Chiến Tranh Không Có Một Khuôn Mặt Phụ Nữ

hồi chiến tranh

hồi chiến tranh

hồi chiến tranh của bà!” Nhưng có thể tôi đã cứu đến hai trăm, hồi đó ai mà đi đếm? Tôi thậm chí không hề nghĩ đến chuyện ấy, dẫu sao, chúng tôi sẽ không hiểu được chuyện đó. Trận đánh đang ác liệt, những người đàn ông đang tuôn hết máu của họ ra, mà tôi, tôi lại ngồi đó ghi vào sổ tay sao? Không bao giờ tôi chờ cho một trận đánh chấm dứt, tôi bò ra khi đang đánh nhau và tôi cố kéo thương binh về. Nếu một cậu con trai bị một mảnh pháo, nếu tôi chỉ đến được chỗ cậu ấy một hay hai giờ sau, thì tôi chẳng làm được gì nữa, cậu ấy đã bị cơn mất máu giết chết rồi. Tôi bị thương ba lần và ba lần bị chấn động. Trong chiến tranh, mỗi người có một ước mơ: một số người, mơ được trở về nhà, số khác, được đến tận Berlin, nhưng tôi, tôi chỉ có một ý nghĩ: còn sống cho đến sinh nhật tôi, để mừng tuổi mười tám. Tôi không biết vì sao, nhưng tôi sợ chết sớm hơn, không bao giờ đến được tuổi ấy. Lúc nào tôi cũng mặc quần, mũ calô trên đầu, bao giờ cũng rách rưới, vì lúc nào tôi cũng bò bằng đầu gối, lại dưới sức nặng của một thương binh. Tôi không tin nổi là một ngày nào đó tôi có thể đứng lên và bước đi bình thường, thay vì bò. Cái đó nữa, cũng là một ước mơ. Một lần ông sư đoàn trưởng nhìn thấy tôi và hỏi: “Cô bé này là thế nào đây? Sao lại giữ cô ấy ở đây? Tốt hơn hết là trả cô ấy về đi học.” Tôi nhớ một hôm... tôi hết sạch băng... Các vết thương do đạn tệ hại đến nỗi một vết phải dùng cả một gói băng. Tôi xé đồ lót của tôi ra và tôi bảo các

cậu con trai: “Nào, cởi nhanh quần đùi của các cậu ra, áo may ô của các cậu nữa, tôi có những người đang chết đây này.” Họ cởi đồ lót của họ và xé thành từng mảnh. Tôi không bao giờ thấy ngượng trước mặt họ, họ như những anh em trai của tôi, tôi cũng như em út của họ. Chúng tôi ba người cùng nắm tay nhau mà đi, người đi giữa ngủ một hay hai tiếng. Rồi chúng tôi thay phiên. Khi tôi thấy một hố chôn chung, tôi quỳ xuống. Trước mỗi nấm mồ tập thể... Bao giờ cũng quỳ...” Sofia Adamovna Kountsevitch, thượng sĩ nhất, cáng thương ở một đại đội xạ thủ-khinh binh VỀ GIỌNG NỮ CAO CỦA CÁC CÔ GÁI VÀ SỰ MÊ TÍN CỦA CÁC THỦY THỦ “Tôi nghe người ta văng ra đằng sau lưng tôi... những từ... những từ... nặng tựa đá... “Ra trận, người ta bảo, chỉ có đàn ông thích cái thứ đó. Các cô là những người không bình thường. Những người đàn bà bất đắc chí... Những người thiểu năng...” Không đâu! Không, đấy là một ước vọng nhân bản. Chiến tranh đã nổ ra, tôi sống một cuộc sống bình thường... Một cuộc sống của một cô gái tuổi tôi... Và rồi bà láng giềng của tôi nhận được một bức thư: chồng bà đã bị thương, ông ấy đang nằm bệnh viện. Tôi nghĩ: “Ông ấy đã bị thương, ai sẽ thay ông?” Một người láng giềng khác trở về mất một tay: ai thay thế ông? Một người thứ ba trở về, mất một chân, lại thiếu một người nữa. Tôi viết đơn, tôi đòi, tôi van người ta tuyển tôi vào quân đội. Chúng tôi đã được nuôi dạy như vậy: chúng tôi đã được học rằng không có việc gì được làm trên đất nước này mà không có chúng tôi. Chúng tôi được dạy yêu đất nước này. Và khi có chiến tranh, chúng tôi thấy cần cống hiến sức mình. Nếu người ta cần y tá thì phải trở thành y tá. Nếu thiếu pháo thủ phòng không thì đấy là nơi phải đăng vào. Cô hỏi chúng tôi có muốn giống những người đàn ông không, ở ngoài mặt trận? Lúc đầu, vâng, rất muốn! Chúng tôi cắt tóc rất ngắn, chúng tôi thay đổi đến cả dáng đi. Nhưng rồi chán lắm! Về sau, chúng tôi muốn được trang

điểm biết bao nhiêu! Thay vì ăn đường, chúng tôi để dành đó, để vuốt thẳng diềm tóc. Chúng tôi sung sướng khi nấu được một nồi nước để gội đầu. Sau một cuộc hành quân dài, chúng tôi đi tìm cỏ non. Chúng tôi bứt và chúng tôi... Vâng, cô biết đấy... chúng tôi xát lên đùi... Chúng tôi lau đùi bằng cỏ... Chúng tôi làm sạch mình bằng cỏ... Chúng tôi, các cô gái, chúng tôi có những đặc điểm của chúng tôi, đúng không? Thế là chúng tôi có những bộ đùi xanh lè... Chuyện đó ổn khi ông thượng sĩ là người có tuổi: ông hiểu những điều đó và không tước đi khỏi ba lô chúng tôi các thứ đồ lót thừa. Nhưng nếu rơi vào tay một ông trẻ, thì chắc chắn là bị tịch thu. Nhưng đồ lót là không bao giờ thừa đối với con gái, mỗi ngày chúng tôi phải thay hai lần. Chúng tôi cắt tay áo lót người của chúng tôi ra, chúng tôi chỉ được có hai chiếc. Tức bao giờ cũng chỉ được bốn cái tay áo...” Klara Semionovna Tikhonovitch, thượng sĩ, xạ thủ phòng không “Trước chiến tranh, tôi yêu tất cả những gì là quân sự... rắn rỏi... Tôi viết cho một trường hàng không để họ gửi cho tôi các thủ tục xin nhập học. Quân phục thích hợp với tôi. Tôi thích các cuộc diễn tập, sự chính xác, ngắn gọn của ngôn ngữ mệnh lệnh. Trường hàng không trả lời là tôi phải học xong bậc trung học đã. Đương nhiên, với cách nghĩ của tôi, khi chiến tranh bắt đầu, tôi không thể chịu yên ở nhà. Nhưng người ta không chịu nhận tôi để gửi ra mặt trận. Bất kể thế nào, vì tôi mới mười sáu tuổi. Ông sếp phòng tuyển quân bảo tôi: “Quân thù sẽ nghĩ gì về chúng ta, khi vừa mới có chiến tranh, chúng ta đã gửi cả trẻ con, cả các cô gái vị thành niên ra trận? - Phải đánh lại quân thù. - Chúng tôi sẽ làm việc đó không cần có cô.” Tôi ra sức thuyết phục ông là tôi khá cao lớn, không ai nghĩ tôi mới mười sáu. Tôi cứ đứng lì giữa phòng ông và không chịu rời đi.

