Buồng Khử

phần lòng trắng

phần lòng trắng

phần lòng trắng dùng làm hỗn hợp trứng đường là món kem Alaska bỏ lò[64] đi đời. Và luôn tồn tại khả năng lũ vi khuẩn khó ưa đang háo hức sinh sôi nảy nở trong khối hình xoan hoàn mĩ của Chúa (suy cho cùng thì vỏ trứng được tạo ra chính là để bao bọc sự sống). Nhưng chỗ trứng này đã được đánh vừa đủ - đánh ngẫu hứng không nghe cả tiếng thì thầm của hỗn hợp - rồi xử lý trên lửa nhiệt

độ cao. Các thứ ngải giấm, củ nén, thì là xắt tươi được rải vào đúng thời điểm, không quá sớm. Món ăn hoàn chỉnh này có hình bán nguyệt, màu vàng ruộm, nâu trắng, giòn bên ngoài, đặc nhẹ bên trong. Đồ ăn ngon là thế, nhưng Swann lại đang mất dần chút kiên nhẫn với Amelia Sachs. Ả vào trong căn biệt thự phố của Lincoln Rhyme hàng tiếng đồng hồ rồi. Có vẻ như ả đã khéo xử lý vụ điện thoại bằng cách cứ vài giờ lại đổi điện thoại trả trước khác - giờ thì mọi người trong nhóm đều sử dụng điện thoại trả trước - và ả có thiết bị cảnh báo nghe trộm trên đường dây cố định dẫn vào căn biệt thự phố, một vấn đề bên hắn không thể giải quyết nếu không đích thân đột nhập vào tổng đài trung tâm. Nhưng trong vai trò điều tra viên chính, sớm muộn ả cũng phải xuất đầu lộ diện. Hắn suy ngẫm về cộng sự của ả, Rhyme. Chà, đây mới là trở ngại. Tổ chức của hắn đã tốn gần hai nghìn đô la để khử tên này, thằng điều dưỡng và một thằng cớm khác. Nhưng lũ đầu mối của hắn trong cái đám ở bến tàu dưới đấy đã làm hư bột hư đường. Tụi nó hỏi Swann có muốn chúng thử lại không nhưng hắn bảo chúng mày cút mẹ khỏi đảo đi. Mặc dù khó có thể truy ngược từ tụi nó ra Swann và sếp của hắn, không gì là không thể. Hắn chắc chắn sẽ có cơ hội khác để xử lý Rhyme. Gã làm sao di chuyển đủ nhanh để tránh được con dao Kai Shun. Swann tra cứu bệnh trạng của Rhyme rồi, liệt tứ chi, và phát hiện gã khoa học gia hình sự này không có bất kỳ cảm giác nào trên gần hết cơ thể.

Swann hứng thú nghĩ đến cảnh gã chỉ ngồi im xem người khác lột da mình - rồi chảy máu từ từ đến chết - mà chẳng thấy đau đớn gì. Ý tưởng hay ho làm sao: mổ xẻ một sinh vật còn sống nhăn. Thật đáng tò mò. Hắn sẽ phải… À, nhưng nàng Amelia xinh đẹp của chúng ta đây rồi. Ả không đi ra từ cái hướng hắn mong đợi - con hẻm cụt hình chữ L dành để giao hàng nằm đằng sau căn biệt thự phố, gần nơi chiếc Ford Torino của ả đang đỗ. Hình như ả đi qua cửa trước, đối diện với khu phố Tây Central Park. Giờ ả đang đi bộ về phía tây, dọc theo vỉa hè của con đường xuyên thành phố, phía đối diện quán ăn của Swann. Hắn đã hi vọng tóm được ả trong con hẻm cụt. Có quá nhiều khách bộ hành, nhiều người rề rà đi làm, ngay chỗ này và ngay lúc này. Nhưng tìm thấy cơ hội ả đang đơn thân độc mã chỉ là vấn đề thời gian. Swann lau sơ dao dĩa và cốc cà phê để làm nhòe dấu vân. Hắn thanh toán tiền bằng cách luồn một tờ mười đô và một tờ năm đô bên dưới chiếc đĩa, thay vì mang phiếu tính tiền đến chỗ thu ngân. Trước đó, hắn đã đổi những tờ tiền lẻ này từ một nhân viên hỗ trợ khách tại một khách sạn ở phía bên kia thành phố. Tiền mặt rút từ ATM dễ bị truy ra đến mức đáng sợ, nên hắn đã thực hiện chút hành vi rửa tiền vi mô, để lại một món tiền boa hậu hĩnh mà không quá lớn. Giờ hắn đã ở ngoài cửa, đang leo vào chiếc Nissan của mình.

