PHẦN IV TỔ ONG BẮP CÀYC CHƯƠNG BA MƯƠI TƯ huyện gì đang xảy ra ? Lincoln Rhyme lo lắng phát điên lên tự hỏi. Cách đấy một tiếng đồng hồ, vào lúc năm rưỡi sáng, anh rốt cuộc đã nhận được cuộc điện thoại từ người đàn ông giọng tỏ ra rất khó chịu làm việc tại bộ phận Nhà đất của cơ quan thuế Bắc Carolina. Ông ta bị đánh thức lúc một rưỡi và bị giao nhiệm vụ lần lại những trường hợp không nộp thuế đối với bất cứ khu đất nào đăng ký cho một ngôi nhà lưu động do Công ty McPherson đóng. Trước đó, Rhyme đã kiểm tra xem cha mẹ Garrett có từng sở hữu ngôi nhà lưu động nào không và – khi anh biết rằng họ không sở hữu ngôi nhà lưu động nào – đi đến lập luận là nếu gã trai sử dụng địa điểm này làm nơi ẩn trốn, nó phải bị bỏ hoang. Và nếu nó bị bỏ hoang, chủ của nó ắt đã chẳng còn nộp thuế. Người trợ lý giám đốc nói với anh rằng trong bang có hai trường hợp như vậy. Một, ở gần cầu Xanh, nằm về phía tây, khu đất và ngôi nhà lưu động đã bị tịch thu thuế nợ và bán cho một đôi vợ chồng hiện nay đang sinh sống tại đấy. Trường hợp thứ hai ở quận Paquenoke, không đáng tốn thời gian và tiền bạc xử lý. Ông ta nói với Rhyme địa chỉ, theo một tuyến đường chuyển phát của bưu điện thì cách sông Paquenoke chừng nửa dặm. ÔC-6 trên tấm bản đồ. Rhyme gọi điện cho Lucy và mấy người cảnh sát kia, bảo họ đến đó. Họ dự định đến đó ngay khi trời sáng và, nếu Garrett và Amelia ở bên trong, sẽ bao vây hai người và yêu cầu hai người đầu hàng. Thông tin cuối cùng mà Rhyme nhận được là họ đã phát hiện ra ngôi nhà lưu động và đang từ từ tiến đến. Phiền muộn vì sếp mình hầu như thức trắng đêm, Thom bảo Ben rời khỏi phòng và thực hiện các nghi thức buổi sáng một cách kỹ lưỡng. Các nghi thức này bao gồm : tiểu tiện, đại tiện, đánh răng và đo huyết áp. “Cao đấy, Lincoln.” Thom lẩm bẩm, cất cái máy đo huyết áp đi. Huyết áp cao quá ở một người liệt tứ chi có thể dẫn đến tình trạng tăng phản xạ tự phát, từ đó có thể dẫn đến đột quỵ. Nhưng Rhyme
không chú ý gì. Anh đang sử dụng hết sức lực. Anh muốn tìm thấy Amelia đến tuyệt vọng. Anh muốn... Rhyme ngẩng nhìn. Jim Bell, vẻ mặt hốt hoảng, bước qua cửa. Ben Kerr, cũng bối rối chẳng kém, theo vào. “Chuyện gì đã xảy ra vậy?”, Rhyme hỏi. “Cô ấy không sao chứ? Amelia... “ “Cô ấy giết chết Jesse rồi”, Bell thì thào nói. “Bắn trúng đầu cậu ta. “ Thom sững người, liếc nhìn Rhyme. Viên cảnh sát trưởng tiếp tục: “Cậu ta đang chuẩn bị bắt Garrett. Cô ta bắn. Rồi bọn họ bỏ chạy”. “Không, không thể nào”, Rhyme thì thào. “Có sự nhầm lẫn. Một kẻ khác đã bắn.” Nhưng Bell lắc đầu. “Không. Ned Spoto ở đó. Cậu ta chứng kiến toàn bộ sự việc…Tôi không định bảo rằng cô ta chủ ý bắn. Ned chạy tới chỗ cô ta và khẩu súng bị cướp cò – dù sao cũng vẫn là tội giết người.” Ôi, lạy Chúa… Amelia… thế hệ cảnh sát thứ hai, Con Gái Cớm Tuần Tra. Và bây giờ thì cô đã giết chết đồng nghiệp của chính mình. Tội nghiêm trọng nhất mà một sĩ quan cảnh sát có thể phạm phải. “Chúng tôi không tự xử lý việc này được nữa rồi, Lincoln. Tôi phải báo cáo lên cảnh sát bang.” “Hẵng khoan, Jim”, Rhyme nói vẻ cấp bách. “Làm ơn…Bây giờ, cô ấy đang tuyệt vọng, cô ấy đang sợ hãi. Garrett cũng vậy. Anh gọi thêm cảnh sát, sẽ có thêm thương vong. Họ sẽ tấn công cả hai người.” “Chà, rõ ràng là họ phải tấn công hai người ấy rồi ”, Bell giận dữ đáp trả. “Và xem chừng họ đáng lẽ đã phải làm như thế ngay từ đầu.” “Tôi sẽ tìm thấy hai người cho anh. Tôi sắp sửa tìm thấy rồi.” Rhyme hất đầu về phía bảng chứng cứ và tấm bản đồ. “Tôi đã cho anh một cơ hội và hãy nhìn xem chuyện gì xảy ra.” “Tôi sẽ tìm thấy họ và tôi có thể bảo được cô ấy đầu hàng. Tôi biết tôi có thể. Tôi sẽ…”
