Cai Ghe Trong

phần lớn bạn bè tôi và bố chúng. Thi thoảng

phần lớn bạn bè tôi và bố chúng. Thi thoảng

phần lớn bạn bè tôi và bố chúng. Thi thoảng chúng lại bị ăn đòn và bố chúng lúc nào cũng quát tháo chúng. Cô biết đấy, đại loại như: “Tại sao mày không đạt được mục tiêu đó?”, “Tại sao phòng mày lộn xộn thế?” , “Tại sao mày quên làm bài tập?.” Nhưng bố tôi thì luôn luôn nhẹ nhàng với tôi. Cho tới khi…” Giọng Garrett nhỏ đi. “Tiếp tục nào.”

“Tôi không biết.” Lại một cái nhún vai nữa. Sachs kiên trì. “Cho tới khi làm sao, Garrett?” Im lặng. “Hãy nói ra nào.” “Tôi không muốn nói với cô. Thật là một việc ngớ ngẩn.” “Chà, không phải nói với tôi. Nói với ông ấy cơ, bố cậu”. Sachs hất đầu chỉ chiếc ghế. “Bố cậu đang ở kia, trước mặt cậu. Hãy tưởng tượng như thế.” Gã trai dịch người về phía trước, nhìn chằm chằm chiếc ghế, gần như là ghê sợ.” Stu Hanlon đang ngồi kia. Hãy nói với ông ấy”. Trong một khoảnh khắc, ánh mắt gã trai xuất hiện vẻ chờ đợi khiến Sachs muốn phát khóc. Cô biết họ đã đến gần điều gì đó quan trọng và cô lo sợ gã sẽ chùn lại. “Hãy kể cho tôi nghe về ông ấy.” Cô nói, hơi thay đổi chiến thuật. “Hãy kể cho tôi nghe xem ông ấy trông như thế nào. Ông ấy hay mặc quần áo ra sao”. Sau một chút im lặng, gã trai nói: “Bố tôi cao và hơi gầy. Tóc ông thẫm màu và ngay sau khi cắt thì chúng cứ dựng đứng hết lên. Trong vòng vài ngày sau đó ông phải bôi một thứ keo có mùi thơm thơm để tóc ẹp xuống. Ông bao giờ cũng ăn mặc khá tươm tất. Ông thậm chí không mặc quần bò, tôi nghĩ là ông không mặc. Ông bao giờ cũng mặc sơ mi, cô biết đấy, có cổ cồn. Và quần có gấu lơ-vê”. Sachs nhớ lại rằng khi khám xét phòng gã cô đã chú ý tới việc gã không có quần bò mà chỉ có quần vải gấu lơ-vê. Một nụ cười yếu ớt hiện trên gương mặt Garrett.” Ông hay thả cho một đồng hai mươi nhăm xu rơi dọc theo ống quần và cố gắng dùng gấu lơ-vê bắt lấy nó, nếu được thì ông sẽ cho em gái tôi và tôi. Nói chung, đó là trò mà chúng tôi hay chơi. Vào dịp Giáng sinh, ông mang về nhà những đồng đô la bạc và cứ thả chúng trượt dọc theo ống quần cho tới lúc anh em tôi bắt được.” Những đồng đô la bạc trong cái lọ đựng ông bắp cày, Sachs nhớ lại. “Ông ấy có sở thích gì không? Chơi thể thao chẳng hạn?” “Bố tôi thích đọc. Ông hay đưa chúng tôi tới hiệu sách và đọc cho chúng tôi nghe. Rất nhiều sách về lịch sử và du lịch. Và sách về thiên nhiên. Ồ, ông còn hay đi câu cá. Gần như cuối tuần nào cũng đi.”