Hắn quan sát Sachs qua kính chắn gió. Ả cảnh giác, thận trọng quan sát xung quanh, mặc dù không hướng về hắn - ả chỉ để ý những vị trí mà một kẻ tấn công nào đó có khả năng xuất hiện. Cũng hay đấy: Ả ngước lên, mắt quét qua lại. Đừng lo, Swann thầm thì trong đầu với ả. Viên đạn không chui ra từ chỗ đấy đâu. Khi ả mò tìm chùm chìa khóa xe, cái áo khoác trượt ra khỏi hông và hắn để ý ả mang một khẩu Glock. Hắn cũng đề máy xe cùng lúc ả đề máy, để che đậy tiếng động cơ nổ của xe hắn. Khi chiếc Torino từ lề đường phóng đi, Swann theo sau. Hắn chỉ hối tiếc duy nhất một điều: Số phận của ả sẽ được định đoạt bởi chính viên đạn mà hắn nghĩ đến nãy giờ. Dùng con dao Kai Shun trên da thịt lụa là của ả hiện tại không phải là một công thức nấu ăn khả dĩ.

50 XẮT Mychal Poitier đang nói chuyện với quản lý khách sạn South Cove. “Nhưng, anh cảnh sát, tôi tưởng anh biết chứ,” người đàn ông mặc com lê màu be lịch sự, tóc xoăn, cao ráo, nói. Ông ta đang chau mày, những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán rám nắng hồng hào. Giọng ông ta phớt chút khẩu âm Anh. “Biết gì cơ?” Poitier làu bàu. “Các anh bảo chúng tôi có thể mở lại cửa phòng, lau dọn, sửa chữa hư hỏng.” “Tôi hả? Tôi chưa hề nói như vậy.” “Không, không, không phải anh, mà là một người từ Sở cảnh sát các anh. Họ gọi cho tôi thông báo việc giải phóng hiện trường. Tôi không nhớ tên anh cảnh sát đấy.” Rhyme hỏi, “Người này gọi điện ư? Không có ai đích thân đến đây sao?” “Không, chỉ báo qua điện thoại thôi.” Rhyme thở dài. Anh hỏi, “Cuộc gọi tới khi nào vậy?” “Vào thứ Hai.” Poitier xoay người lại và nhìn Rhyme bằng một cái nhìn chán chường. “Tôi đã ra lệnh rất nghiêm ngặt là hiện trường vụ án phải luôn được niêm phong. Tôi chẳng hình dung nổi là ai trong sở…”

“Không phải ai trong Sở cảnh sát của cậu đâu,” Rhyme nói. “Kẻ ẩn mặt của chúng ta đã gọi đấy.” Và dĩ nhiên, đồng lõa với hắn chính là khát khao cháy bỏng của người quản lý muốn xóa hết các dấu tích cho thấy nơi đây từng xảy ra án mạng. Những tấm biển hiện trường vụ án đặt ở lối hành lang chẳng tốt lành gì về mặt quan hệ công chúng. “Tôi xin lỗi, hạ sĩ,” người quản lý chột dạ nói. Rhyme hỏi, “Thảm, đi văng, mảnh kính vỡ đâu rồi? Còn đồ đạc khác nữa?” “Chắc ở một bãi rác nào rồi. Tôi chẳng biết nữa. Chúng tôi khoán hết cho nhà thầu mà. Bởi vì có máu nên họ nói sẽ đốt thảm và đi văng đi.” Mấy đống lửa đốt rác ấy… Pulaski nói, “Vừa giết Annette xong, kẻ ẩn mặt của chúng ta đã gọi một cú điện thoại và, đùng một cái, đi đời hiện trường vụ án. Nghĩ thì thấy hắn cũng khá lanh. Quá đơn giản.” Đơn giản thật. Rhyme nhìn vào căn phòng sạch bóng. Bằng chứng duy nhất về tội ác là cái cửa sổ bị mất tích, thay vào đó là các dải băng keo nhựa. “Nếu tôi giúp được gì thì mọi người cứ nói,” người quản lý ướm lời. Khi không ai nói lời nào, ông ta rút lui.