Bell đột ngột bị xô sang bên và một người đàn ông ào vào phòng. Đó là Mason Germain, “Đồ con hoang nhà mày!” Anh ta gào lên và xông thẳng tới Rhyme. Thom bước ra chặn đường nhưng viên cảnh sát xô anh chàng mảnh khảnh sang bên. Anh chàng ngã lăn xuống sàn. Mason túm lấy áo sơ mi của Rhyme. “Đồ chết giẫm ! Mày mò xuống dưới này và chơi cái trò... “ “Mason!” Bell tiến lên nhưng lại bị viên cảnh sát đẩy sang bên. “Chơi cái trò chứng cứ vớ vẩn, cái trò giải đố vớ vẩn của mày. Và bây giờ thì một người tử tế đã chết vì mày!” Lúc viên cảnh sát kéo Rhyme về phía mình, anh ngửi thấy sực nức mùi nước thơm xoa mặt sau khi cạo râu. Nhà hình sự học co người lại và quay mặt đi. “Tao sẽ giết mày. Tao sẽ…” Nhưng giọng Mason tắc nghẹn khi một cánh tay hộ pháp quàng qua ngực anh ta và anh ta bị nhấc bổng khỏi sàn. Ben Kerr đưa viên cảnh sát ra xa Rhyme. “Kerr, mẹ kiếp, buông tao ra!”, Mason hổn hển. “Đồ ngu! Mày sẽ bị bắt!” “Bình tĩnh nào, ông cảnh sát!”, anh chàng to béo chậm rãi nói. Mason đang định rút súng nhưng bằng bàn tay kia Ben tóm chặt cổ tay anh ta. Ben nhìn Bell. Viên cảnh sát trưởng đợi một lát rồi gật đầu. Ben thả Mason ra. Anh ta đứng xuống, cơn giận dữ điên cuồng hiện lên trong ánh mắt. Anh ta bảo Bell: “Tôi sẽ đi và sẽ tìm thấy con ranh kia và tôi…” “Anh sẽ không đi đâu hết, Mason”, Bell nói. “Anh muốn giữ công việc tại cái sở này thì hãy làm những gì tôi yêu cầu. Chúng ta sẽ giải quyết tình hình theo cách của tôi. Anh sẽ ở nguyên văn phòng đây. Anh hiểu chứ?” “Đồ con hoang, Jim. Cô ta…” “Anh có hiểu tôi nói không ? “Có chứ, tôi quá hiểu anh”, Mason lao ra khỏi la-bô. Bell hỏi Rhyme “Anh ổn chứ?” Rhyme gật đầu. “Còn anh?” Bell liếc nhìn Thom. “Tôi không sao.” Anh chàng phụ tá xốc lại sơ mi cho Rhyme. Và mặc dù nhà hình sự học phản đối, anh ta vẫn đo lại huyết áp. “Vẫn thế. Quá cao, nhưng chưa tới mức nguy kịch.”
Viên cảnh sát trưởng lắc đầu. “Tôi phải gọi điện cho cha mẹ Jesse. Lạy Chúa, tôi không muốn làm việc đó.” Anh ta bước tới chỗ cửa sổ và đăm đăm nhìn ra ngoài. “Đầu tiên là Ed, bây giờ thì là Jesse. Toàn bộ chuyện này mới ác mộng làm sao chứ.” Rhyme nói: “Làm ơn, Jim. Hãy để tôi tìm thấy họ và cho tôi một cơ hội để trao đổi với cô ấy. Nếu anh không đồng ý, tình hình sẽ tồi tệ hơn. Anh biết như thế mà. Rốt cuộc chúng ta sẽ có thêm người chết”. Bell thở dài. Anh ta liếc nhìn tấm bản đồ. “Bọn họ đã đi trước chúng ta hai mươi phút. Anh cho rằng anh có thể tìm thấy bọn họ?” “Phải”, Rhyme trả lời. “Tôi có thể tìm thấy họ.” † † † † † “Hướng đó”, Sean O’Sarian nói. “Tao chắc chắn.” Rich Culbeau nhìn về phía tây, phía gã trai trẻ chỉ - phía cách đấy mười lăm phút ba gã đã nghe thấy tiếng súng nổ cùng với tiếng hét. Culbeau vừa đi tiểu vào một gốc thông, hỏi: “Phía ấy có gì?”. “Đầm lầy, vài ngôi nhà cũ”, Harris Tomel nói. Gã đã đi săn có lẽ là ở mọi xó xỉnh của quận Paquenoke. “Ngoài ra chẳng có gì mấy. Cách đây một tháng tao trông thấy một con sói xám.” Lũ sói được cho là đã tuyệt chủng nhưng bây giờ đang quay lại. “Đừng giỡn”, Culbeau nói. Gã luôn luôn muốn được trông thấy mà chưa từng trông thấy con sói nào. “Mày đã bắn nó à?”, O’Sarian hỏi. “Người ta không bắn chúng”, Tomel nói. Culbeau nói thêm: “Chúng được bảo vệ”. “Thế là?” Và Culbeau nhận ra gã không có câu trả lời cho câu hỏi đó. Ba gã chờ vài phút nữa, tuy nhiên không nghe thấy thêm tiếng súng hay tiếng hét nào. “Có lẽ cứ đi thôi”, Culbeau nói, chỉ về phía lúc nãy vang lên tiếng súng. “Có lẽ thế”, O’Sarian vừa nói vừa ngậm chai nước hớp lấy một ngụm.