“Chà, hãy tưởng tượng rằng ông ấy đang ngồi trên chiếc ghế trống kia, mặc chiếc quần đẹp cùng với chiếc sơ mi có cổ cồn. Và ông ấy đang đọc một cuốn sách. Được không?”. “Tôi nghĩ là được.” “Ông ấy đặt cuốn sách xuống…” “Không, đầu tiên thì ông, nói chung, sẽ đánh dấu đoạn đang đọc. Ông có vô số các cái đánh dấu sách. Ông gần như sưu tầm chúng. Em gái tôi và tôi đã tặng ông một cái vào dịp Giáng sinh trước khi xảy ra tai nạn.” “Được rồi. Ông ấy đánh dấu đoạn đang đọc và đặt cuốn sách xuống. Ông ấy nhìn cậu. Bây giờ, cậu có cơ hội để nói một điều gì đó với ông ấy. Cậu sẽ nói gì?”. Garrett nhún vai, lắc đầu. Nhìn xung quanh căn nhà lưu động tối lờ mờ, vẻ căng thẳng. Nhưng Sachs sẽ không mặc kệ. Cuộc đấu tay đôi… Cô nói: “Hãy nghĩ về một điều cụ thể mà cậu muốn nói với ông ấy. Một tai nạn chẳng hạn. Chuyện gì đó khiến cậu buồn bã. Có chuyện gì như thế không?”. Nhưng bố tôi luôn luôn nhẹ nhàng với tôi. Cho tới khi… Gã trai nắm chặt hai bàn tay vào nhau, tay nọ xát vào tay kia, móng tay búng tanh tách. “Hãy nói với ông ấy đi, Garrett.” “Được rồi. Tôi nghĩ là có một chuyện.” “Chuyện gì?” “Ờ, buổi tối đó… buổi tối bố mẹ và đứa em gái tôi qua đời.” Sachs thoáng rùng mình. Cô biết rằng với chuyện này họ có lẽ sẽ trải qua những khoảnh khắc đầy khó khăn. Trong giây lát, cô nghĩ tới việc rút lui. Nhưng rút lui vốn không phải bản chất của Amelia Sachs và bây giờ cô cũng không muốn hành động như vậy. “Buổi tối ấy làm sao? Cậu muốn nói với bố cậu về việc gì đó đã xảy ra à?” Garrett gật đầu. “Đấy, bố mẹ và đứa em gái tôi chuẩn bị lái xe đi ăn tối. Đó là một ngày thứ Tư. Thứ Tư hàng tuần chúng tôi lại tới quán Bennigan. Tôi thích món gà tẩm bột rán. Tôi luôn luôn gọi món gà tẩm bột rán kèm khoai tây chiên và một lon Coke. Còn Kaye, em gái tôi thì gọi hành thái khoanh tẩm bột rán, rồi anh em tôi chia nhau

chỗ hành và khoai tây. Đôi khi, chúng tôi bóp chai xốt cà chua ra vẽ lên một cái đĩa đã hết thức ăn.” Bỗng mặt Garrett tái nhợt và phiền muộn. Biết bao nhiêu đau khổ hiển hiện trong ánh mắt gã, Sachs nghĩ. Cô đấu tranh dằn những tình cảm riêng xuống. “Cậu nhớ gì về buổi tối ấy?”. “Lúc đó là ở bên ngoài trời. Trên lối vào nhà. Họ đã ở trong xe, bố, mẹ và em gái. Họ chuẩn bị đi ăn. Và”, Garrett nuốt nước bọt, “vấn đề là họ chuẩn bị đi mà không có tôi”. “Thế ư?” Gã gật đầu. “Tôi về nhà muộn. Trước đó, tôi vào rừng ở Bến tàu kênh Nước đen. Tôi hầu như quên khuấy mất thời gian. Tôi đã phải chạy, nói chung, mất nửa dặm, hoặc đại loại vậy. Nhưng bố tôi không cho tôi lên. Ông hẳn rất tức giận vì tôi về nhà muộn. Tôi muốn lên xe biết bao. Trời rất lạnh. Tôi nhớ là tất cả chúng tôi đều run cầm cập. Tôi nhớ là có sương giá bám trên các cửa sổ xe. Nhưng ba người dứt khoát không cho tôi lên”. “Biết đâu bố cậu không trông thấy cậu. Vì cửa sổ xe bị sương giá bám.” “Không, ông trông thấy tôi mà. Tôi ở ngay phía ông ngồi. Tôi đập ầm ầm vào kính cửa sổ và ông trông thấy tôi nhưng không mở cửa. Ông chỉ cau màu và quát tôi mãi. Trong khi tôi cứ bám riết lấy ý nghĩ: Bố điên tiết với mình, còn mình thì lạnh và mình sẽ chẳng được ăn món gà tẩm bột rán kèm khoai tây chiên. Mình sẽ chẳng được ăn tối cùng gia đình”. Nước mắt chảy dài trên má Garrett. Sachs muốn quàng tay ôm lấy vai gã trai, tuy nhiên cô vẫn ngồi nguyên tại chỗ. “Tiếp tục nào”. Cô hất đầu chỉ chiếc ghế. “Hãy trò chuyện với bố cậu. Cậu muốn nói gì với ông ấy?” Garrett nhìn Sachs, nhưng cô chỉ chiếc ghế. Cuối cùng, Garrett cũng quay về phía nó. “Trời lạnh lắm”, gã hổn hển. “Trời lạnh và tôi muốn lên xe. Tại sao bố tôi chẳng cho tôi lên xe chứ?”. “Không, hãy nói với ông ấy. Hãy tưởng tượng rằng ông ấy đang ở kia.” Sachs nghĩ: Đây chính là cái cách Rhyme vốn vẫn thúc ép cô tưởng tượng rằng mình là đối tượng tại hiện trường vụ án. Thực hiện điều ấy thật khổ sở vô cùng và bây giờ cô cảm nhận được hết