Thom đẩy xe lăn của Rhyme vào dãy phòng và, vì Buồng Khử không hỗ trợ người đi xe lăn, anh được Poitier và Pulaski đỡ xuống hai bậc thang thấp. Căn phòng có hai màu lam nhạt và lục - nước sơn còn ướt trên vài bức tường - và kích thước khoảng 6x9 mét, có hai cửa về bên phải, xem chừng dẫn đến phòng ngủ. Những phòng ngủ này cũng trống hoác và chỉ mới sơn lót. Về bên trái cửa phòng là một nhà bếp được trang bị đầy đủ. Rhyme nhìn ra ngoài một trong những cửa sổ còn lại. Có một khu vườn tươm tất bên ngoài phòng, đập vào mắt là một cái cây thân trơn đứng sừng sững, vươn khoảng mười hai mét lên không trung. Anh để ý thấy toàn bộ các cành dưới thấp đã được tỉa bớt, cách mặt đất ít nhất sáu mét mới bắt đầu thấy lá cây. Nhìn thẳng bên kia vườn cây, bên dưới vòm lá, anh thấy rõ cái mũi đất khét tiếng nơi Barry Shales đã nấp bắn, và nơi những người trong phòng lúc này đã suýt chết. Anh nhíu mắt nhìn cái cây. Ối chà, sau cùng thì cũng có hiện trường vụ án rồi đây. “Tân binh!” Rhyme gọi. “Vâng, Lincoln.” Pulaski tiến về phía anh. Mychal Poitier cũng vậy. “Cậu thấy cảnh tượng này có gì lạ không?” “Một phát súng đúng là lợi hại. Chỗ đấy cách xa khủng khiếp. Ô nhiễm thế kia mà hắn bắn xuyên qua được.”

“Thì cũng cùng một kịch bản nổ súng chúng ta thấy hôm qua lúc đứng bên kia biển thôi,” anh càu nhàu. “Có gì thay đổi đâu. Chẳng nhẽ tôi lại nói tới chi tiết đấy. Ý tôi là, cậu không thấy vườn tược ở đây có gì lạ sao?” Cậu cảnh sát quan sát cảnh tượng trước mắt trong chốc lát. “Tay súng này có trợ thủ. Cành cây.” “Đúng vậy.” Rhyme giải thích cho Poitier, “Có người đã cắt mấy cái cành dưới thấp để tên bắn tỉa nổ súng không bị vướng. Chúng ta nên khám xét cái vườn.” Nhưng cậu hạ sĩ lắc đầu. “Giả thuyết hay đấy, thưa đại úy. Nhưng không phải đâu. Đấy là cây gỗ độc. Anh có biết nó không?” “Không.” “Nó y như cái tên vậy, như sồi độc hay sơn độc. Giả như anh đốt nó, thì khói sẽ như hơi cay vậy. Anh chạm vào lá thì có thể phải nhập viện vì bị kích ứng da. Đây là loại cây ra hoa rất đẹp nên các khu nghỉ dưỡng ở đây không đốn hạ, nhưng cũng tỉa tất cả cành lá, trừ những cành cao nhất để mọi người không đụng phải.” “À, chậc, hay đấy,” Rhyme lẩm bẩm. Anh ghét cay ghét đắng khi thấy một giả thuyết vững chắc sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hi vọng có một hiện trường vụ án đúng nghĩa để khám xét. Anh bảo Pulaski, “Đi chụp ảnh, lấy mẫu tấm thảm ngay bên ngoài cửa, lấy mẫu đất từ các luống cây quanh vỉa hè phía trước, lấy dấu vân trên các nắm đấm cửa ở đây. Chắc cũng vô dụng thôi nhưng chừng nào chúng ta còn ở đây…”