“Hôm nay lại nóng đấy”, Tomel bình luận, nhìn vầng dương rực rỡ chưa lên cao. “Ngày nào chả nóng”, Culbeau lẩm bẩm. Gã cầm khẩu súng của mình lên và bắt đầu đi dọc theo lối mòn, hai thằng lính lê bước đằng sau lưng gã. † † † † † Thình. Mary Beth mở choàng mắt, tỉnh dậy khỏi giấc ngủ mê mệt không cưỡng lại được. Thình. “Này, Mary Beth.” Một giọng đàn ông vui vẻ gọi. Tựa như người lớn nói với đứa trẻ con. Trong lúc ngái ngủ, cô nghĩ: Đó là cha! Ông đang làm gì sau khi trở về từ bệnh viện? Ông còn sức lực đâu mà bổ gỗ. Mình phải đưa cha quay lại giường. Cha đã uống thuốc chưa nhỉ? Khoan! Mary Beth ngồi dậy, xây xẩm mặt mày, đầu đau nhức nhối. Cô đã thiếp đi trên chiếc ghế trong phòng ăn. Thình. Khoan. Không phải cha. Ông mất rồi…Đó là Jim Bell… Thình. “Mareeeeeeeeeee Bayeth…” Cô bật dậy khi bộ mặt đểu cáng ấy nhìn vào qua ô cửa sổ. Đó là gã Tom. Lại một tiếng kêu đánh rầm, chiếc rìu của nhà truyền giáo bập vào gỗ. Tom thò mặt vào, nheo mắt nhìn trong bóng tối lờ mờ. “Cô em đâu rồi?” Mary Beth nhìn gã chằm chằm, người đờ ra. Tom tiếp tục: “Ồ, này, cô em kia kìa. Lạy Chúa, so với trí nhớ của anh thì cô em còn xinh đẹp hơn đấy”. Gã giơ cổ tay lên, cho Mary Beth thấy chỗ quấn băng dày sụ. “Anh mất cả lít máu, vì cô em. Anh nghĩ cũng công bằng thôi nếu anh xin lại một ít.”
Thình. “Anh phải nói với cưng, cưng ạ. Đêm hôm qua anh đã thiếp đi với ý nghĩ được bóp vú cưng đấy. Cảm ơn cưng nhiều nhiều vì cái ý nghĩ ngọt ngào ấy.” Thình. Phát rìu này đã bổ nứt được cánh cửa. Tom biết mất khỏi cửa sổ, đến chỗ gã bạn. “Tiếp tục đi, mày.” Gã kêu lên bằng giọng khuyến khích. “Sắp được rồi đấy.” Thình.
N CHƯƠNG BA MƯƠI LĂM ỗi lo lắng của anh bây giờ là cô sẽ có hành động dại dột đối với bản thân mình. Kể từ khi biết Amelia Sachs, Rhyme đã chứng kiến những lần hai bàn tay cô cào đầu đến tóe máu. Anh đã chứng kiến mỗi lúc căng thẳng cô lại gặm nát móng tay hoặc bấu sâu móng tay vào da thịt. Anh đã chứng kiến cô lái xe với tốc độ một trăm năm mươi dặm một giờ. Anh không biết chính xác cái gì thúc đẩy cô, nhưng anh biết có cái gì đó trong lòng cô khiến Amelia Sachs hay bị kích động. Bây giờ khi chuyện như thế này xảy ra, bây giờ cô đã gây chết người, sự bối rối có thể khiến cô vượt quá ngưỡng chịu đựng. Sau vụ tai nạn biến Rhyme thành một người đàn ông tàn tật, Terry Dobyns, chuyên gia tâm lý của Sở Cảnh sát New York, đã giải thích với anh rằng, đúng, anh sẽ cảm thấy muốn tự sát. Nhưng không phải sự chán nản thúc đẩy anh hành động. Vì sự chán nản làm cạn kiệt sức lực của anh. Nguyên nhân chính để anh muốn tự sát là sự hỗn hợp các cảm giác tuyệt vọng, hoang mang, bối rối. Đấy chính xác là tâm trạng mà Amelia Sachs – bị săn đuổi, bị phản bội bởi chính bản chất của mình - ngay lúc này đây đang cảm thấy. Tìm ra cô ấy! Là ý nghĩ duy nhất của Rhyme. Phải nhanh chóng tìm ra cô ấy. Nhưng Sachs đang ở đâu? Rhyme vẫn chưa có câu trả lời cho câu hỏi ấy. Anh lại nhìn bằng chứng cứ. Đã không phát hiện được chứng cứ nào từ ngôi nhà lưu động. Lucy và hai đồng sự đã lục soát nó vội vàng – quá vội vàng, tất nhiên. Họ đang trong tâm trạng chỉ muốn săn đuổi – thậm chí đến Rhyme chẳng động đậy nổi người cũng còn thường xuyên cảm thấy điều này – và nhóm cảnh sát chỉ muốn ngay tức khắc lần theo dấu vết kẻ thù vừa giết chết bạn họ. Những manh mối duy nhất mà Rhyme có về nơi giam giữ Mary Beth – về nơi Garrett và Sachs bây giờ đang nhắm tới - ở ngay
trước mắt anh. Nhưng chúng khó hiểu chẳng kém bất cứ manh mối nào anh từng phân tích. TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - CỐI XAY • Sơn nâu dây trên quần • Cây gọng vó • Đất sét • Rêu nước • Nước trái cây • Sợi giấy • Viên chua làm mồi câu • Đường • Camphene • Chất cồn • Dầu hỏa • Men nở Chúng ta cần thêm chứng cứ! Rhyme nổi khùng lên với chính mình. Nhưng chúng ta không có thêm được bất cứ một mẩu chứng cứ chết tiệt nào. Sau vụ tai nạn, khi nỗi đau khổ của Rhyme đang còn ở giai đoạn phủ nhận thực tế, anh đã cố gắng tập trung sức mạnh ý chí siêu nhiên để khiến cho cơ thể cử động. Anh đã nhớ lại các câu chuyện về việc người ta có thể nâng ô tô lên hay có thể chạy với tốc độ không thể tưởng tượng nổi nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng rốt cuộc anh cũng đành phải chấp nhận rằng những kiểu sức mạnh ấy đã vĩnh viễn rời xa anh. Tuy nhiên, anh vẫn còn một kiểu sức mạnh khác – sức mạnh trí óc. Hãy tư duy đi! Tất cả những gì mày có là bộ não của mày và các chứng cứ đang ở trước mày kia. Các chứng cứ đó sẽ không thay đổi. Bởi vậy, hãy thay đổi cách mày tư duy.