sức rõ ràng nỗi hãi sợ của gã trai. Tuy nhiên, cô không ngừng lại. “Hãy nói với ông ấy – hãy nói với bố cậu”. Garrett lo lắng nhìn chiếc ghế dựa cũ kỹ. Gã vươn người ra phía trước. “Con…” Sachs thì thầm: “Nói đi, Garrett. Không sao đâu. Tôi sẽ không để bất cứ chuyện gì xảy ra với cậu đâu. Hãy nói với ông ấy đi nào.” “Con chỉ muốn đến quán Bennigan cùng bố mẹ và Kaye!” Garrett nức nở nói “Có thế thôi. Nói chung, chỉ để ăn tối, cả nhà mình. Con chỉ muốn đi cùng bố mẹ và Kaye. Tại sao bố không cho con lên xe? Bố trông thấy con chạy tới và bố khóa cửa xe lại. Con có về muộn đến thế đâu!” Rồi Garrett trở nên giận dữ. “Bố khóa con bên ngoài! Bố điên tiết với con và như thế là không công bằng. Việc con đã làm, về nhà muộn… nó không tồi tệ tới mức ấy. Con hẳn đã làm việc gì đó khác khiến bố điên tiết. Việc gì? Tại sao bố không muốn con đi cùng? Hãy nói xem con đã làm việc gì?”. Gã nghẹn giọng. “Hãy trở lại và nói cho con biết đi. Hãy trở lại! Con muốn biết! Con đã làm gì? Hãy nói cho con biết, nói cho con biết, nói cho con biết!” Nức nở, Garrett nhảy lên đá mạnh vào chiếc ghế trống. Nó văng ngang qua căn phòng và đổ nghiêng. Gã túm lấy chiếc ghế, vừa thét lên trong cơn cuồng nộ vừa quật nó xuống sàn. Sachs lùi lại, chớp mắt bàng hoàng trước nỗi tức tối mà cô vừa giải phóng ra. Gã quật chiếc ghế cả chục lần cho tới lúc nó vỡ tan tành thành từng mảnh. Rốt cuộc, Garrett đổ sụp xuống sàn, vòng hai tay ôm lấy mình. Sachs đứng lên và ôm lấy gã trong khi gã vừa nức nở vừa lắc đầu. Năm phút sau, gã thôi khóc, đứng lên, lấy ống tay áo lau mặt. “Garrett”, Sachs thì thầm. Nhưng gã lắc đầu. “Tôi ra ngoài đây”, gã nói, rồi đứng lên đẩy cánh cửa. Sachs ngồi một lát, băn khoăn không biết phải làm gì. Cô hoàn toàn kiệt sức, tuy nhiên cô không nằm xuống tấm nệm mà Garrett để cho cô, không cố gắng ngủ. Cô thổi tắt ngọn đèn lồng và kéo mấy mảnh vải khỏi cửa sổ, rồi buông mình vào chiếc ghế bành mốc meo. Cô vươn người về phía trước, ngửi mùi hăng hăng của cây sả, và quan sát cái bóng ngồi lom khom của gã trai bên ngoài trời, bên một gốc sồi, chăm chú nhìn những bầy đom đóm bay lập lòe khắp khu rừng vây xung quanh gã.