“Viết vào 'mười tám' thay vì 'mười sáu' - Bây giờ cô nói thế, chứ sau này rồi cô sẽ nhớ như thế nào về tôi?” Nhưng sau chiến tranh, tôi không muốn nữa, tôi không thể vào bất cứ ngành chuyên môn quân sự nào nữa. Tôi muốn cởi bỏ thật nhanh tất cả quần áo màu kaki của tôi. Cả hôm nay nữa, tôi ghét quần, tôi không bao giờ mặc, ngay cả khi đi hái quả mọng hay nhặt nấm trong rừng. Tôi muốn mặc đồ bình thường của phụ nữ. Klara Vassilievna Gontcharova, binh nhì, xạ thủ phòng không “Chiến tranh, chúng tôi đã nhanh chóng cảm nhận nó... Ngay hôm chúng tôi kết thúc trường quân sự, những ”người mua hàng” đã đến. Những người mua hàng, cô biết đấy, là những người được đơn vị gốc trả về hậu phương để tổ chức lại và có nhiệm vụ bổ sung cho đủ quân số. Bao giờ cũng là đàn ông và ta nhận rõ là họ thương hại chúng tôi. Chúng tôi nhìn họ một cách hăng hái, trong khi họ nhìn chúng tôi bằng những con mắt khác hẳn: chúng tôi sẵn sàng nhảy xổ ra khỏi hàng, chúng tôi vội muốn chứng tỏ mình, nhưng họ thì mệt mỏi, họ nhìn mặt chúng tôi, biết rõ điều gì đang chờ đợi chúng tôi. Đấy là một trung đoàn chủ yếu nam giới, vì ở đấy chỉ có hai mươi hai phụ nữ: trung đoàn 870 máy bay ném bom tầm xa. Ở nhà ra đi, chúng tôi mang theo hai, ba bộ đồ lót, không thể lấy thêm nhiều hơn. Một hôm, chúng tôi bị ném bom, chúng tôi bị trắng tay, ngoài các thứ có trên lưng. Đàn ông đi đến trung tâm phân phối và người ta đã phát cho họ suất quân trang khác. Nhưng với chúng tôi, chẳng có gì sất. Họ phát cho chúng tôi những chiếc portianki, chúng tôi cắt ra làm nịt vú và quần lót. Khi ông chỉ huy biết chuyện, ông đã mắng chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng cần... Chẳng hạn một hôm, chúng tôi nhìn thấy những chiếc áo may ô đám lính mắc trên các bụi cây. Vậy là, hop, chúng tôi chộp ngay hai hay ba chiếc... về sau, họ biết ai đã lấy và họ cười nhạo: ”Thượng sĩ ơi, cho chúng tôi đồ lót khác... Các cô gái đã lấy cắp của chúng tôi.”

Sáu tháng trôi qua. Thường xuyên mang vác nặng quá sức, chúng tôi đã không còn là đàn bà. Chúng tôi không còn có... Chu kỳ sinh lý của chúng tôi bị hỏng... cô hiểu không? Thật rất kinh khủng! Thật khủng khiếp khi nghĩ rằng ta sẽ không bao giờ còn là phụ nữ.. Maria Nesterovna Kouzmenko, thượng sĩ, phụ trách bảo quản vũ khí “Chúng tôi có khát vọng... Chúng tôi không muốn người ta nói về chúng tôi: “A! đàn bà ấy mà!” Thế là chúng tôi dùng đủ mọi cách, chúng tôi làm nhiều hơn đàn ông, vì chúng tôi muốn chứng tỏ chúng tôi cũng đáng giá ngang họ. Song, rất lâu chúng tôi vấp phải một thái độ bề trên, nếu không phải là khinh thường đối với chúng tôi: “Phụ nữ ấy mà, cũng gọi là nữ chiến binh đấy!” Chúng tôi hành quân... Chúng tôi là gần hai trăm cô gái, theo sau là hai trăm đàn ông. Đang hè. Oi nóng. Đi từng chặng, mỗi ngày hai mươi cây số... Và chúng tôi để lại đằng sau chúng tôi những vết đỏ, to bằng ngần này, trên mặt cát... Chuyện đàn bà... Làm sao giấu được trong hoàn cảnh đó? Những người lính đi theo sau chúng tôi làm như không nhận ra gì hết... Nhưng chúng tôi, làm sao? Người ta không cho chúng tôi gì cả... Còn không đủ bỏng và gạc cho thương binh. Vậy thì cho chúng tôi, thôi đừng nói đến... Đồ lót cho phụ nữ chỉ xuất hiện hai năm, có thể thế, sau khi khởi đầu chiến tranh. Trước đó, chúng tôi mặc quần đùi đàn ông và áo may ô như họ... Vậy là, như tôi nói, chúng tôi hành quân... Chúng tôi đi vội cho đến sông, nơi phà đang chờ. Chúng tôi đến điểm qua sông, thì đúng ngay lúc ấy bị máy bay tấn công. Một trận bom khủng khiếp, đàn ông chạy tứ phía tìm một chỗ nấp. Nhưng chúng tôi, thậm chí chúng tôi không nghe bom, bởi chúng tôi vội cho đến được sông. Và lao xuống nước... Và chúng tôi cứ ở đấy khi các vết đỏ còn chưa trôi hết. Sung sướng... Là thế đấy... Nỗi e thẹn khiến chúng tôi kinh hãi hơn là cái chết. Nhiều cô gái đả bỏ mạng ngày hôm ấy Trong dòng nước sông. Dính mảnh bom... Cái ấy nữa, cũng là cuộc sống phụ nữ của chúng tôi trong chiến tranh... Và rồi, là Chiến thắng. Những ngày đầu, tôi đi trên các đường phố và tôi