Được rồi, hãy bắt đầu lại. Rhyme đọc bảng chứng cứ lần nữa. Chìa khóa mở cửa ngôi nhà lưu động đã được xác định. Men nở là từ cối xay. Đường là từ thức ăn hoặc nước trái cây. Camphene là từ một chiếc đèn đốt cổ. Vết sơn là từ nơi cô gái đang bị giam giữ. Dầu hỏa là từ con thuyền. Chất cồn có thể là từ bất cứ cái gì. Chỗ đất trong gấu quần gã trai thì sao? Nó không bộc lộ đặc điểm riêng biệt nào và… Hẵng hượm…chỗ đất. Rhyme nhớ ra rằng sáng hôm qua anh và Ben đã làm xét nghiệm đối với các mẫu đất lấy từ giày và thảm trải sàn xe của nhân viên làm việc tại trụ sở chính quyền quận. Anh đã yêu cầu Thom chụp từng ống nghiệm và ghi đằng sau mỗi bức ảnh tên nhân viên. “Ben?” “Gì ạ?” “Đem thử tỷ trọng đống đất cát cậu rũ ra được từ gấu chiếc quần Garrett bỏ lại chỗ cối xay.” Sau khi đất cát đã lắng xuống đáy ống nghiệm, chàng thanh niên nói: “Có kết quả rồi ạ”. “So sánh nó với ảnh chụp các mẫu cậu làm sáng hôm qua.” “Hay, hay.” Nhà động vật học trẻ tuổi gật đầu, cảm thấy ấn tượng trước ý tưởng Rhyme đưa ra. Anh ta lật các bức ảnh, dừng lại. “Tôi đã tìm thấy một bức phù hợp!”, anh ta nói. “Gần như y hệt.” Nhà động vật học chẳng còn do dự khi phát biểu ý kiến nữa, Rhyme hài lòng để ý thấy như thế. Và anh ta cũng chẳng còn kiểu nói loanh qua loanh quanh. “Từ giày của ai vậy?” Ben xem ghi chú đằng sau bức anh. “Frank Heller. Anh ta làm việc tại bộ phận Các Công trình Công cộng.” “Anh ta đã đến chưa?” “Tôi sẽ đi hỏi.” Ben biến mất. Vài phút sau, anh ta quay lại, đi cùng là một người đàn ông dáng to ngang mặc sơ mi cộc tay màu trắng. Anh ta do dự nhìn Rhyme. “Ông là cái người hôm qua yêu cầu chúng tôi cậy đất từ giày ra.” Anh ta cười nhưng tiếng cười không được thoải mái. “Frank, chúng tôi lại cần anh giúp đỡ”, Rhyme giải thích. “Đất từ giày của anh phù hợp với đất chúng tôi tìm thấy trên quần áo của
đối tượng.” “Thằng nhãi đã bắt cóc hai cô gái ấy à?”, Frank lẩm bẩm, mặt đỏ lên và trông đầy vẻ tội lỗi. “Đúng vây. Nghĩa là hắn có thể - điều này chưa chắc chắn mấy, tuy nhiên hắn có thể - đang giữ cô gái cách nơi anh sống hai hoặc ba dặm. Anh hãy làm ơn chỉ trên bản đồ chính xác nơi anh sống.” “Không phải tôi sẽ trở thành đối tượng tình nghi hay đại loại như thế chứ?” “Không, Frank. Hoàn toàn không.” “Vì sẽ có người xác nhận cho tôi. Buổi tối nào tôi cũng ở nhà với vợ. Chúng tôi xem ti vi. Các chương trình Jeoprady và Bánh xe May mắn[37] . Đúng giờ như đồng hồ vậy. Tiếp theo là đấu vật giải trí. Thi thoảng ông anh trai vợ tôi tới chơi. Ý tôi là anh ấy nợ tôi tiền nhưng nếu anh ấy chẳng nợ thì anh ấy cũng sẽ xác nhận cho tôi.” “Không sao đâu mà”, Ben trấn an Frank. “Chúng tôi chỉ cần biết nơi anh sống. Trên tấm bản đồ kia kìa.” “Đây... Frank bước tới trước bức tường và đặt tay vào một điểm. Ô D-3. Nó ở phía bắc sông Paquenoke – phía bắc ngôi nhà lưu động nơi Jesse đã bị bắn chết. Có một số con đường nhỏ trong khu vực này, tuy nhiên không có thị trấn nào được đánh dấu. “Xung quanh nơi anh sống ra sao?” “Chủ yếu là rừng và các cánh đồng cỏ.” “Anh có biết chỗ nào mà người ta có thể giấu một nạn nhân bị bắt cóc không?” Frank xem chừng nghiêm chừng nghiêm túc cân nhắc câu trả lời. “Không, tôi không biết.” Rhyme nói: “Tôi hỏi anh một câu được không?” “Cộng thêm vào những câu ông đã hỏi?” “Đúng vậy.” “Tôi nghĩ là được.” “Anh biết về những cái vũng Carolina chứ?” “Tất nhiên. Mọi người đều biết mà. Các tảng thiên thạch rơi xuống đã tạo ra chúng. Từ lâu rồi. Từ khi lũ khủng long bị tuyệt diệt.” “Có cái vũng nào ở gần nơi anh sống không?” “Ồ, có chứ, chắc chắn rồi.”