L CHƯƠNG BA MƯƠI HAI inconln Rhyme lẩm bẩm: “Tôi không tin”. Anh vừa nói chuyện với Lucy Kerr đang đầy giận dữ và biết rằng Sachs đã bắn mấy phát vào một cảnh sát dưới gầm cầu Hobeth. “Tôi không tin”, Rhyme thì thầm nhắc lại với Thom. Anh chàng phụ tá là bậc thầy trong việc đương đầu với những cơ thể không còn lành lặn và những tâm hồn không còn lành lặn xuất phát từ những cơ thể bệnh tật. Nhưng đây là một vấn đề khác, khó khăn hơn, và anh ta chẳng thể làm được gì hơn ngoài việc đưa ra ý kiến: “Đây là một sự nhầm lẫn. Đây ắt phải là một sự nhầm lẫn. Amelia không bao giờ hành động như thế”. “Cô ấy không bao giờ”, Rhyme lẩm bẩm. Lần này, sự phủ nhận được đưa ra với Ben. “Không đời nào. Ngay cả là để dọa họ.” Anh tự nhủ rằng Sachs không bao giờ đi bắn vào một đồng nghiệp, ngay cả chỉ để dọa họ. Tuy nhiên, anh cũng nghĩ tới những gì mà người ta khi tuyệt vọng có thể làm. Những sự liều lĩnh điên rồ mà người ta sẵn sàng chấp nhận. (Ôi, Sachs, tại sao em lại hấp tấp và bướng bỉnh đến thế? Tại sao em lại phải giống anh đến thế?) Bell đang ở trong văn phòng phía bên kia hành lang. Anh có thể nghe thấy những lời âu yếm anh ta nói vào điện thoại. Anh đồ là vợ và gia đình viên cảnh sát trưởng vốn không quen với chuyện anh ta về muộn buổi tối, việc thực thi pháp luật tại một thị trấn như Tanner’s Corner có lẽ chẳng đòi hỏi nhiều thời gian như vụ Garrett Hanlon này. Ben Kerr ngồi bên cạnh một chiếc kính hiển vi, hai cánh tay hộ pháp khoanh trước ngực. Anh ta nhìn chằm chằm tấm bản đồ. Khác với viên cảnh sát trưởng, anh ta chẳng hề gọi điện về nhà, và Rhyme băn khoăn tự hỏi liệu anh ta có vợ hay bạn gái không, hay phải chăng toàn bộ cuộc đời của anh chàng bẽn lẽn này chỉ dành cho khoa học và các bí ẩn dưới đáy đại dương. Viên cảnh sát trưởng cúp máy. Anh ta quay vào la-bô. “Anh có thêm ý kiến gì không, Lincoln?”

Rhyme hất đầu chỉ bảng chứng cứ.       TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY • Sơn nâu dây trên quần • Cây gọng vó • Đất sét • Rêu nước • Nước trái cây • Sợi giấy • Viên chua làm mồi câu • Đường • Camphene • Chất cồn • Dầu hỏa • Men nở       Rhyme lặp lại những gì họ đã biết về ngôi nhà nơi đang giam giữ Mary Beth. “Có một cái vũng Carolina trên đường đến chỗ đó hoặc gần chỗ đó. Phân nửa các đoạn đánh dấu ở mấy cuốn sách về côn trùng của hắn liên quan tới sự ngụy trang và màu sơn nâu dây trên quần hắn là màu vỏ cây, bởi vậy chỗ đó có lẽ là trong rừng hoặc bên cạnh rừng. Những cái đèn đốt bằng camphene xuất hiện từ thế kỉ XIX, nên chỗ đó phải được xây dựng lâu rồi, có lẽ là vào thời Victoria. Nhưng những dấu vết khác không hữu ích mấy. Men nở là từ cối xay. Sợi giấy thì từ bất cứ chỗ nào cũng được. Còn nước trái cây và đường? Từ đồ ăn và đồ uống Garrett sử dụng. Tôi hoàn toàn chẳng thể nào…” Điện thoại reo. Ngón đeo nhẫn bên trái của Rhyme động trên bộ phận điều khiển điện tử và anh nhận cuộc gọi. “A lô”, anh nói vào loa ngoài. “Lincoln à”. Anh nhận ra cái giọng nhẹ nhàng, mệt mỏi của Mel Cooper. “Anh có thông tin gì, Mel? Tôi cần chút tin tức tốt lành.”