không thể tin. Tôi ngồi vào bàn và tôi không tin là đã Chiến thắng. Chiến thắng! Chiến thắng của chúng ta...” Maria Semionovna Kaliberda, trung sĩ, liên lạc viên “Chúng ta đang giải phóng Lettonie... Chúng tôi đóng gần Daugavpils. Đang đêm, và tôi định ngủ một chút. Đột nhiên, tôi nghe người lính gác gọi một ai đó: “Đứng lại! Ai đấy?” Đúng mười phút sau, tôi được gọi đến chỗ ông chỉ huy. Tôi bước vào lều ông, tôi thấy các đồng chí của chúng tôi tập họp ở đấy và một người đàn ông ăn mặc dân sự. Tôi nhớ rõ ông ấy. Vì, nhiều năm, tôi chỉ thấy toàn đàn ông mặc quân phục, màu kaki, còn ông này thì mặc bành tô xám cổ nhung. “Tôi cần sự giúp đỡ của cô, người đàn ông ấy nói với tôi. Vợ tôi đang trở dạ cách đây hai cây số. Cô ấy chỉ có một mình, trong nhà không còn ai khác.” Ông chỉ huy bảo tôi: “Chỗ ấy ở trong vùng giữa hai chiến tuyến. Cô biết không phải là không nguy hiểm. - Người phụ nữ ấy đang sinh. Tôi phải giúp bà.” Người ta cấp cho tôi một đội tùy tùng gồm năm người lính trang bị tiểu liên. Tôi chuẩn bị một túi dụng cụ, có bỏ thêm vào đó đôi portianki bằng dạ mỏng mới tinh vừa được phát. Và chúng tôi lên đường. Chúng tôi không ngừng vấp phải những phát súng; thật may, tầm bắn lúc thì gần quá, lúc thì xa quá. Rừng tối đến mức không nhìn thấy trăng. Cuối cùng có thể nhận ra dáng kiểu một ngôi nhà. Đấy là một trang trại cô độc. Khi bước vào nhà, tôi nhìn thấy ngay người phụ nữ. Bà nằm dưới đất, quấn trong những quần áo cũ. Chồng bà liền kéo các rèm ở cửa sổ. Hai người lính ra gác ngoài sân, hai người khác trước cửa, trong khi người cuối cùng ở lại để dùng đèn pin soi cho tôi. Người phụ nữ cố lắm để kìm những tiếng rên, bà rất đau đớn. Tôi luôn miệng lặp lại với bà:

“Can đảm lên, người đẹp của tôi. Đừng kêu lên. Này, vững nhé!” Chúng tôi ở trong vùng đất giữa hai chiến tuyến, cô biết đấy. Nếu đối phương nhận ra điều gì đó, chúng tôi sẽ phải hứng một trận mưa đạn pháo. Nhưng khi những người lính của tôi nghe đứa bé đã được sinh ra... “Houra! Houra!” Thật nhỏ, như thế này, gần như thầm thì. Một đứa bé vừa ra đời trên tuyến đầu mặt trận! Họ mang nước đến cho tôi. Chẳng có gì để đun, tôi bèn rửa cho cháu bé bằng nước lạnh. Tôi bọc cháu trong đôi portianki của tôi. Không thể tìm được cái gì khác trong nhà, chỉ có những miếng giẻ rách người mẹ nằm trên đó. Tôi đã trở lại thăm người phụ nữ ấy nhiều đêm liên tục. Lần cuối cùng, đúng hôm trước trận tấn công. Tôi đã chào từ biệt họ: “Tôi không thể trở lại nữa. Tôi phải đi.” Người phụ nữ đã hỏi chồng một câu bằng tiếng Lettonie, người chồng dịch lại cho tôi: “Vợ tôi hỏi tên cô là gì?” - Anna. Người phụ nữ nói mấy câu nữa với chồng, và ông lại dịch: “Cô ấy bảo Anna là một cái tên rất đẹp. Vì lòng biết ơn cô, chúng tôi đặt tên con gái chúng tôi là Anna.” Người phụ nữ nhỏm dậy - bà chưa đứng lên được - bà đưa cho tôi một cái hộp phấn xinh bằng xà cừ. Rõ ràng đấy là thứ quý nhất bà có. Tôi đã mở hộp phấn và cái mùi phấn ấy trong đêm, khi tiếng súng bắn không ngừng quanh chúng tôi, tiếng pháo nổ... Có một điều gì ở đây... Cho đến hôm nay, tôi còn muốn khóc... Mùi phấn, chiếc nắp hộp bằng xà cừ... một đứa bé... một đứa con gái nhỏ... Có gì đó thật thân thuộc, một điều gì đó của cuộc sống thật của những người đàn bà.. Anna Nikolaïevna Khrolovitch,

trung úy cận vệ,feldscher “Một người phụ nữ trong hải quân... Là không thể nghĩ đến và thậm chí trái tự nhiên. Người ta tin điều đó mang tai họa đến cho con tàu. Tôi sinh ở gần Fastovo và trong làng chúng tôi, các bà ngồi lê luôn chế giễu mẹ tôi, cho đến tận khi bà chết: “Bà sinh ra một đứa nào thế? Con gái hay con trai? Tôi đã viết thư cho đích thân Vorochilov[61] để được nhận vào trường kỹ thuật pháo binh ở Leningrad. Và chỉ theo lệnh cá nhân của ông người ta mới chịu nhận tôi. Tôi là người con gái duy nhất. Tuy nhiên khi tôi nhận bằng tốt nghiệp, người ta vẫn muốn giữ tôi trên đất liền. Tôi bèn quyết định giấu chuyện tôi là một phụ nữ. Cái tên gốc Ukrain Roudenko của tôi đã được việc cho tôi[62]. Tuy nhiên một hôm, tôi bị lộ. Tôi đang lau boong tàu. Đột nhiên, tôi nghe một tiếng động. Tôi quay lại: một thủy thủ đang đuổi theo một con mèo. Tôi không bao giờ biết con mèo ấy đã leo lên tàu bằng cách nào; khốn cho nó, nó không biết tục mê tín (hẳn có từ thời các nhà hàng hải đầu tiên) tin rằng mèo và đàn bà mang họa cho người đi biển. Con mèo không hề muốn rời tàu chút nào và thực hành những cú nhảy và quay vòng khiến một cầu thủ bóng đá hạng quốc tế phải xanh mặt vì ghen tỵ. Mọi người trên tàu đều cười đùa. Tuy nhiên, có một lúc, con mèo suýt rơi xuống biển, tôi sợ và tôi hét lên một tiếng. Và giọng tôi, chắc thế, sắc quá, nữ quá, khiến tiếng cười của đám đàn ông chợt tắt ngấm. Lặng ngắt như tờ. Tôi nghe tiếng ông chỉ huy: “Sĩ quan trực đâu, một người phụ nữ đã lên tàu đúng không? - Báo cáo đồng chí chỉ huy, không thể.” Và một nỗi kinh hoàng mới: có một người phụ nữ trên tàu! ... Tôi là nữ sĩ quan nhà nghề đầu tiên của hải quân quốc gia. Trong chiến tranh, tôi phụ trách trang bị vũ khí cho các tàu và các đơn vị xạ thủ hải quân. Hồi bấy giờ có một bài đăng trên báo Anh kể rằng có một nhân vật kỳ lạ