Rhyme đã hy vọng anh ta sẽ nói như thế. Frank tiếp tục: “Phải có đến gần trăm cái”. Rhyme đã hy vọng anh ta đừng nói như thế. Đầu ngả ra đằng sau, mắt nhắm nghiền, anh đang thầm xem xét lại các bảng chứng cứ. Jim Bell và Mason quay lại, cùng với Thom và Ben, nhưng Rhyme không chú ý gì đến họ. Anh đang ở trong thế giới riêng của mình, một thế giới trật tự của khoa học, bằng chứng, logic, một thế giới nơi anh không cần phải vận động, một thế giới nơi may mắn thay những tình cảm anh dành cho Amelia và những gì cô đã làm không được phép bước vào. Các chứng cứ hiện lên trong đầu óc anh rõ ràng y như anh đang đăm đăm nhìn lên tấm bảng viết phấn. Thực tế, khi nhắm mắt, anh còn có thể nhìn nhận chúng rõ rãng hơn. Sơn đường men nở đất camphene sơn đất đường...men nở...men nở... Một ý nghĩ lướt qua tâm trí Rhyme, rồi chuồi đi mất. Quay lại nào, quay lại nào, quay lại nào... Đây rồi! Anh đã chộp được nó. Rhyme mở choàng mắt. Anh nhìn vào cái góc trống của căn phòng. Bell nhìn theo anh. “Gì thế, Lincoln?” “Anh có máy pha cà phê ở đây chứ?” “Cà phê à?”, Thom hỏi, vẻ không hài lòng. “Không caffeine đâu nhé. Huyết áp của anh đang...” “Không. Tôi không muốn uống cà phê cà phiếc gì hết. Tôi muốn một cái phin lọc cà phê.” “Phin lọc? Tôi sẽ lấy một cái cho anh.” Bell rời khỏi phòng và lát sau quay lại. “Đưa nó cho Ben” Rhyme yêu cầu. Rồi anh bảo nhà động vật học: “Hãy xem những sợi giấy từ cái phin lọc này có phù hợp với những sợi giấy chúng ta đã tìm thấy trên quần áo của Garrett bị bỏ lại chỗ cối xay không”. Ben chà cho một ít sợi giấy từ cái phin lọc rơi xuống phiến kính. Anh ta chăm chú soi qua thấu kính của chiếc kính hiển vi đối chiếu,
điều chỉnh tiêu cự rồi di chuyển bệ kính hiển vi để hai mẫu sát lại bên cạnh nhau trong khung ngắm được chia đôi. “Màu sắc thì hơi khác, Lincoln, nhưng cấu tạo và kích thước gần như y hệt.” “Tốt” Rhyme nói, ánh mắt anh bây giờ đặt vào chiếc áo phông dây nước trái cây. Anh bảo Ben: “Vết nước trái cây, vết nước trái cây trên chiếc áo phông ấy. Hãy nếm lại xem. Nó có hơi chua không? Hay chát?”. Ben nếm. “Có lẽ là hơi chát. Khó nói được chắc chắn.” Ánh mắt Rhyme chuyển sang tấm bản đồ, hình dung ra Lucy và hai đồng sự của cô đang sắp sửa đuổi kịp Sachs ở chỗ nào đâu đó giữa bạt ngàn cây cối hoang dã, súng nhăm nhăm nhả đạn. Hoặc Garrett đã lấy được súng của Sachs và biết đâu đang chĩa nó vào cô. Hoặc cô đang gí súng vào chính đầu mình, siết cò. “Jim”. Rhyme nói. “Tôi cần anh lấy cái này cho tôi. Để làm mẫu chứng.” “Được. Ở chỗ nào vậy?” Bell lục túi quần tìm chùm chìa khóa. “Ồ, anh chẳng cần đi xe đâu.” † † † † † Rất nhiều hình ảnh quay cuồng trong tâm trí Lucy: Jesse Corn ngày đầu tiên đến làm việc tại văn phòng cảnh sát trưởng, giày đồng phục đánh xi bóng loáng nhưng bít tất lại cọc cạch, vì anh đã mặc quần áo từ trước khi trời sáng để chắc chắn không bị muộn giờ. Jesse Corn, ngồi xổm đằng đuôi một chiếc xuồng máy, vai chạm vai cô, trong lúc Barton Snell – nhăm nhăm khẩu súng hơi – bắn bừa bãi vào mấy người cảnh sát. Chính nhờ sự hài hước nhẹ nhàng của Jesse mà cái gã to xác ấy chịu hạ khẩu Winschester xuống. Jesse Corn, tự hào lái chiếc xe tải cỡ nhỏ mới tậu màu đỏ tươi đến trụ sở chính quyền quận vào ngày được nghỉ làm và cho đám trẻ con leo lên thùng xe, chạy tới chạy lui khắp bãi đỗ. Đám trẻ đồng thanh hét “Êêêêê” mỗi lần anh phi xe qua các con lươn giảm tốc.
Những hình ảnh này – và hàng chục hình ảnh khác – cứ ám ảnh Lucy trong lúc cô, Ned và Trey băng ngang một cánh rừng sồi lớn. Jim Bell đã bảo họ chờ ở chỗ ngôi nhà lưu động để anh ta cử Steve Farr, Frank và Mason đến, tiếp tục truy đuổi. Anh ta muốn cô và hai người kia quay lại văn phòng. Nhưng họ thậm chí không mất công biểu quyết cho vấn đề đó. Thành kính hết mức có thể, họ đưa xác Jesse vào bên trong ngôi nhà, lấy tấm vải phủ lên. Rồi cô nói với Jim rằng họ sẽ bám theo hai kẻ chạy trốn và chẳng có gì trên đất đai này của Chúa ngăn cản họ được. Garrett và Amelia đang di chuyển vội vã, không buồn tìm cách xóa dấu vết. Bọn họ đi dọc theo một lối mòn tiếp giáp khu vực đầm lầy. Mặt đất mềm và dấu chân bọn họ in rõ ràng. Lucy nhớ nhận xét mà Amelia nói với Rhyme về hiện trường vụ án tại Bến tàu kênh Nước đen khi nữ cảnh sát tóc đỏ chăm chú nhìn những dấu chân để lại đấy: Trọng lượng của Billy Stail dồn vào các ngón chân, nghĩa là cậu ta đã chạy về phía Garrett cứu Mary Beth. Lucy bây giờ cũng nhận thấy điều này ở dấu chân hai kẻ bị truy đuổi. Bọn họ đang chạy hết tốc lực. Bởi vậy mà Lucy bảo hai người đồng nghiệp: “Chúng ta chạy thôi”. Và bất chấp nóng nực, kiệt sức, họ bắt đầu chạy. Họ chạy được một dặm cho tới lúc mặt đất trở nên khô ráo hơn và họ chẳng còn nhìn thấy được các dấu chân nữa. Rồi dấu vết kết thúc ở một cánh đồng cỏ rộng, họ không biết con mồi của họ đã đi đằng nào. “Mẹ kiếp”, Lucy lẩm bẩm, hổn hển thở và tức điên lên vì mất dấu vết. “Mẹ kiếp!”