vợ chồng. “Hôm nay ruột mình đã vận hành chưa?” ông Jereth trịnh trọng hỏi vợ, người vừa trở về từ khu lán chìm trong kiết lỵ của Birkenau. Về nguyên tắc, không ai muốn vào bệnh xá. Ở Płaszów, đó là một chốn hiểm nguy, nơi anh có thể bị bác sĩ Blancke điều trị bằng một liều xăng tiêm tĩnh mạch. Kể cả ở Brinnlitz, bệnh xá vẫn luôn có nguy cơ bị kiểm tra đột xuất, giống như vụ đã bắt mất lũ trẻ. Theo quy định của Oranienburg, bệnh xá của trại lao động không được có bệnh nhân nặng. Nơi này không phải là nhà thương làm phúc, mà để sơ cứu lao động. Nhưng dù muốn hay không bệnh xá ở Brinnlitz vẫn đầy phụ nữ. Cô thiếu nữ Janka Feigenbaum được đưa vào đây. Em bị ung thư và kiểu gì cũng chết, dù được ở chỗ tử tế nhất. Nhưng chí ít em cũng đến được nơi tử tế nhất còn lại cho em. Bà Dresner cũng được đưa vào đây, cùng hàng chục người khác không nuốt trôi hoặc giữ nổi thức ăn trong bụng. Lusia lạc quan và hai cô gái khác bị tinh hồng nhiệt và không được nhập viện. Họ được cho nằm dưới hầm, giữa cái ấm áp của những nồi hơi. Trong cơn mê sảng, Lusia vẫn ý thức

được cái ấm cúng phi thường của phòng bệnh dưới hầm ấy. Emilie làm việc thầm lặng như một nữ tu trong bệnh xá. Những người khỏe mạnh, tham gia tháo dỡ máy móc của Hoffman chuyển xuống nhà kho ở cuối đường, hầu như không để ý thấy bà. Sau này một người còn bảo bà chỉ là một người vợ lặng lẽ và phục tùng. Bởi ở Brinnlitz, những người khỏe mạnh đều bị mê hoặc bởi sự hào nhoáng từ Oskar, bởi ma thuật niềm tin có tên Brinnlitz. Những phụ nữ còn đứng vững cũng bị thu hút bởi viên giám đốc uy quyền, tài phép và toàn trị. Như Manci Rosner chẳng hạn. Khi Brinnlitz hoạt động được một thời gian, có lần Oskar xuống chỗ cô trực đêm, đưa cho cô cây vĩ cầm của Henry. Bằng cách nào đó, khi đến gặp Hassebroeck ở Gröss-Rosen, ông có thời gian tạt vào kho và tìm được cây đàn. Ông tốn 100 RM chuộc lại nó. Khi trao nó cho cô, ông nở nụ cười như hứa hẹn sự trở về tối hậu của người nghệ sĩ để sánh duyên với cây đàn. “Đàn cũ,” ông thì thầm. “Nhưng - tạm thời - giai điệu mới.” Sẽ khó cho Manci, khi đứng trước Oskar và cây vĩ cầm kỳ diệu, để thấy bóng dáng người vợ thầm lặng phía sau Herr Direktor. Nhưng với người hấp hối, Emilie hiện diện rõ ràng hơn. Bà cho họ ăn cháo lõi lúa mì (82) , có Chúa mới biết bà moi ở đâu ra, đích thân bà nấu và mang xuống bệnh xá. Bác sĩ Biberstein nghĩ bà Dresner đã hết thuốc chữa. Emilie bón cháo cho bà bảy ngày liên tục, và bệnh lý lui dần. Trường hợp của bà Dresner có lẽ đã xác thực dự báo của Mila Pfefferberg, rằng nếu Oskar không kịp cứu họ khỏi Birkenau,

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 104

Đang tải bình luận...