nửa đàn ông nửa đàn bà, chiến đấu trong hải quân Nga. Và còn thêm rằng không bao giờ có ai muốn lấy cái “bà có thanh đoản kiếm[63]” làm vợ. Nào, tôi, không ai muốn cưới tôi ư? Không, thưa quý ông tốt bụng! Tôi đã được một sĩ quan đẹp trai nhất lấy làm vợ. Tôi đã là một người vợ hạnh phúc, và tôi đã trở thành một người mẹ, một người bà hạnh phúc. Không phải lỗi ở tôi, nếu chồng tôi đã hy sinh trong chiến tranh. Còn về hải quân thì tôi luôn yêu nó và sẽ yêu nó suốt đời.. Taï’ssia Petrovna Roudenko-Cheveleva đại úy, chỉ huy một thủy đoàn hải quân, ngày nay là chỉ huy tàu hộ tống chống tàu ngầm, đã về hưu “Tôi làm việc ở nhà máy. Một nhà máy sản xuất xích đặt trong làng Mikhaltchikovo chúng tôi, thuộc quận Kstovo, vùng Gorki. Khi đàn ông vừa bắt đầu được gọi ra trận, tôi được bổ vào một máy-công cụ để thay một người thợ. Từ đó, tôi chuyển sang lò rèn, làm thợ điều khiển búa máy, ở xưởng sản xuất dây xích cho tàu thủy. Tôi đã gửi nhiều đơn xin ra mặt trận, nhưng ban giám đốc nhà máy giữ tôi lại với đủ thứ lý do. Tôi viết cho ủy ban Komsomol quận và tháng Ba 1942, cuối cùng tôi nhận được công lệnh. Chúng tôi là nhiều cô gái đi ra mặt trận, cả làng đổ ra đường tiễn chúng tôi. Chúng tôi đi bộ ba mươi cây số đến Gorki, ở đấy chúng tôi được bổ về các đơn vị khác nhau. Tôi được đưa về trung đoàn số 784 pháo phòng không cỡ trung. Chẳng bao lâu tôi được bổ nhiệm trắc thủ số một. Nhưng tôi không bằng lòng chừng đó. Tôi muốn làm người nạp đạn. Đương nhiên, đấy được coi là một công việc dành riêng cho nam giới: phải nâng được một quả đạn mười sáu kilô và đủ sức chịu đựng một nhịp độ bắn căng thẳng, cứ năm giây một phát. Nghề thợ quai búa của tôi chẳng phải là vô ích. Một năm sau, tôi được đề bạt thượng sĩ và cử làm chỉ huy một khẩu đội do hai cô gái và bốn anh đàn ông phục vụ. Do bắn liên tục, đôi khi nòng súng đỏ lên và khi đó bắn rất nguy hiểm. Bất chấp mọi quy tắc, chúng tôi phải làm nguội bằng chăn tẩm

nước. Súng không chịu đựng nổi, nhưng người, thì được. Tôi là một cô gái to khỏe, rất dai sức. Tuy nhiên, tôi biết trong chiến tranh tôi có thể có nhiều khả năng hơn trong đời sống dân sự. Ngay cả về thể chất. Tôi không biết vì sao tôi có nhiều sức lực hơn. Khi tôi nghe trên đài tin Chiến thắng, tôi ra lệnh báo động cho các binh sĩ khẩu đội tôi, và hét lệnh cuối cùng của tôi: “Góc phương vị, mười lăm không không. Cao, mười không. Ngòi nổ một trăm hai mươi, nhịp mười!” Tới lượt tôi, tôi đến gần súng và bắn một loạt bốn quả, mừng Chiến thắng sau bốn năm chiến tranh. Nghe tiếng súng, tất cả những người có mặt ở vị trí pháo đội đều chạy đến. Trong đó có ông chỉ huy tiểu đoàn Slatvinski. Trước mặt mọi người, ông ra lệnh bắt tôi vì không chịu tuân lệnh, rồi ông đã bỏ hình phạt. Và tất cả chúng tôi đã cùng nhau mừng Chiến thắng bằng vũ khí cá nhân của mình, lao vào vòng tay nhau, tất cả chúng tôi ôm hôn nhau. Và sau đó, chúng tôi khóc suốt đêm và suốt ngày...” Klavdia Vassilievna Konovalova, thượng sĩ, khẩu đội trưởng phòng không “Tôi vác khẩu súng máy trên vai... Không bao giờ tôi bảo nó quá nặng. Bởi thế thì ai còn cho tôi làm người tiếp đạn thứ hai? Không đủ sức chiến đấu: thay ngay! Người ta sẽ tống tôi vào bếp. Và thế thì là điều xấu hổ tệ hại nhất. Xin Chúa giữ cho chúng tôi đừng có mà phải vào lò bếp suốt chiến tranh! Tôi sẽ đến khóc mất... - Họ có phái phụ nữ đi hoạt động giống như cánh đàn ông không? - Họ cố bảo vệ chúng tôi. Đúng là phải nài nỉ lắm mới được đi làm nhiệm vụ biệt kích hoặc phải thật xứng đáng. Phải chứng tỏ. Để làm được điều đó, phải đạt một mức độ quả cảm nhất định, liều lĩnh và không phải cô gái nào cũng được thế. Ở chỗ chúng tôi có một cô, Valia, làm việc trong bếp. Cô ấy