“Tôi hy vọng là tin tức tốt. Chiếc chìa khóa các anh tìm thấy ấy. Chúng tôi đã tra cứu các tài liệu gốc và cơ sở dữ liệu suốt đêm. Cuối cùng cũng lần ra được xuất xứ của nó.” “Là thế nào?” “Là chìa khóa một cái nhà lưu động do công ty nhà lưu động McPherson Deluxe đóng. Loại nhà này được đóng từ năm 1946 đến đầu thập niên 1970. Công ty đó đã ngừng hoạt động, nhưng theo tài liệu hướng dẫn thì số seri trên chiếc chìa khóa các anh tìm thấy phù hợp với một cái nhà được đóng năm 1969.” “Có mô tả gì không?” “Tài liệu hướng dẫn không thấy in ảnh”. “Khỉ gió. Hãy nói tôi nghe xem, liệu người ta có sống trong một cái nhà lưu động đỗ tại bãi đỗ không? Hay người ta lái nó đi lung tung, giống như lái những chiếc Winnebago?”. “Tôi cho rằng người ta sống trong đó. Chúng có kích thước tám nhân hai mươi. Không phải loại lái đi chỗ này chỗ khác được. Dù sao thì chúng cũng không có động cơ. Khi di chuyển, người ta phải kéo chúng.” “Cảm ơn, Mel. Ngủ một chút đi.” Rhyme cúp máy. “Anh nghĩ thế nào, Jim? Có bãi đỗ nhà lưu động nào xung quanh đây không?” Viên cảnh sát trưởng xem chừng ngờ vực. “Có mấy bãi đỗ dọc theo đường 17 và đường 158. Nhưng chúng thậm chí không ở gần địa điểm mà Garrett và Amelia đang nhắm đến. Lại đông đúc nữa. Khó lòng ẩn trốn được ở một chỗ như thế. Tôi nên cử ai đó đi kiểm tra chăng?”. “Cách đây bao xa?” “Bảy, tám mươi dặm”. “Không, Garrett có lẽ đã phát hiện được một cái nhà lưu động bị bỏ hoang ở chỗ nào đấy trong rừng và chiếm lấy nó”. Rhyme liếc nhìn tấm bản đồ. Anh nghĩ: Và nó đỗ ở chỗ nào đấy giữa một trăm dặm vuông hoang vu. Anh cũng băn khoăn tự hỏi: Gã trai đã tháo tay khỏi còng chưa? Hắn có lấy được khẩu súng của Sachs chưa? Ngay lúc này đây liệu cô có đang ngủ, không cảnh giác đề phòng, liệu Garrett có đang đợi

tới lúc cô thiếp đi chẳng còn biết gì. Gã ngồi dậy, bò đến gần cô với một tảng đá hoặc một tổ ong bắp cày… Nỗi sốt ruột chạy dọc cơ thể Rhyme. Anh ngả đầu ra phía sau, nghe thấy một khớp xương kêu đánh cắc. Anh cứng người, lo sợ tình trạng co rút nhức nhối thi thoảng cứ tra tấn các bắp thịt vẫn còn liên hệ với những tế bào thần kinh chưa chết. Có vẻ hoàn toàn bất công khi chính cái chấn thương khiến cho

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 60

Đang tải bình luận...