. Họ đi xung quanh bãi cỏ, xem xét từng gang tay một nhưng không thể phát hiện được lối mòn hay manh mối nào chỉ ra hướng Garrett và Amelia Sachs đã đi. “Chúng ta làm gì đây?”, Ned hỏi. “Gọi điện về và chờ đợi”, Lucy lẩm bẩm. Cô dựa người vào một cái cây, bắt lấy chai nước Trey ném cho, uống cạn. Cô nhớ lại: Jesse Corn, rụt rè khoe khẩu súng màu bạc sáng lấp lánh anh dự định dùng tham gia các cuộc thi đấu của Hiệp hội Súng trường
Quốc gia. Jesse Corn, đưa cha mẹ anh đến nhà thờ giáo phái Baptist ở phố Locust. Các hình ảnh cứ quay cuồng trong tâm trí Lucy. Chúng khiến cô đau đớn và khiến cơn giận dữ của cô thêm sôi sục. Nhưng Lucy không cố gắng xua đuổi chúng, cô không muốn cơn giận dữ của cô nguôi ngoai đi khi cô tìm thấy Amelia Sachs. † † † † † Kêu két một tiếng, cánh cửa ngôi nhà gỗ hé mở. “Mary Beth”, Tom uốn éo gọi. “Cô em ra đây nào, ra đây vui vẻ nào.” Gã và nhà truyền giáo thì thào với nhau. Rồi Tom lại nói: “Nào, nào, cưng ơi. Đừng sợ. Bọn anh không làm cưng đau đâu. Hôm qua bọn anh chỉ đùa tí thôi mà”. Mary Beth đứng thẳng người, áp sát vào bức tường, phía sau cánh cửa. Không hé răng. Cầm chặt cây chùy bằng cả hai tay. Cánh cửa mở ra rộng hơn, những chiếc bản lề lại kêu ken két. Một cái bóng hắt xuống sàn. Tom bước vào, vẻ thận trọng. “Nó ở đâu?”, nhà truyền giáo thì thào hỏi từ ngoài hàng hiên. “Có một cái hầm chứa”, Tom nói. “Tao đánh cuộc là nó ở dưới ấy.” “Ờ, đưa nó lên và biến thôi. Tao không thích chỗ này.” Tom bước thêm một bước vào. Gã cầm con dao dài lưỡi mỏng dính. Mary Beth biết về triết lý chiến tranh của người Anh điêng và một trong số các nguyên tắc là nếu việc hòa đàm thất bại và cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi, người ta sẽ không bông lơn hay đe dọa mà người ta sẽ tấn công với tất cả sức lực của mình. Điểm mấu chốt của trận đánh không là nói để kẻ thù chịu khuất phục hay giải thích hay chửi rủa, mà điểm mấu chốt là tiêu diệt. Và bởi vậy cô bình tĩnh từ phía sau cánh cửa bước ra, thét to như một linh hồn Manitou của người Anh điêng và vung cây chùy lên bằng cả hai tay trong khi Tom xoay phắt lại, mắt trợn tròn kinh hoàng. Nhà truyền giáo kêu lên: “Cẩn thận!”.
Tom không có cơ hội. Cây chùy nện mạnh vào phía trước tai gã, làm hàm gã vỡ toác, và bổ xuống đến nửa cổ họng. Gã buông con dao, ôm chặt lấy cổ họng, khuỵu gối, tắc thở. Gã bò giật lùi ra ngoài. “Giúp…giúp tao”, Tom hổn hển nói. Nhưng không có sự giúp đỡ nào – nhà truyền giáo chỉ cúi xuống, túm cổ áo Tom ra khỏi hàng hiên, để mặc gã ngã vật ra đất, ôm bộ mặt vỡ toác, trong lúc Mary Beth quan sát qua cửa sổ. “Đồ ngu.” Nhà truyền giáo lẩm bẩm với gã đồng đảng, rồi rút súng từ túi quần sau. Mary Beth đẩy cho cánh cửa đóng sập lại, trở về chỗ nấp, lau hai bàn tay ướt mồ hôi, nắm chặt cây chùy hơn. Cô nghe thấy tiếng lên đạn. “Mary Beth, tao có súng đây và mày chắc đã hiểu rằng trong hoàn cảnh này tao không ngần ngại gì mà không sử dụng nó. Hãy ra đi. Nếu mày không ra, tao sẽ bắn và có thể bắn trúng mày đấy.” Mary Beth khom mình dựa người vào bức tường phía sau cánh cửa, chờ đợi tiếng súng nổ. Nhưng nhà truyền giáo không bắn. Đó chỉ là trò đánh lừa. Gã đá mạnh cánh cửa và nó đập vào người Mary Beth, làm cô choáng váng mất một lát, ngã lăn quay. Nhưng khi gã bắt đầu bước vào, cô đá cho cánh cửa đóng lại cũng mạnh chẳng kém. Gã chẳng hề ngờ đến bất cứ sự phản kháng nào và phiến gỗ nặng trịch đập vào vai gã, khiến gã loạng choạng. Mary Beth bước về phía gã, vung cây chùy giáng vào mục tiêu duy nhất trên cơ thể gã mà cô giáng tới được – khuỷu tay. Tuy nhiên, gã thụp xuống đúng lúc hòn đá sắp giáng vào gã và cô bị trượt. Đà của cú vung mạnh khiến cây chùy tuột khỏi hai bàn tay ướt mồ hôi của cô, lướt dọc theo sàn nhà. Không có thời gian để lấy lại. Chạy thôi! Mary Beth nhảy phốc qua nhà truyền giáo trước khi gã kịp xoay người nhả đạn, và cô guồng chân chạy ra ngoài. Thế là xong! Thế là cuối cùng cũng thoát khỏi cái chốn khốn kiếp này! Mary Beth chạy về phía tay trái, quay lại lối mòn mà kẻ bắt cóc đã đưa cô đi qua cách đây hay ngày, cái lối mòn tiếp giáp với một cái vũng Carolina lớn. Đến góc ngôi nhà gỗ, cô rẽ, nhằm hướng cái vũng. Và lao thẳng vào vòng tay của Garrett Hanlon.