Rhyme quan sát cậu cảnh sát thu thập chứng cứ rồi cho vào túi nhựa, đồng thời ghi chép lại nơi phát hiện chứng cứ. Tiếp theo Pulaski chụp khoảng một trăm tấm ảnh hiện trường. Cậu lấy ba dấu vân tiềm ẩn. Xong xuôi, cậu bỏ những gì thu thập được vào một túi giấy lớn. “Còn gì nữa không, Lincoln?” “Hết rồi,” nhà khoa học hình sự càu nhàu. Công tác khám xét Buồng Khử và khách sạn có lẽ thuộc loại nhanh nhất trong lịch sử phân tích pháp y. Có người xuất hiện ở chỗ cửa, lại một cảnh sát mặc đồng phục, da rất sẫm, mặt tròn. Anh ta liếc nhìn Rhyme bằng vẻ mặt ra chiều thán phục. Có lẽ cuốn sổ tay hiện trường vụ án do Rhyme viết mà Mychal Poitier đang giữ được truyền tay khắp Cảnh lực Hoàng gia Bahamas dạo gần đây. Hoặc chẳng qua anh ta cảm thấy ấn tượng khi ở chung phòng với người cảnh sát lạ lùng đến từ Mỹ, người chỉ bằng một chuỗi các suy luận đơn giản đã chuyển vụ án nữ sinh viên mất tích thành một cuộc điều tra án mạng. “Hạ sĩ,” anh cảnh sát trẻ nói với Poitier, kèm một cái gật đầu cung kính. Anh ta mang theo một tập hồ sơ dày cộm và một túi mua sắm lớn. “Phó cảnh sát trưởng McPherson gửi toàn bộ báo cáo về hiện trường vụ án và ảnh giải phẫu tử thi. Có cả các báo cáo giải phẫu tử thi nữa.” Poitier nhận tập hồ sơ rồi cảm ơn anh ta. Cậu hất đầu về phía cái túi. “Đó là quần áo của các nạn nhân hả?” “Phải, cả giày nữa. Cả chứng cứ được thu thập ở đây ngay sau khi xảy ra nổ súng. Nhưng tôi phải nói cho anh biết là nhiều chứng

cứ đã biến mất, quản trị nhà xác nói với tôi thế. Ông ta chẳng biết sao nữa.” “Chẳng biết sao nữa,” Poitier nhại. Rhyme nhớ lại rằng đồng hồ đeo tay và các vật có giá trị khác đã biến mất trên đoạn đường trung chuyển giữa nơi này và nhà xác, cũng như máy quay và máy ghi âm của Eduardo de la Rua. “Tôi xin lỗi, hạ sĩ.” Poitier hỏi thêm, “Có tin tức gì về vỏ đạn không?” Cậu đưa mắt liếc qua cửa sổ nhìn mũi đất bên kia vịnh. Thợ lặn và cảnh sát trang bị bộ dò kim loại đã làm việc được khoảng một giờ đồng hồ. “E là không. Có vẻ như tên bắn tỉa mang vỏ đạn đi và chúng tôi vẫn không tìm được nơi hắn ẩn nấp.” Poitier nhún vai. “Vậy có tìm được kết quả gì khi truy vấn cái tên ‘Barry Shales’ không?” Lúc họ lái xe trên đường đến đây, Poitier đã nhờ bộ phận tình báo kiểm tra xem phòng Hải quan hay Kiểm soát Hộ chiếu có hồ sơ nhập cảnh của tên bắn tỉa không. Cả thông tin thẻ tín dụng nữa. “Thưa sếp, không có kết quả. Không có gì.” “Được rồi. Cảm ơn anh, đồng chí cảnh sát.” Anh ta chào họ rồi gật đầu e dè với Rhyme, xoay lưng đi và, bằng một điệu bộ oai nghiêm, diễu hành ra khỏi phòng. Rhyme nhờ Thom đẩy tới gần Poitier rồi anh dòm vào cái túi mua sắm, để ý thấy ba bó bọc ni lông, tất cả đều được niêm phong, đính