rất hiền dịu, rất nhạy cảm, đến mức khó mà hình dung cô ấy với một khẩu súng. Trong một trường hợp cùng cực, cô ấy sẽ bắn, chắc chắn rồi, nhưng cô ấy không vội hăng ra trận. Trong khi tôi, tôi cháy bỏng mong muốn. Trước đây hẳn tôi sẽ nghĩ không bao giờ có thể. Hồi bé, tôi chỉ chúi mũi vào sách. Tôi là một con bé chỉ chuyên quanh quẩn ở nhà.. Galina Yaroslavovna Doubovik, du kích thuộc sư đoàn du kích tự lập số 12, có tên là “Sư đoàn Staline” “Mệnh lệnh: phải đến vị trí trong hai mươi bốn tiếng. Nơi được bổ nhiệm: bệnh viện dã chiến cơ động phương diện quân số 713... Tôi nhớ tôi đến bệnh viện mặc một chiếc áo dài đen bằng vải voan và đi dép. Khoác ngoài áo dài là áo choàng của chồng tôi. Họ phát ngay cho tôi một bộ quân phục, nhưng tôi từ chối vì quá rộng đối với tôi, ít ra cũng ba hay bốn số. Họ báo cáo với giám đốc bệnh viện là tôi không chấp hành kỷ luật quân đội, nhưng ông ấy không nói gì cả. Ông quyết định chờ vài ngày, tin chắc tôi sẽ thay đổi ý kiến. Vài ngày sau, bệnh viện di chuyển sang chỗ khác và chúng tôi bị một trận bom dữ dội. Chúng tôi nấp trong một cánh đồng khoai tây; nhưng trước đó trời mưa. Cô có thể tưởng tượng chiếc áo dài vải voan và đôi dép của tôi đã trở thành thứ gì... Ngày hôm sau tôi mặc quân phục. Hoàn chỉnh. Con đường kinh khủng của tôi đã bắt đầu như thế đó... Cho đến nước Đức... Năm 1942, những ngày đầu tháng Giêng, chúng tôi vào làng Afonevka, vùng Koursk. Trời cực rét. Hai ngôi nhà trong trường học chật ních thương binh, người nằm trên cáng, người nằm dưới đất, trên rơm. Chúng tôi thiếu xe và xăng để chuyển tất cả về hậu phương. Giám đốc bệnh viện quyết định tổ chức một đoàn xe trượt bằng cách trưng dụng mọi thứ tìm được trong làng Afonevka và các làng lân cận. Sáng hôm sau đoàn xe đến. Tất cả ngựa kéo đều do phụ nữ điều khiển. Trong xe chất chăn chế tạo thủ công, áo lông, gối và thậm chí cả chăn len. Cho đến hôm nay, tôi không thể nhắc lại cảnh ấy mà

không ứa nước mắt. Cảnh tượng kỳ lạ. Mỗi người phụ nữ chọn một thương binh và chuẩn bị cho họ lên đường vừa khấn thầm: “Con trai yêu quý của ta”, “Hãy lên đường, người ta yêu thương nhất!”, ”Đi nhé, anh thân yêu”, “Ôi, anh thương yêu!” Mỗi người đều mang từ nhà đến một ít thức ăn, kể cả khoai tây còn nóng. Họ quấn các thương binh trong những thứ họ có được, cẩn thận đặt các anh vào xe trượt. Tôi vẫn còn nghe vẳng bên tai lời cầu khấn, lời than thở dịu dàng của những người phụ nữ: “Ôi! anh thương yêu! Ôi, anh thương yêu!” Tôi tiếc đã không hỏi tên những người phụ nữ ấy. Thậm chí tôi ân hận... Tôi cũng nhớ lúc chúng tôi tiến qua Biélorussi đã được giải phóng và các làng nơi chúng tôi qua không hề gặp một người đàn ông. Cứ như ở đâu cũng chỉ còn đàn bà...” Elena Ivanovna Varioukhina, y tá IM LẶNG CỦA CUỘC SỐNG VÀ VẺ ĐẸP CỦA HƯ CẤU “Tôi có thể tìm được những từ cần có không? Tôi có thể kể tôi đã chiến đấu như thế nào. Nhưng kể tôi đã khóc ra sao, cái đó thì không, tôi không thể. Cái ấy sẽ mãi không được nói. Cô là nhà văn. Hãy sáng tạo một cái gì đó. Một cái gì đó đẹp. Không tàn bạo như cuộc đời...” Anastasia Ivanovna Medvedkina, binh nhì, xạ thủ súng máy “Những lời nói của tôi không đủ. Những từ đơn giản của tôi. Phải kể cái đó bằng thơ. Cần một nhà thơ.” Anna Petrovna Kaliaguina, trung sĩ, cáng thương

“Có lần tôi nghe nhạc... Hay một bài hát... Một tiếng nói phụ nữ... Và ở đó, tôi tìm lại được đôi chút những gì tôi cảm nhận hồi ấy. Một chút gì gần gũi. Nhưng tôi xem một phim chiến tranh, tôi thấy tất cả đều giả, khi tôi đọc một cuốn sách - cũng thế. Hoặc dẫu sao không hoàn toàn thật, không hoàn toàn như mọi sự có thể là thế. Không phải thế. Không kinh tởm đến thế, cũng không đẹp đến thế. Cô không biết trong chiến tranh người ta có thể biết những buổi sáng đẹp đến thế nào. Trước trận đánh, ta nhìn và ta biết với ta có thể là buổi sáng cuối cùng. Và trái đất thật đẹp... thật đẹp.. Olga Nikititchna Zabelina, bác sĩ phẫu thuật quân đội “Tôi? Tôi không muốn nói. Tôi muốn câm lặng...” Irina Moïsseïevna Lepitskaïa, binh nhì, xạ thủ “Tôi chỉ nhớ một điều: người ta đã hét lên: “Chiến thắng!” Suốt ngày, chỉ một tiếng hét... “Chiến thắng! Chiến thắng!”. Và chúng tôi hạnh phúc! Hạnh phúc!” Anna Mikhaïlovna Perepelka, trung sĩ, y tá