“Không!”, Mary Beth kêu lên. “Không!” Gã trai chiếu ánh mắt tức giận. Gã cầm một khẩu súng. “Chị ra ngoài bằng cách nào? Bằng cách nào?” Gã tóm chặt cổ tay Mary Beth. “Để cho tao đi!” Cô cố gắng rút tay, nhưng nắm tay Garrett cứng như thép. Đi cùng Garrett là một phụ nữ nét mặt nghiêm trang, xinh đẹp, với mái tóc đỏ buông dài. Cũng giống Garrett, quần áo chị ta trông hết sức bẩn thỉu. Người phụ nữ câm lặng, ánh mắt mờ đục. Xem chừng chị ta không hề ngạc nhiên trước sự xuất hiện đột ngột của cô gái. Chị ta trông như đờ đẫn vì thuốc. “Mẹ kiếp.” Giọng nhà truyền giáo cất lên. “Đồ chó cái chết giẫm!” Gã rẽ ở góc ngôi nhà và thấy Garrett đang chĩa súng vào mặt gã. Gã trai thét: “Mày là ai? Mày làm gì ở nhà tao? Mày làm gì Mary Beth?”. “Nó tấn công chúng tao! Hãy nhìn bạn tao xem. Hãy nhìn…” “Vứt cái kia đi”, Garrett gầm lên, hất đầu chỉ khẩu súng trong tay nhà truyền giáo. “Vứt nó đi, nếu không tao sẽ giết mày! Tao sẽ giết. Tao sẽ bắn bay cái sọ khốn kiếp của mày!” Nhà truyền giáo nhìn bộ mặt và khẩu súng của gã trai. Garrett lên đạn. “Lạy Chúa…” Nhà truyền giáo thả khẩu súng của gã xuống cỏ. “Bây giờ thì hãy cút khỏi đây! Cút.” Nhà truyền giáo quay đầu, rồi đỡ Tom đứng lên, hai gã lảo đảo đi về phía rừng. Garrett bước về phía cửa trước của ngôi nhà gỗ, kéo theo Mary Beth. “Vào nhà! Chúng ta phải vào nhà. Bọn họ đang đuổi theo chúng ta. Chúng ta không thể để bọn họ trông thấy. Chúng ta sẽ trốn dưới tầng hầm. Hãy xem bọn chúng đã làm gì với các ổ khóa! Bọn chúng đã phá vỡ cánh cửa của tôi!” “Không, Garrett!”, Mary Beth nói bằng giọng khản đặc. “Tôi sẽ không quay vào đó đâu.” Nhưng Garrett không nói gì, cứ thế kéo cô vào. Người phụ nữ tóc đỏ câm lặng loạng choạng bước vào. Garrett đẩy cho cánh cửa đóng lại, nhìn phiến gỗ vỡ toác, các ổ khóa long ra, vẻ mặt sững sờ. “Không!”, gã kêu lên, trông thấy những mảnh thủy tinh trên sàn –
dấu vết của chiếc lọ đựng con bọ cánh cứng có hình dáng khủng long. Mary Beth, hoảng hốt thấy có vẻ như việc khiến gã trai giận dữ nhất chính là việc một con bọ của gã đã trốn thoát, bước tới giáng một cái tát vào bộ mặt gã. Gã chợp mắt ngạc nhiên, lảo đảo lùi lại. “Đồ ngu!”, cô thét. “Bọn chúng suýt giết chết tao.” Gã trai bối rối. “Tôi xin lỗi!” Giọng gã lạc đi. “Tôi không biết bọn chúng. Tôi tưởng không có ai xung quanh đây. Tôi không định bỏ chị một mình lâu vậy. Tôi đã bị bắt.” Garrett đẩy những mảnh gỗ vụn vào dưới cánh cửa để chèn cho nó không mở ra. “Bị bắt?”, Mary Beth hỏi. “Vậy cậu đang làm gì ở đây?” Rốt cuộc thì người phụ nữ tóc đỏ cũng lên tiếng. Bằng giọng lẩm bẩm, chị ta nói: “Tôi đã cứu cậu ấy ra khỏi nhà giam. Để chúng tôi có thể tìm thấy cô và đưa cô trở về. Và cô sẽ có thể xác nhận chuyện gã đàn ông mặc quần yếm mà cậu ấy kể”. “Gã đàn ông nào?”, Mary Beth bối rối hỏi. “Tại Bến tàu kênh Nước đen. Gã đàn ông mặc chiếc quần yếm màu vàng, kẻ đã giết Billy Stail.” “Nhưng…”, Mary Beth lắc đầu. “Chính Garrett đã giết Billy. Hắn đập cậu ta bằng một cái xẻng. Tôi trông thấy mà. Sự việc xảy ra ngay trước mắt tôi. Rồi hắn bắt cóc tôi.” Mary Beth chưa từng trông thấy một vẻ mặt như thế ở bất cứ ai khác. Hoàn toàn choáng váng, sững sờ. Người phụ nữ tóc đỏ vừa quay về phía Garrett thì có cái gì đó đập vào mắt chị ta: những dãy trái cây và rau đóng hộp hiệu Farmer John. Chị ta chậm chạp bước tới chỗ chiếc bàn, y như trong cơn mộng du và cầm một hộp lên. Nhìn chằm chằm hình ảnh in trên nhãn hộp – ông chủ trang trại tóc vàng tươi cười mặc chiếc quần yếm màu nâu vàng và sơ mi trắng. “Cậu đã bịa đặt?”, người phụ nữ thì thào bảo Garrett, giơ cái hộp lên. “Không có gã đàn ông nào. Cậu đã nói dối tôi.” Garrett bước tới, nhanh như một con châu chấu, rút đôi còng tay ra khỏi thắng lưng người phụ nữ tóc đỏ. Gã bập còng vào cổ tay chị ta. “Tôi xin lỗi, Amelia”, gã nói. “Nhưng nếu tôi kể cho cô nghe sự thật, cô sẽ chẳng đời nào cứu tôi ra. Đó là cách duy nhất. Tôi phải
quay lại đây. Tôi phải quay lại với Mary Beth.”
CHƯƠNG BA MƯƠI SÁU TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - CỐI XAY • Sơn nâu dây trên quần • Cây gọng vó • Đất sét • Rêu nước • Nước trái cây • Sợi giấy • Viên chua làm mồi câu • Đường • Camphene • Chất cồn • Dầu hỏa • Men nở Ánh mắt Lincoln Rhyme lướt qua lướt lại bảng chứng cứ một cách ám ảnh. Từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Thêm lần nữa. Quái quỷ thế nào mà cái máy tách hợp chất chết tiệt chạy lâu vậy? Rhyme tự hỏi. Jim Bell và Mason Germain ngồi gần đó, cả hai đều im lìm. Lucy đã gọi điện về cách đấy mấy phút, bảo rằng họ bị mất dấu vết và đang chờ đợi ở một địa điểm nằm về phía bắc ngôi nhà lưu động – ôC-5. Chiếc máy tách hợp chất kêu ầm ầm và tất cả mọi người trong căn phòng vẫn không ai nói gì, chờ đợi kết quả. Những phút im lặng kéo dài cuối cùng cũng bị phá vỡ khi giọng Ben Kerr cất lên. Anh ta khẽ khàng bảo Rhyme: “Bọn bạn từng đặt biệt hiệu cho tôi, ông biết đấy. Có thể ông đang thắc mắc”. Rhyme nhìn Ben. “Big Ben. Giống như tên chiếc đồng hồ ở nước Anh ấy. Có thể ông đang thắc mắc.” “Không. Cậu muốn nói hồi đi học ấy hả?”
Một cái gật đầu. “Hồi trung học. Mười sáu tuổi, tôi đã cao 1m90. Tôi rất hay bị giễu cợt. Big Ben. Và cả những biệt hiệu khác nữa. Vì thế tôi chẳng bao giờ cảm thấy thoải mái cho lắm về hình dáng bên ngoài của mình. Tôi nghĩ có lẽ đó là lý do tại sao tôi đã cư xử hơi kỳ cục lúc mới gặp ông.” “Bọn bạn từng khiến cậu trải qua khoảng thời gian khó khăn, phải không?”. Rhyme hỏi, vừa để tỏ ý chấp nhận lời xin lỗi vừa để lái câu chuyện sang hướng khác. “Tất nhiên rồi. Cho tới khi tôi tham gia đấu vật ở trường và hạ Darryl Tennison sau 3,2 giây, còn cậu ta thì phải lâu hơn như thế nhiều mới hồi phục được.” “Tôi từng thường xuyên bỏ giờ giáo dục thể chất”, Rhyme bảo Ben. “Tôi bịa đặt ra các lý do của bác sĩ, của cha mẹ tôi – tôi phải nói là các lý do nghe khá xác đáng đấy – rồi lẻn vào phòng thí nghiệm.” “Ông đã như thế à?” “Ít nhất cũng mỗi tuần hai lần.” “Và ông làm thí nghiệm ?” “Tôi hay đọc, nghịch ngợm với các thiết bị. Có một vài lần, tôi nghịch ngợm với Sonja Metzger.” Thom và Ben bật cười. Nhưng Sonja, bạn gái đầu tiên của Rhyme, lại khiến anh nghĩ về Amelia Sachs, và anh không thích cái kết cục mà những ý nghĩ này dẫn anh tới. “Được rồi”, Ben nói. “Chúng ta đã có kết quả.” Màn hình máy vi tính bừng hiện kết quả phân tích mẫu chứng mà lúc trước Rhyme yêu cầu Jim Bell cung cấp. Anh chàng to lớn gật đầu. “Đây là kết quả: dung dịch chứa năm mươi phần trăm chất cồn. Nước, với nhiều khoáng chất.” “Nước giếng”, Rhyme nói. “Rất có khả năng”, nhà động vật học tiếp tục. “Tiếp theo là dấu hiệu của formaldehyde, phenol, fructose, dextrose, cellulose.” “Đối với tôi thế là đủ”, Rhyme tuyên bố. Anh tự nhủ: Con cá có lẽ vẫn còn ở trên cạn nhưng phổi của nó vừa mọc ra. Anh bảo Bell và Mason: “Tôi đã mắc sai lầm. Một sai lầm lớn. Tôi phát hiện được men nở và tôi cho rằng đó là từ chỗ cối xay, chứ không phải từ nơi
Garrett đang thực sự giữ Mary Beth. Nhưng tại sao một cái cối xay lại tạo ra men nở? Người ta chỉ tìm thấy men nở ở hiệu bánh... hoặc – anh nhướn lông mày nhìn Bell - ở chỗ nào đấy mà người ta đang ủ ngũ cốc”. Anh hất đầu chỉ chiếc chai trên bàn. Chất lỏng bên trong là thứ Rhyme vừa yêu cầu Bell lấy lên từ tầng hầm văn phòng cảnh sát trưởng. Nó là rượu lậu một trăm mười phần trăm độ chuẩn – đựng bằng những cái bình trước đây đựng nước trái cây mà Rhyme trông thấy một cảnh sát dọn dẹp đi khi anh chiếm căn phòng này để biến thành phòng thí nghiệm. Đó là mẫu Ben vừa cho chạy qua máy phân tích hợp chất. “Đường và men nở”, nhà hình sự học tiếp tục. “Chúng là thành phần trong rượu. Và cellulose trong mẻ “trăng sáng” kia...”. Rhyme nhìn màn hình máy vi tính. “Có lẽ là từ các sợi giấy – tôi đồ rằng khi người ta cất rượu lâu, người ta phải lọc.” “Đúng”, Bell khẳng định. “Và