vào đó là những thẻ ghi nhận quá trình sử dụng chứng cứ được điền đầy đủ. Anh lóng ngóng với tay vào trong rồi lôi ra một phong bì nhỏ trên cùng. Bên trong là viên đạn. Rhyme ước tính nó lớn hơn một chút so với loại đạn bắn tỉa thông dụng nhất, đạn Lapua 8,58 li[65] . Còn đây có thể là đạn 10,6 li, một kích cỡ ngày càng được ưa chuộng. Rhyme nghiên cứu chỗ đồng và chì bị biến dạng. Như tất cả các loại đạn, kể cả loại cỡ lớn này, trông nó vẫn thật nhỏ bé để gây ra sức tàn phá khủng khiếp đến thế và cướp đi mạng người trong tích tắc. Anh bỏ viên đạn vào lại phong bì. “Tân binh, cậu phụ trách mấy thứ này. Điền vào thẻ ngay đi.” “Tôi điền ngay.” Pulaski ghi vội tên mình lên các tấm thẻ ghi nhận quá trình sử dụng chứng cứ. Rhyme nói, “Chúng tôi sẽ giữ gìn cẩn thận mấy thứ này, đồng chí hạ sĩ.” “À, chỗ chứng cứ này cũng chẳng có ích gì cho chúng tôi nữa. Nếu các anh bắt giữ tên Shales này và cộng sự của hắn, tức là kẻ ẩn mặt, thì chắc tòa án của các anh cũng không gửi bọn chúng trở lại đây để xét xử đâu.” “Dù sao đây cũng là chứng cứ. Chúng tôi bảo đảm sẽ trả lại nguyên vẹn chỗ chứng cứ này cho các anh.” Poitier nhìn quanh căn phòng sạch bong. “Tôi rất tiếc là chúng tôi không có hiện trường vụ án nào cho anh cả, đại úy.” Rhyme chau mày. “Ồ, có chứ. Và tôi đề nghị chúng ta vào việc càng nhanh càng tốt trước khi chỗ hiện trường đấy xảy ra chuyện.

Đẩy tôi đi, Thom. Đi thôi.”

51 XẮT Trông anh ta tựa như một con cóc. Henry Cross có dáng người béo lùn, nước da sẫm và có mấy cái mụn cóc rõ mồn một mà Amelia Sachs nghĩ cũng dễ bỏ thôi. Mái tóc đen rậm rạp ngự trên một cái đầu lớn. Cặp môi dày. Đôi bàn tay to bè cùng với những móng tay cóc gặm. Khi nói chuyện, anh ta thỉnh thoảng nhấc lên một điếu xì gà béo ú rồi nhét nó vào mồm để nhấn nhá một cách hào hứng chỗ xì gà rẻ tiền chưa đốt. Ghê quá. Cross nói, kèm một cái lắc đầu, “Roberto chết đúng là chuyện tệ hại. Thậm tệ.” Giọng anh ta có một chút chất ngoại quốc, cô cho là Tây Ban Nha. Cô nhớ lại Lydia Foster có kể rằng anh ta nói thứ tiếng này và tiếng Anh đều sõi - như Moreno vậy. Anh ta là giám đốc Quỹ Lớp học cho Các nước châu Mỹ (CAF), một tổ chức cộng tác với nhà thờ để xây trường học và thuê giáo viên ở những vùng nghèo đói của Mỹ Latin. Sachs nhớ là Moreno từng tham gia vào công tác này. Cho nổ tung bong bóng… “Roberto và Phong trào Trao quyền Địa phương của anh ấy là một trong những đơn vị ủng hộ chúng tôi nhiều nhất,” Cross nói. Anh ta gí một ngón tay vào bộ sưu tập ảnh trên bức tường trầy trụa. Những bức ảnh chụp các văn phòng CAF ở Caracas, Rio và Managua (Nicaragua). Moreno đứng quàng tay qua vai một người đàn ông da ngăm đen đang mỉm cười tại một công trường xây dựng.