“THƯA QUÝ CÔ, QUÝ CÔ CÓ BIẾT MỘT PHÂN ĐỘI TRƯỞNG CÔNG BINH CHỈ SỐNG HAI THÁNG...” Tôi thường hay hỏi nhất về những điều gì? Tôi muốn hiểu điều gì nhất? Hẳn các câu tôi thường hỏi nhất là về cái chết. Về các mối liên hệ của họ với cái chết bởi vì cái chết thường xuyên quẩn quanh bên họ. Cũng gần họ như sự sống. Tôi cố hiểu xem làm sao có thể thoát được nó ở trong trải nghiệm hấp hối bất tận ấy. Và có thể chỉ kể về điều ấy không? Nếu có thì người ta sẽ kể gì? Nếu không thì vì sao? Điều gì là có thể với tới được bằng lời nói và bằng cảm xúc của chúng ta? Đôi lúc, tôi trở về nhà sau một loạt cuộc trò chuyện với ý tưởng rằng đau khổ, ấy là cô đơn. Đơn độc tuyệt đối. Những lần khác, rằng dường như đau khổ là một hình thái nhận thức đặc biệt. Một kiểu thông tin cốt yếu. Nhưng đối với chúng ta, trong đau khổ có một điều gì đó có tính chất tôn giáo, có tính chất gần như là nghệ thuật. Chúng ta là một nền văn minh riêng biệt. Một nền văn minh nước mắt. Tuy nhiên, ở đấy phơi lộ ra với ta không phải chỉ là cái ti tiện mà còn cả cái cao cả. Bất chấp tất cả, con người đã đương đầu được. Nó cao lớn lên. Và giữ lấy vẻ đẹp của nó. “Khi chúng tôi đi ra trận, chúng tôi đã là sĩ quan... Những thiếu úy... Người ta đã đón tiếp chúng tôi thế này: “Hoan hô các cô gái! Rất hay là các cô đã đến đây. Nhưng chúng tôi sẽ không gửi các cô đi đâu hết. Các cô sẽ ở lại chỗ chúng tôi, ở Bộ tham mưu.” Họ đã đón tiếp chúng tôi như thế ở Bộ tham mưu của các binh đoàn công binh. Chúng tôi bèn quay gót và bỏ đi tìm vị chỉ huy mặt trận, Malinovski. Trong khi chúng tôi đi trong làng, có tin loan ra rằng có

hai cô gái đang tìm gặp vị chỉ huy. Một sĩ quan tiến đến chỗ chúng tôi và nói: “Cho xem giấy tờ.” Họ xem xét. “Vì sao các cô đi tìm chỉ huy mặt trận, trong khi các cô phải về Bộ tham mưu của các binh đoàn công binh?” Chúng tôi than phiền với anh ta: “Chúng tôi được gửi đến đây để mỗi người nắm quyền chỉ huy một phân đội công binh, vậy mà người ta muốn giữ chúng tôi ở lại Bộ tham mưu! Nhưng chúng tôi sẽ làm tất cả để được là chỉ huy một phân đội công binh chứ không làm gì khác. Ở tuyến đầu.” Viên sĩ quan bèn đưa chúng tôi trở lại Bộ tham mưu. Ở đấy, mọi người cứ nói và nói không dứt, căn trại chật cứng người, mỗi người đưa ra lời khuyên của mình, có người còn cười đùa. Nhưng chúng tôi, chúng tôi giữ vững, chúng tôi không chịu lùi: chúng tôi đã nhận được một lệnh bổ nhiệm, chúng tôi phải là chỉ huy phân đội công binh, và chấm hết. Viên sĩ quan đã đưa chúng tôi về Bộ tham mưu liền nổi giận: “Thưa quý cô! Quý cô có biết một người chỉ huy phân đội công binh thì sống được bao lâu không? Một chỉ huy phân đội công binh chỉ sống hai tháng, không hơn đâu. - Chúng tôi biết và chính vì thế chúng tôi muốn được phân công ra tuyến đầu.” Cuối cùng, chẳng thể khác, họ đành giao cho chúng tôi một phân đội: “Rất tốt, chúng tôi sẽ gửi các cô đến quân đoàn số 5, trong các binh đoàn xung kích. Hẳn các cô biết thế nào là các binh đoàn xung kích, nghe tên gọi đã rõ. Các cô sẽ thường trực ở tuyến đầu.” Tôi không nói tất cả các thứ kinh khủng họ kể cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi vừa lòng:

“Chúng tôi đồng ý!” Vậy là chúng tôi đến Bộ tham mưu quân đoàn số 5. Ở đấy có một viên đại úy rất lịch sự và có văn hóa đã đón chúng tôi một cách tuyệt vời. Nhưng khi anh ta nghe chúng tôi không muốn bất cứ thứ gì khác ngoài chỉ huy một phân đội công binh, anh đưa hai bàn tay ôm lấy đầu: “Không là không! Nghĩ đâu ra chuyện lạ vậy! Chúng tôi sẽ tìm việc cho các cô ở đây, tại ban tham mưu. Không, các cô đùa đấy, ở các phân đội chỉ có đàn ông, và đùng một phát, lại đưa một chỉ huy nữ đến cho họ! Có mà điên. Chắc chắn là không, nghĩ gì mà lạ thế!” Anh ta cứ một mực như thế với chúng tôi suốt hai ngày. Lại một lần nữa! Chúng tôi không lùi một ly: chỉ huy một phân đội công binh và không gì khác hết. Không có thỏa hiệp. Nhưng vẫn còn chưa hết chuyện... Cuối cùng... Cuối cùng chúng tôi được bổ nhiệm. Người ta dẫn tôi đến phân đội tôi phải chỉ huy. Các binh sĩ nhìn tôi: người thì cười nhạo, kẻ thì ác cảm, người lại nhún vai và trề môi ai cũng rõ ý được ngay. Khi ông chỉ huy tiểu đoàn giới thiệu tôi là phân đội trưởng mới, mọi người kêu lên phản đối: “U-u-uh!” Một anh còn đến mức nhổ toẹt xuống đất: “Hừmm!”. Nhưng một năm sau, khi tôi được trao Huân chương Sao đỏ, chính những chàng trai đó - ít ra là những cậu còn sống - reo mừng công kênh tôi cho đến tận căn lều của tôi. Họ tự hào về tôi. Nếu cô hỏi tôi, chiến tranh màu gì, tôi sẽ nói với cô: nó màu đất. Bình thường thôi, đối với một người công binh... Đen, vàng, màu đất sét... Chúng tôi đi, tôi không biết là nơi nào... Chúng tôi đóng trại trong rừng. Chúng tôi đốt một đống lửa trại, ngọn lửa nhảy múa và mọi người đều ngồi đó, thanh bình, im lặng, một số thậm chí đã thiu thiu ngủ. Tôi vừa nhìn ngọn lửa vừa thiu thiu ngủ, tôi mở mắt mà ngủ: những con bướm sâu đo, những con ruồi bị ngọn lửa cuốn đến, suốt đêm, chúng lặng lẽ bay quanh, không một tiếng rên rỉ, để lặng lẽ biến mất trong ngọn lửa lớn ấy. Những con khác lại đến. Cũng giống như chúng tôi. Chúng tôi đi, chúng tôi đi, không ngưng nghỉ. Chúng tôi chảy thành một dòng không dứt... Hai tháng sau, tôi không chết, tôi bị thương. Lần đầu, vết thương nhẹ. Và tôi đã thôi nghĩ đến cái chết..

Stanislava Petrovna Volkova, thiếu úy, trưởng phân đội công binh “Trong tuổi thơ tôi... Bởi vì tôi sẽ bắt đầu bằng tuổi thơ... Trong chiến tranh, điều tôi sợ hơn cả, đúng thế, là những kỷ niệm tuổi thơ. Bởi vì trong chiến tranh, tốt hơn cả là đừng nhớ lại những lúc êm dịu nhất... Thắm thiết, là điều cấm. Là kiêng. Ừ, vậy đó. Hồi tôi còn bé, bố cắt tóc tôi rất ngắn. Kỷ niệm ấy trở lại với tôi khi người ta cắt tóc tôi, và, đang từ là các cô gái, đột ngột chúng tôi hóa thân thành lính bộ binh. Một số cô kinh hoàng. Tôi thấy thế cũng chẳng sao. Tôi đã quen. Bố tôi có đủ chuyện để mà than thở: “Chúng mình có sinh ra con gái đâu, một thằng con trai đấy.” Nhưng duyên cớ chủ yếu là tôi bị nhiễm một thói say mê và vì nó tôi ăn đòn của bố mẹ không chỉ một lần: mùa đông, tôi nhảy từ trên mép vực dốc đứng xuống đống tuyết phủ đài quan sát đóng băng. Sau các buổi học, tôi mặc một chiếc quần bông cũ của bố và buộc lại trên đôi ủng dạ của tôi bằng một sợi dây, tôi nhét vạt áo vét to tướng của tôi vào quần và siết chặt thắt lưng. Tôi đội mũ chapka lên đầu, cột hai tai mũ xuống dưới cằm. Và với bộ trang phục đó, tôi đi ra sông, lắc lư như một con gấu. Ở đấy, tôi lao hết sức và nhảy từ trên bờ vực cao... Ôi, cảm giác được bay trong khoảng không và đâm đầu xuống tuyết mới tuyệt làm sao! Tôi đứt cả hơi! Những đứa con gái khác cố bắt chước tôi, nhưng đều không ổn: đứa thì trẹo gót chân, đứa thì gãy mũi vì va phải một cục tuyết cứng, đứa thứ ba là nạn nhân tai vạ gì tôi không biết. Nhưng tôi là đứa nhanh nhẹn và khéo hơn tất cả bọn con trai tuổi tôi. Tôi nói chuyện tuổi thơ của tôi... Vì tôi không muốn nói ngay đến máu... Chúng tôi đến Moskva vào tháng Chín năm 1942. Người ta chở chúng tôi chạy vòng suốt trọn một tuần trên đường vành đai. Ở mỗi chặng dừng, Kountsevo, Perovo, Otchakovo, v.v…, các cô gái xuống tàu. Những “người mua hàng”, như cách người ta gọi, đến, những người chỉ huy của các đơn vị và các binh chủng, và thuyết phục chúng tôi thành xạ thủ bắn tỉa, cáng

thương, nhân viên phát thanh... Nhưng tất cả những thứ đó không hấp dẫn tôi. Cuối cùng, trong cả đoàn tàu, chúng tôi chỉ còn lại mười ba người. Họ dồn chúng tôi vào một toa tàu hàng được bố trí lại để chở quân đội. Chỉ có hai toa đậu trên đường ga ra: toa của chúng tôi và toa của Bộ tham mưu. Hai ngày chẳng có ai đến thăm chúng tôi. Chúng tôi cười và chúng tôi hát bài hát cũ: “Bị quên rồi, bỏ rơi rồi...” Tối ngày thứ hai, chúng tôi thấy ba sĩ quan, có ông sếp đoàn tàu đi cùng, đi về phía các toa chúng tôi. Những “người mua hàng”! Họ cao lớn, dong dỏng, thắt lưng gọn đẹp. Áo khoác chải chuốt, ủng bóng loáng, mũi nhọn. Rất được, vâng! Chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy những anh chàng đẹp đến thế. Họ lên toa của Bộ tham mưu và chúng tôi dán tai vào vách toa để nghe người ta nói những gì. Ông sếp đưa các danh sách của ông và giới thiệu vắn tắt về mỗi chúng tôi: tên, nơi cư trú, quá trình đào tạo. Cuối cùng, chúng tôi nghe trả lời: “Tất cả các cô ấy đều đúng yêu cầu của chúng tôi.” Ông trưởng đoàn liền xuống toa và ra lệnh cho chúng tôi sắp thành hàng. “Các cô có muốn học tập nghệ thuật chiến tranh không?” ông hỏi chúng tôi. Làm sao chúng tôi lại không muốn? Tất nhiên chúng tôi muốn. Rất muốn. Cứ như là giấc mơ của chúng tôi! Không ai trong chúng tôi hỏi chúng tôi sẽ đi học ở đâu cũng không ai hỏi đối tượng học cụ thể là thứ gì. “Trung úy Mitropolski, đưa các cô gái này về Trường quân sự.” Mỗi đứa đeo túi xách lên vai, chúng tôi sắp thành hàng hai, và viên sĩ quan dẫn chúng tôi qua các đường phố Moskva. Moskva thân yêu... Thủ đô của chúng tôi... Vẫn đẹp trong những ngày khó khăn... Gắn bó sâu sắc với trái tim chúng tôi... Viên sĩ quan đi nhanh, sải bước, chúng tôi vất vả theo anh. Chỉ đến một cuộc họp ở Moskva nhân dịp kỷ nhiệm ba mươi năm Chiến thắng, Serguei Fiodorovitch Mitropolski mới thú thật với chúng tôi, các cựu học sinh trường công binh quân đội rằng anh xấu hổ biết bao nhiêu khi phải dẫn chúng tôi đi qua thành phố. Anh cố đi trước thật xa để không ai chú ý đến anh. Không gắn anh với cái bầy con gái chúng tôi... Điều đó, tất nhiên chúng tôi không biết và chúng tôi cố chạy theo gần sát để đuổi theo cho kịp anh. Ôi, cái cảnh tượng ấy mới đẹp làm sao! Cuối cùng... Ngay những ngày đầu tiên ở trường quân sự, tôi đã xơi ngay hai án phạt lao động bổ sung: khi thì tôi không chịu được giảng đường sưởi không đủ ấm, khi thì tôi cũng chẳng hiểu vì chuyện gì... Cô biết đấy, các thói

quen nhiễm ở trường. Tôi luôn được phục vụ xứng đáng với công lao của tôi: một án phạt thứ nhất, rồi một án phạt khác... Chúng được tích lũy rất nhanh. Lúc đứng gác ngoài đường, các bạn học trò khác chú ý thấy tôi và cười: xem cô nàng chạy giấy chính thức kìa! Đối với họ là chuyện buồn cười, nhưng tôi, tôi không phải lên lớp nữa, và đêm tôi không ngủ. Ban ngày tôi phải đứng ở cửa nhà ngủ, cạnh một cái tủ com-mốt nhỏ và ban đêm, tôi phải đánh xi sàn nhà của trại lính. Thời ấy người ta làm như thế nào? Tôi sẽ giải thích cho cô... Chi tiết nhé... Không có làm như ngày nay đâu, đâu đã có bàn chải đặc biệt, có máy mài sàn, v.v. Hồi ấy... sau khi có hiệu lệnh tắt đèn, tôi cởi ủng để khỏi vấy xi, tôi quấn quanh bàn chân những mảnh giẻ áo bành tô cũ, lấy dây buộc lại làm thành một thứ giày bằng vải. Rồi tôi rải xi ra nền và dàn nó ra bằng một cái bàn chải - không phải bàn chải nhựa, mà bằng lông cứng, cứ là dính nguyên từng nhúm vào sàn. Cuối cùng, sau tất cả các động tác ấy, tôi bắt đầu chơi bằng chân. Phải xát cho đến láng bóng như gương. A! Trong một đêm, tôi đã đủ thời gian để chán đến tởm cái trò khiêu vũ! Chân tôi đau vì tê dại, tôi không cất lưng lên nổi nữa, mồ hôi chảy mờ cả mắt. Sáng ra, tôi không còn đủ sức để hét cho toàn đại đội: “Thức dậy!” Và suốt ngày tôi không được ngồi một lúc vì người lính trực lúc nào cũng phải đứng, cạnh cửa tủ com-mốt. Một lần, tôi có chuyện buồn cười... Tôi đứng ở vị trí trực, sau khi đã làm công việc nội vụ trong trại. Tôi buồn ngủ đến mức tôi cảm thấy sắp ngã nhào. Đột nhiên tôi nghe có ai đó mở cửa phòng. Tôi lập tức đứng thẳng người: ra là sĩ quan trực của tiểu đoàn. Tôi đưa bàn tay lên thái dương và hô: “Báo cáo đồng chí trung úy, đại đội được phép ra khỏi doanh trại.” Ông ta tròn mắt nhìn tôi và không nhịn được cười. Chỉ tới lúc này tôi mới nhận ra, trong lúc hấp tấp, vốn thuận tay trái, tôi đã đưa bàn tay trái lên mũ. Tôi vội đổi tay, nhưng đã muộn. Tôi lại phạm lỗi lần nữa... Tôi mất nhiều thời gian mới hiểu ra ở đây không phải là một trò chơi cũng không phải một ngôi trường bình thường mà là một học đường quân sự. Một sự chuẩn bị cho chiến tranh. Và một mệnh lệnh của một cấp trên có giá trị như một điều luật với cấp dưới. Về cuộc thi kiểm tra cuối cùng, tôi nhớ câu hỏi sau cùng: “Trong đời mình, một người công binh phạm mấy lỗi? - Một người công binh chỉ phạm một lỗi trong đời mình.

- Đúng rồi! Cô gái...” Và rồi đến thủ tục đã thành nghi lễ: - Cô được tự do, học sinh Bairak. Và tôi đã biết chiến tranh. Chiến tranh thật... Người ta dẫn tôi đến phân đội của tôi. Tôi hô: “Phân đội, nghiêm!” nhưng phân đội không hề có ý muốn động đậy. Một người vẫn nằm, người khác ngồi hút thuốc, người thứ ba vặn lưng răng rắc: “Ah-ah!” Tóm lại, người ta ra vẻ không chú ý đến tôi. Những người đàn ông tỏ ra giận dữ là những trinh sát như họ, đã vào sinh ra tử, phải đi tuân lệnh một cô bé hai mươi tuổi. Tôi hiểu điều đó và tôi thấy mình buộc phải ra lệnh: “Nghỉ!” Đúng lúc ấy, pháo nổ. Tôi nhảy xuống một cái hố, nhưng vì tôi có một chiếc áo choàng mới tinh, tôi không nằm dài ở đáy hố, trong bùn lõng bõng, mà dựa người vào bên cạnh, trong tuyết chưa tan. Đấy là điều xảy đến khi người ta còn trẻ: người ta nghĩ đến chiếc áo choàng hơn là cuộc sống của mình. Một cô bé ngu ngốc! Biết làm sao, các cậu lính của tôi đã cười nhạo... Cuối cùng, thế này... Nhiệm vụ trinh sát do công binh đảm nhiệm là gì? Suốt đêm, những người lính đào một cái lỗ cho hai người ở trong khu vực giữa hai chiến tuyến. Trước bình minh, tôi đến cái chỗ là nửa hầm trú ẩn ấy, theo sau là một trưởng nhóm và những người lính ngụy trang chúng tôi lại. Và chúng tôi nằm phục kích ở đấy trọn một ngày, thót tim khi nghĩ mình có thể có một cử động thừa. Sau một hay hai giờ, bàn tay và bàn chân chúng tôi tê cóng, dù đã quấn valenki và măc áo vét lót lông. Chúng tôi biến thành nước đá. Thành người tuyết... Đấy là mùa đông. Dưới tuyết... Mùa hè, phải bất động trong nắng nóng gay gắt, hay dưới mưa. Suốt ngày chúng tôi theo dõi hết sức chăm chú và lập một thứ bản đồ quan sát tuyến đầu. Chúng tôi ghi chép những thay đổi thấy được trên bề mặt của mặt đất. Nếu chúng tôi phát hiện được những mô đất mới hay những cục đất, tuyết bẩn, cỏ bị xéo hay những vệt dài trong sương, là điều rất tốt cho chúng tôi. Đấy là mục tiêu của chúng tôi... Rõ ràng là công binh Đức đã bố trí ở đấy những bãi mìn. Và nếu chúng dựng một hàng rào dây thép gai, thì cần biết chiều dài và chiều rộng của nó. Và biết loại mìn nào đã được sử dụng. Mìn chống người, mìn chống tăng hay mìn phục kích? Chúng tôi cũng phát hiện các vị trí pháo của đối phương...

Trước cuộc tấn công của quân ta, chúng tôi làm việc ban đêm. Chúng tôi dò toàn bộ thực địa từng xăngtimét một. Chúng tôi dọn các hành lang băng qua các bãi mìn. Lúc nào chúng tôi cũng bò. Và tôi, tôi di chuyển con thoi giữa các nhóm khác nhau. Bao giờ tôi cũng có

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 53

Đang tải bình luận...