Hai người họ đều đội mũ bảo hộ. Một nhóm nhỏ dân địa phương trông như đang vỗ tay. “Và anh ấy là một người bạn của tôi,” Cross lẩm bẩm. “Anh quen anh ta lâu không?” “Chắc cũng năm năm.” “Tôi rất tiếc vì sự mất mát này.” Một cụm từ mà giảng viên thực sự dạy tại học viện cảnh sát. Nhưng đây là những lời thật lòng của Amelia Sachs. “Cảm ơn cô.” Anh ta thở dài. Văn phòng nhỏ xíu tăm tối này nằm trong một tòa nhà trên đường Chambers thuộc địa phận Manhattan Hạ. Tổ chức này là nơi dừng chân duy nhất của Moreno trong chuyến đi đến New York mà Sachs đã truy ra được - nhờ vào phiếu tính tiền từ Starbucks mà cô tìm thấy tại căn hộ của Lydia Foster. Sachs đã kiểm tra tờ đăng ký ra vào văn phòng trong tòa nhà đặt quán cà phê ấy. Cô phát hiện ra ngày 1 tháng 5, Moreno có ghé qua CAF. “Roberto rất ưng việc chúng tôi không phải là tổ chức từ thiện. Chúng tôi tự nhận mình là nhà phân phối tài nguyên. Tổ chức của tôi không chỉ trao tiền bạc đến người bần cùng. Chúng tôi còn tài trợ cho trường học, các trường này lại dạy người ta nhiều kỹ năng để họ có thể tự thoát nghèo. Tôi không đủ kiên nhẫn với bất kỳ ai chìa tay ra xin. Tôi thật sự rất bực khi…” Cross ngừng nói, giơ bàn tay lên rồi bật cười. “Như Roberto, tôi có khuynh hướng thuyết giảng. Xin lỗi. Nhưng tôi nói từ kinh nghiệm

nói từ trải nghiệm dấn thân của mình, nói vì biết cảnh sống đầu tắt mặt tối như thế nào. Tôi từng làm việc trong ngành hàng hải và có một điều tôi để ý là hầu như người nào cũng muốn nỗ lực cả. Họ muốn tự cải thiện bản thân. Nhưng họ không làm được nếu không được giáo dục đường hoàng và trường học dưới đấy, xin lỗi cô, về cơ bản là rác rưởi. Tôi muốn thay đổi điều đấy. Thế là tôi gặp Roberto. Lúc chúng tôi mở văn phòng tại Mexico thì anh ấy đang ở thành phố diễn thuyết về nhóm trao quyền nào đấy cho nông dân. Đại khái chúng tôi cũng ăn ý với nhau.” Cặp môi to bè uốn thành một nụ cười uể oải. “Trao quyền cho người dân… Phải nói đây là một tư tưởng cũng không tệ. Roberto theo đuổi mục tiêu thông qua các doanh nghiệp vĩ mô, còn tôi thì thông qua giáo dục.” Mặc dù trông anh ta vẫn giống ông chủ nhà máy cúc áo ở Phố Thời Trang[66] hay một luật sư chuyên về thương tích cá nhân, hơn là giám đốc một tổ chức gây quỹ. “Vậy cô đến đây về chuyện mấy thằng khốn buôn ma túy đã giết anh ấy à?” Cross ho hắng. Anh ta nhai nghiến điếu xì gà trong chốc lát rồi đặt nó xuống một gạt tàn thủy tinh hình lá phong. “Hiện tại chúng tôi chỉ đang thu thập thông tin,” Sachs nói một cách vô thưởng vô phạt. “Chúng tôi đang điều tra những nơi anh ấy từng đến trong chuyến đi gần đây đến New York - cái lần anh ấy gặp anh. Anh có thể cho tôi biết anh ấy còn đi đâu khác trong thành phố không?” “Đến một số tổ chức phi lợi nhuận khác, theo như anh ấy kể thì ba hay bốn tổ chức gì đấy. Còn nữa, tôi biết anh ấy cần phiên dịch viên cho một số tổ chức này.”

“Anh ấy có đề cập đến tổ chức cụ thể nào không?” “Không, anh ấy chỉ tạt qua để đưa tờ séc rồi tìm hiểu về vài dự án mới mà chúng tôi đang triển khai. Anh ấy muốn cái gì đấy được đặt theo tên mình. Một lớp học chẳng hạn. Không cần nguyên cả trường học. Đấy, Roberto là thế. Anh ấy thực tế. Anh ấy quyên một số tiền nhất định, không phải hàng triệu đô la, nên anh ấy biết không thể nào đòi hỏi cả một trường học đặt theo tên mình. Một lớp học thôi cũng làm anh ấy hài lòng rồi. Quả là anh chàng khiêm tốn, cô hiểu ý tôi không? Nhưng anh ấy muốn được nhìn nhận ít nhiều.” “Anh ấy có vẻ gì là lo lắng cho sự an toàn của mình không?” “Tất nhiên là có. Anh ấy lúc nào chả vậy. Anh ấy phổi bò lắm.” Một nụ cười buồn bã. “Anh ấy mà đã ghét tay chính trị gia này hay tay CEO kia rồi thì, trời ơi, anh ấy chẳng ngần ngại thể hiện ra trên sóng hoặc trên trang blog của mình. Anh ấy tự xưng là Sứ giả, tiếng nói của lương tâm. Anh ấy làm mất lòng nhiều người lắm. Mấy thằng buôn ma túy chó chết ấy. Tôi xin lỗi. Tôi mong tụi nó lên ghế điện hay bị tiêm thuốc độc hay gì đi cho xong.” “Anh ấy có đề cập là bị các-ten hay băng nhóm gì hăm dọa không?” Cross ngả người ra sau suy nghĩ một lúc. “Cô biết đấy; không đề cập đích danh. Nhưng anh ấy nói mình đang bị theo dõi.” “Sao nữa?” Cross lướt một ngón tay qua một cụm nốt ruồi trên cổ. “Anh ấy nói có cái gã thoắt ẩn thoắt hiện, cô hiểu ý tôi không? Hắn ta theo dõi anh ấy ngoài đường.”

“Hắn trông như thế nào?” “Da trắng, đực rựa. Nhìn ngầu. Vậy thôi.” Cô nghĩ ngay đến Barry Shales và X165. “Chưa xong. Còn cái máy bay. Cái đấy mới làm anh ấy sợ nhất.” “Máy bay?” “Roberto đi đây đó rất nhiều. Anh ấy nói có để ý thay cái máy bay tư nhân này ba bốn lần ở nhiều thành phố khác nhau mà anh ấy từng đến - những nơi có sân bay nhỏ, ở đấy dễ thấy máy bay tư nhân hơn. Bermuda này, Bahamas này, cả nơi anh ấy sống là Caracas nữa. Thêm một số thị trấn tại Mexico. Anh ấy nói nó lạ lắm - bởi vì cái máy bay này hình như lúc nào cũng ở đây trước khi anh ấy đến nơi. Giống như có người biết được lịch trình của anh ấy vậy. Bằng cách nghe trộm điện thoại của anh ta chăng? Môn thể thao ưa thích của Metzger, Shales và X165. Điếu xì gà bị nhai rào rạo. “Lý do anh ấy nhận ra nó: Anh ấy nói

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 57

Đang tải bình luận...
phần lòng trắng - Buồng Khử | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip