Bụi Kí 1

phần vì cậu biết

phần vì cậu biết

phần vì cậu biết mình sẽ nhìn thấy nó, mà dù sao thì cậu cũng đã chứng kiến những thứ còn tồi tệ hơn thế. Đó hẳn phải là một phụ nữ, cậu nghĩ, bởi vì quanh cổ - hay là nơi mà da thịt của cái cổ cách đây rất lâu đã từng tồn tại - là một chiếc vòng bằng vàng ròng, ngoài ra còn có hai cái nhẫn vàng trên hai ngón tay xương xẩu. Malcolm suy nghĩ về điều đó, và rồi nhẹ nhàng nhấc tất cả ra rồi nhét chúng xuống bên dưới lớp vải nhung mỏng manh mà bộ xương đang nằm lên.

“Để giữ an toàn cho chúng,” cậu thì thầm. “Cháu xin lỗi về cái nắp của bà, thật sự rất xin lỗi, nhưng chúng cháu cần nó lắm.” Cậu tựa các mảnh của nắp quan tài vào bệ đá rồi đập vụn chúng ra bằng một loạt đạp chân. Chúng cũng khô như người nằm bên trong vậy, hoàn hảo để đốt. Cậu đóng cửa hầm mộ lại rồi treo ổ khoá đã hỏng vào chỗ cũ sao cho nếu chỉ thoáng nhìn, trông nó như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra vậy. Cậu quay lại về phía chiếc xuồng, loé đèn lên một lần để cho Alice biết mình đang ở đó, và rồi cậu nhìn thấy cái bóng. Nó có dạng như một người đàn ông - cậu chỉ nhìn thấy nó trong một giây rồi nó vụt biến đi - nhưng cậu đã lập tức hiểu ra: Đó chẳng phải là cái bóng nào cả. Đó chính là Bonneville. Nó đang núp bên cạnh con thuyền. Chẳng có ai khác có thể là nó cả. Cú sốc này thật khủng khiếp, và khi không biết nó đã biến đi đâu, cậu lập tức càng cảm thấy yếu thế hơn. “Cậu có thấy...” Cậu thì thào. “Có!” Cậu vội vã chạy qua bãi cỏ rải rác những tấm bia mộ, vấp ngã hai lần, đập đầu gối, với Asta lao đi bên cạnh mình trong dạng mèo, dừng lại để giúp đỡ, khích lệ, quan sát khắp xung quanh. Alice đang hát một khúc ca cho trẻ em. Khi nghe thấy tiếng cậu thở hổn hển, lập bập lao đến rồi dừng lại, cô liền cất tiếng gọi: “Mal?” “Ừ - là em đây...” Cậu khua ánh đèn pin yếu ớt lên vòm cây rồi rọi nó khắp tứ phía trên đám cây thuỷ tùng đen thẫm, những cành cây nhỏ nước, mặt đất sũng sĩu. Nhưng đương nhiên là không thấy cái bóng nào, chẳng có Bonneville nào cả. “Em có kiếm được chút củi nào không?” Alice hỏi từ trong xuồng. “Có. Một ít. Có lẽ là đủ.” Giọng cậu đang run rẩy, nhưng cậu chẳng thể làm gì được về điều đó.

g g ợ “Có chuyện gì thế?” Cô hỏi trong lúc nâng mái vòm lên. “Em nhìn thấy gì à?” Cô bé lập tức thấy hoảng sợ. Cô biết khá rõ thứ mà cậu đã nhìn thấy, và cậu hiểu điều đó. “Không. Chỉ là nhầm lẫn thôi,” cậu đáp. Cậu lại nhìn quanh, nhưng việc đó đòi hỏi phải có dũng khí: Cái bóng - Bonneville - có thể đang lẩn trốn trong bóng tối dưới bất cứ cái cây nào, phía sau bất cứ cái nào trong số bốn cột trụ ở lối vào hầm mộ, hay dưới dạng một vật nhỏ, đằng sau bất cứ phiến đá bia mộ nào. Mà con linh thú linh cẩu đâu rồi nhỉ? Nhưng không: Hẳn là cậu đã tưởng tượng ra rồi. Chúng không thể cứ thế mà chèo thuyền đi được, vì đây là vùng đất nổi duy nhất mà chúng thấy được, nó tối như hũ nút, còn trên mặt nước ngoài kia lại là thuyền của TCK, mà lúc này Lyra đang cần đồ ăn và được giữ ấm. Malcolm hít thở sâu rồi cố gắng kiềm chế để không run lên bần bật. “Em sẽ nhóm lửa ở đây, ” cậu thông báo. Cậu dùng con dao chẻ lấy ít bùi nhùi từ một trong những tấm ván vỡ vụn rồi dựng một đống lửa trên mặt cỏ. Hai bàn tay cậu vừa đủ khoẻ để thực hiện công việc. Nhưng lửa bén ngay lập tức, chẳng bao lâu sau, một trong những chai nước cuối cùng của chúng đang sôi lên trong chiếc xoong nhỏ. Cậu cố gắng không nhìn lên khỏi đống lửa. Ánh lửa bập bùng khiến cho bóng tối xung quanh càng trở nên sâu thẳm, và khiến cho mọi vệt bóng đổ nhảy nhót. Lyra cứ đều đều tỉ tê, một bài ca ai oán thầm lặng vì bất hạnh. Khi Alice cởi đồ cho cô bé, nó cứ nằm đó mà chẳng buồn động đậy. Asta và Ben cố gắng vỗ về Pan, nhưng nó lại oằn người thoát ra; nó chỉ muốn ở bên cái dáng người nhỏ xíu nhợt nhạt chỉ biết khóc lóc tỉ tê kia. Cái nắp quan tài cháy khá tốt, và có đủ gỗ để làm ấm sữa cho Lyra, nhưng chỉ vừa đủ. Ngay khi Alice vừa thay đồ và đang cho em bé ăn, mẩu gỗ cuối cùng bùng lên thành một đốm lửa vàng vọt độc nhất rồi tắt lịm, Malcolm đạp bay đống tro đi rồi mừng

rỡ bước vào trong xuồng. Hai cánh tay cậu đau nhức, lưng đau, trái tim cũng đau; ý nghĩ về việc lại phải khởi hành trên vùng nước tàn nhẫn này thật là kinh khủng, kể cả nếu không có con thuyền nào của TCK đang lùng tìm chúng đi chăng nữa. Cả cơ thể, tâm trí và linh thú đều khao khát được ngủ để quên đi tất cả. “Cây nến đó còn chút gì không?” Alice hỏi. “Một ít, em nghĩ vậy.” Cậu lục tung đống đồ hỗn độn trong cái giỏ mà chúng đã lấy từ hiệu thuốc cách đó rất lâu, và tìm thấy một mẩu nến dài khoảng bằng ngón tay cái của mình. Cậu thắp nó lên, để cho một ít sáp chảy tụ lại quanh dây bấc, rồi nghiêng nó lên tấm ván ngang và đặt thẳng cây nến lên đó. Như vậy cậu vẫn có thể làm những việc đơn giản hằng ngày. Cậu vẫn chưa mất đi khả năng sống từng giây từng phút và thậm chí cả tận hưởng niềm vui nữa, trong ánh sáng vàng ấm áp đang bao trùm lấy chiếc xuồng. Lyra vặn người trong vòng tay của Alice để nhìn cây nến. Ngón cái của nó lần lên miệng và nó nghiêm nghị nhìn đăm đăm vào ngọn lửa nhỏ màu vàng. “Em đã nhìn thấy gì vậy?” Alice thì thầm. “Đâu có gì.” “Là hắn đúng không?” “Có thể... Không. Nó chỉ giống hắn ta trong một tích tắc thôi.” “Sau đó thì sao?” “Sau đó thì chẳng sao cả. Nó không có ở đó. Chẳng có gì ở đó cả.” “Đáng ra chúng ta nên kiểm tra chắc chắn lại hắn. Lúc còn ở đó, khi hắn suýt nữa tóm được chúng ta. Đáng ra chúng ta phải xử hắn cho cẩn thận.” “Khi có ai đó chết đi...” Cậu nói. “Sao?” “Chuyện gì sẽ xảy ra với linh thú của họ?”

“Chúng cứ thế tan biến thôi.” “Đừng có nói về chuyện đấy chứ!” Asta kêu lên, rồi con linh thú chó sục Ben của Alice lên tiếng: “Ừ, đừng có nói mấy thứ đó.” “Vậy khi có một hồn ma, hay một con quỷ gieo ác mộng,” Malcolm nói, lờ tụi kia đi, “đó có phải là linh thú của người đã chết không?” “Chị chịu. Vậy xác của một người có thể đi lại và làm việc nếu linh thú của họ đã chết không?” “Không có linh thú thì làm gì có người. Việc đó là không thể bởi vì...” “Im đi!” Ben gào lên. “... bởi vì sẽ cực kì đau đớn nếu cố gắng giằng người ra.” “Nhưng em nghe nói có nơi mà người ta có thể không cần linh thú. Có khi họ chỉ là những xác chết đi lang thang. Nhưng có khi...” “Đừng! Thôi nói cái chuyện đó đi!” Asta kêu lên rồi biến thành một con chó sục giống như Ben, chúng cùng nhau gầm ghè. Nhưng giọng nó đầy vẻ hoảng sợ. Sau đó Lyra cất tiếng phàn nàn. Alice quay lại với cô bé. “Nghe này cưng, sữa của em hết mất rồi. Giờ là món đặc biệt, được chứ? Chị có cả một túi đầy canapé đây.” Cô thọc tay vào túi rồi lôi ra một mẩu bánh mì nướng đã từng có một quả trứng cút trên đó. “Cứ ăn miếng bánh mì này đi, chị sẽ tìm quả trứng nhỏ kia. Một quả trứng bé xíu. Em sẽ thích nó cho xem.” Lyra khá vui lòng nhận lấy miếng bánh mì rồi đưa nó lên miệng. “Chị lấy chúng ở trong vườn à?” Malcolm ngớ ngẩn hỏi. “Chị thó được một đống đồ từ những người bồi bàn đi ngang qua. Họ không hề nhận ra luôn. Có đủ cho tất cả chúng ta. Của em đây.” Cô ngả người về phía trước, chìa ra một thứ to cỡ bàn tay của Lyra, màu nâu và dẹp lép. Hoá ra là một miếng bánh cá cay cỡ mini.

“Em nghĩ,” cậu nói với cái miệng đầy đồ ăn, “nếu con bé ăn đủ bánh mì và các thứ khác, sẽ không quá quan trọng nếu chúng ta hết...” Cậu nghe thấy có thứ gì đó bên ngoài. Nhưng đó không phải là “thứ gì đó” , đó không phải chỉ là một tiếng động khó hiểu, một âm thanh vô nghĩa. Đó là từ Alice, và nó được nói rất khẽ bằng giọng của Bonneville. Cô bé đờ người ra. Cậu không thể không lập tức quay ra nhìn cô, hệt như đám trẻ trong một lớp học không thể ngăn mình nhìn sang đứa học trò vừa bị giáo viên réo tên bằng một giọng ám chỉ rắc rối và sự trừng phạt. Theo bản năng, cậu tìm kiếm một phản ứng, nhưng ngay lập tức lại hối hận về điều đó. Cô bé tỏ ra kinh hãi. Gương mặt cô cắt không còn một giọt máu, hai mắt trợn tròn, răng nghiến vào môi. Còn cậu thì lại đang nhìn cô như một đứa trẻ đang được an toàn. Cậu thấy chán ghét bản thân mình. “Chị không cần phải...” Cậu thì thầm. “Im đi! Đừng có làm ồn!” Cả hai lắng nghe, ngồi im như tượng, tai căng ra. Lyra vẫn tiếp tục mút mát và tóp tép nhai miếng bánh mì, không hề biết tới vấn đề đang xảy ra. Không có một tiếng nói nào vang lên, chỉ có tiếng gió lùa qua những thân cây thuỷ tùng, tiếng nước vỗ ì oạp vào thân xuồng. Một điều lạ lùng đang xảy đến với cây nến. Ngọn lửa của nó đang cháy rực, nó đang toả ra ánh sáng, nhưng nó lại có một cái bóng. Ánh đèn pha đã trở lại. Alice há hốc mồm vì hoảng sợ, cô đưa tay lên che miệng nhưng lại lập tức bỏ ra và đặt sát vào Lyra để bịt đi bất cứ tiếng khóc nào phát ra từ cô nhóc. Malcolm thấy nó rõ mồn một trong thứ ánh sáng chói loà lạnh lẽo xuyên qua vòm cây, cậu cũng có thể nghe thấy cả tiếng động cơ nữa. Một lúc sau, luồng sáng cực đại đã quay đi khỏi chúng, nhưng gần đó vẫn còn ánh sáng sót

lại, như thể những kẻ tìm kiếm đang kiểm tra chậm rãi hơn dọc theo nơi mép nước tiếp xúc nghĩa địa. “Đây, ” Alice nói, “đỡ lấy Lyra này, vì chị sắp ngất rồi.” Rất cẩn trọng, vừa tránh cây nến, cô vừa chuyền đứa bé sang cho cậu. Lyra tỏ ra khá điềm tĩnh, vui vẻ với miếng bánh mì nướng của mình. Sắc mặt Alice tái nhợt, nhưng trông cô không có vẻ sắp ngất; cậu nghĩ nếu thật sự thấy lả đi thật thì cô sẽ chẳng nói nổi như vậy; cô sẽ cứ thế mà ngất đi thôi. Alice truyền cái túi có đồ ăn trong đó qua. Malcolm chăm chú quan sát cô. Thứ khiến cô hoảng sợ không chỉ có luồng sáng kia: còn cả tiếng thì thầm tên cô bằng giọng của Bonneville nữa. Nhìn cô như đang kinh hoàng tới mức sắp không chịu nổi nữa rồi. Cô ngồi trở lại rồi đột nhiên quay sang bên trái, phía gần với bờ sông hơn. Cô đang lắng nghe. Malcolm có thể nghe thấy một tiếng thì thào. Đôi mắt cô giãn rộng, càng thêm ngập tràn vẻ kinh hãi, hay là ghê tởm, và cô dường như không còn ý thức được về cậu hay Lyra nữa, mà chỉ chú tâm đến tiếng thì thào dai dẳng qua lớp lụa than ở phía mình. “Alice...” Cậu lại lên tiếng, thực sự muốn giúp cô. “Im đi!” Cô lấy tay bịt lên hai tai. Ben, trong dạng chó sục, đang đứng với hai chân sau trên lòng cô, hai chân trước đặt trên thành xuồng, chú ý đến tiếng thì thầm không kém gì cô. Giờ thì Malcolm cũng nghe thấy âm thanh đó, dù cho cậu không thể nghe rõ từng từ một. Cảm xúc vụt qua trên mặt Alice tựa như bóng của những áng mây trôi nhanh vào một buổi sáng tháng Tư; nhưng những biểu cảm này đều là sợ hãi, hay ghê tởm, hoặc kinh hoàng. Khi nhìn cô, Malcolm cảm thấy mình sẽ không bao giờ lại được nhìn thấy ánh mặt trời vào một buổi sớm mùa xuân nữa, sự đau đớn và căm ghét mà cô gái đang cảm thấy sâu sắc đến vô cùng. Cô bắt đầu lắc đầu một cách bất lực, nước mắt tuôn ra từ đôi mắt ầng ậc nước. Một cách tự động, Malcolm với vào trong túi

rồi tìm thấy một mẩu bánh mì nướng khác cho Lyra, vì cô bé vừa làm rơi miếng đầu tiên. Rồi lớp vải dầu bên cạnh cô rung lên, khiến Ben nhảy bật trở lại, sau đó một đường rạch xuất hiện trên mái vòm bằng lụa than khi đầu mũi dao trượt xuống trên nó, rồi một bàn tay đàn ông thò qua và tóm chặt lấy cổ Alice. Alice cố gắng hét lên, nhưng vòng kẹp trên cổ họng đã bóp nghẹt tiếng của cô, sau đó bàn tay lần xuống phía trước của cô, lên lòng cô, tìm kiếm một thứ gì khác, lần sang trái rồi lại phải - cố gắng tìm Lyra. Alice đang rên rỉ, vùng vẫy hòng thoát khỏi bàn tay đáng ghê tởm, Ben thì đang dùng răng nghiến lấy cổ tay của gã đàn ông, bất chấp sự kinh tởm mà nó hẳn đã cảm nhận thấy; và rồi, khi không thấy Lyra, bàn tay của Bonneville chộp lấy con linh thú nhỏ và lôi nó ra ngoài qua vết rạch trên mái vòm, vào trong màn đêm, rời xa khỏi Alice. “Ben! BEN!” Alice gào lên, cô luống cuống đứng dậy rồi ngã vắt người qua tấm ván ngang, nửa người toài ra khỏi xuồng, rồi lại quờ quạng bò dậy và chạy đuổi theo họ. Malcolm với tới, định giữ cô lại, nhưng cô đã đi mất trước khi cậu có thể chạm vào. Con linh thú linh cẩu phá lên cười, chỉ cách tai của Malcolm chừng một mét, xé toạc màn đêm với tiếng “HAA HAAAA HAAA!” của nó. Trong tiếng cười đó lại có thêm một giọng điệu khác, giống như một tiếng hét đau đớn vậy. Lyra, kinh hoàng vì âm thanh đó, bắt đầu cất tiếng khóc, Malcolm bế cô bé sát vào người và đung đưa trong lúc gọi: “Alice! Alice!” Asta, trong dạng mèo, đặt hai bàn chân lên thành xuồng, cố gắng nhìn ra ngoài từ dưới mái vòm, nhưng Malcolm biết rằng nó chẳng thể nhìn thấy được gì. Pantalaimon đang rập rờn bay đây bay đó, một con bướm đêm, đậu lên tay Lyra trong thoáng chốc rồi lại bay đi, ngớ ngẩn tiến lại gần ngọn lửa nến để rồi lại tháo chạy vì sợ hãi, và cuối cùng thì đậu lên mái tóc ẩm của đứa bé. Từ hướng lăng mộ vọng tới một tiếng kêu chói tai, đầy vô vọng, không phải một tiếng thét, chỉ là một lời rền rĩ phản

ọg g p ộg ộp kháng trong tuyệt vọng. Trái tim Malcolm thắt lại. Rồi chỉ còn lại tiếng em bé đang khóc trong vòng tay cậu, tiếng nước vỗ ì oạp, và tiếng nức nở thảm thương khe khẽ từ cún con Asta đang nép người vào bên cạnh cậu. Mình chưa đủ lớn cho chuyện này! Malcolm nghĩ, gần như nói ra thành tiếng. Cậu ôm chặt lấy em bé rồi kéo chăn lên quanh người nó trước khi đặt nó xuống giữa đám gối nệm. Cảm giác tội lỗi, căm phẫn và hoảng sợ tranh đấu lẫn nhau trong tâm trí cậu. Cậu nghĩ cả đời mình sẽ không bao giờ thấy tỉnh táo hơn như thế; cậu nghĩ mình sẽ không bao giờ ngủ nữa; cậu nghĩ đó là cái đêm tồi tệ nhất mà mình từng biết tới. Đầu óc cậu chứa đầy sấm rền. Cậu sợ sọ mình sẽ nứt ra mất. “Asta...” Cậu thở gấp. “Tớ phải đến chỗ Alice - nhưng Lyra - không thể để con bé lại...” “Đi đi!” Con linh thú kêu lên. “Phải, đi đi! Tớ sẽ ở lại - tớ sẽ không bỏ cô bé...” “Sẽ đau lắm đấy...” “Nhưng chúng ta phải làm - tớ sẽ canh chừng cho cô bé - tớ sẽ không động đậy - hứa đấy...” Những giọt nước mắt nóng hổi tuôn chảy từ hai mắt cậu. Cậu hôn lên Lyra không ngừng rồi ôm con cún Asta vào tim, lên mặt, tới môi mình. Cậu đặt nó xuống bên cạnh đứa bé, và nó liền biến thành một con báo đốm con, xinh đẹp tới mức khiến cậu thổn thức vì trìu mến. Rồi cậu cẩn thận đứng dậy, thật nhẹ nhàng, để cho chiếc xuồng không bị đung đưa hay dịch chuyển một phần nào, cậu cầm lấy mái chèo và trèo ra ngoài. Ngay lập tức, cơn đau sâu hoắm của sự chia cắt dấy lên, và cậu nghe thấy một tiếng rên bị kìm nén phát ra từ chiếc xuống phía sau mình. Việc đó giống như vật lộn trèo lên một con dốc đứng với hai lá phổi la ó đòi không khí còn trái tim thì đập thình thình vào lồng ngực, nhưng còn tồi tệ hơn - bởi vì phía trong cơn đau, tô điểm cho nó, đào sâu nó, đầu độc nó, là mặc cảm tội

lỗi khủng khiếp vì khiến Asta yêu quý phải chịu đau đớn đến vậy. Con linh thú đang run rẩy trong tình yêu và sự đau khổ, nhưng nó lại rất can đảm - đôi mắt nó dõi theo cậu với sự tận tụy hết mực trong lúc cậu từ từ, một cách không thể tha thứ, kéo giật người đi khỏi nó như thể đang định bỏ nó lại phía sau mãi mãi. Nhưng cậu buộc phải làm vậy. Cậu ép mình vượt qua nỗi đau, việc mà cậu biết là đang tàn nhẫn xé toạc hình dạng báo đốm của Asta; cậu lết đi khỏi chiếc thuyền nhỏ để leo lên con dốc tới hầm mộ tối tăm, vì có thứ gì đó đang làm gì đó với Alice, khiến cô bé gào khóc phản kháng dữ dội. Con linh thú linh cẩu, đã bị mất cả hai chân trước, đang nửa đứng, nửa nằm trên bãi cỏ, bộ hàm hôi thối kẹp lấy chú chó sục Ben. Ben quằn quại, hết đạp lại cắn và tru lên, bộ hàm gớm guốc và những cái răng của con linh thú của Bonneville đang khép lại, chậm rãi, khoái trá, ngất ngây trên hình dạng nhỏ bé của nó. Rồi mặt trăng ló rạng. Bonneville hiện ra rõ mồn một, hai tay hắn siết chặt lấy hai cổ tay của Alice, ghìm cô xuống những bậc cầu thang. Ánh sáng lạnh lẽo phản chiếu trong đôi mắt của con linh cẩu, cả trong mắt của Bonneville, và từ những giọt nước mắt trên má Alice. Đó là điều tồi tệ nhất mà Malcolm từng chứng kiến, cậu giật người đi qua cơn đau, lảo đảo rồi loạng choạng bước lên bãi cỏ trơn trượt, giơ mái chèo lên rồi đập nó xuống lưng của gã đàn ông, nhưng lại thật yếu ớt, quá yếu ớt. Bonneville vặn người, nhìn thấy Malcolm và phá lên cười hô hố. Alice khóc lóc, cố gắng đẩy gã đàn ông đi, nhưng hắn lại thô bạo đẩy cô xuống, khiến cô thét lên. Malcolm thử đập hắn một lần nữa. Mặt trăng rọi sáng rực rỡ xuống nền cỏ đẫm nước, những tấm bia phủ rêu xanh, lăng mộ đổ nát, những hình dáng đang lăn vần nhau một cách gớm guốc giữa các cột chống. Malcolm cảm thấy có thứ gì đó đang lớn lên trong mình mà cậu không thể tranh cãi hay điều khiển, nó giống như một đàn chó hoang, gầm ghè, gào rú, cắn xé, lao tới phía cậu với đôi tai rách nát, đôi mắt mù loà và cái mõm lấm lem máu. Và rồi chúng bao vây lấy cậu, lao qua cậu, cậu lại vung mái chèo lên và đập trúng vào bả vai con linh thú linh cẩu.

“Aaa, ” Bonneville gầm lên rồi vụng về ngã vật xuống. Con linh cẩu gầm gừ. Malcolm lại đập nó thêm lần nữa, thẳng vào đầu, khiến nó lảo đảo lùi đi, hai chân sau trượt trên nền cỏ, ngực và cổ họng chịu toàn bộ trọng lượng của nó trong khi nó nghiến lấy Ben bé nhỏ. Thêm một cú nện từ cái mái chèo khiến Ben bật ra khỏi bộ hàm của nó và lồm cồm bò dậy về phía Alice, nhưng Bonneville đã nhìn thấy và giơ chân đạp Ben, làm nó ngã lộn nhào trên bãi cỏ. Alice hét lên vì đau đớn. Bầy chó tru lên, gầm ghè, rồi chuyện xảy ra là Malcolm lại vung mái chèo lên và đập thật lực vào gáy của Bonneville. “Cho ta biết...” Malcolm nổi xung lên, dù cho cậu chẳng thể nói hết được câu mệnh lệnh, cậu cố gắng dùng mái chèo để ngăn lũ chó lại, nhưng chúng lại chồm về phía trước, Malcolm lại đánh một lần nữa, và hình dáng kia nằm sóng soài ra kèm theo một tiếng rên dài thườn thượt. Malcolm quay về phía lũ chó tưởng tượng. Cậu cảm thấy như mắt mình đang phóng ra lửa vậy. Nhưng cậu cũng biết rằng trong một tích tắc đó, nếu không có lũ chó, cậu sẽ thấy mình chịu thua lòng thương hại, và chỉ nhờ có sự trợ giúp của chúng mà cậu mới có thể trừng trị cái gã đã làm Alice đau. Nhưng nếu không ghìm chúng lại, cậu sẽ không bao giờ biết được điều mà Bonneville có thể nói cho mình biết, thế nhưng cậu lại chẳng biết phải hỏi gì; và nếu ngăn chúng lại quá lâu, chúng sẽ bỏ đi và đem theo toàn bộ năng lực đó. Cậu suy nghĩ toàn bộ những điều đó chỉ trong chưa đầy một phút. Cậu quay lại về phía dáng người đang chết dần. Đàn chó tru lên, Malcolm liền vung mái chèo rồi nện vào cánh tay đang giơ lên phòng vệ. Cậu chưa từng đánh thứ gì mạnh đến vậy. Bóng người gào lên: “Làm đi, giết tao đi, thằng oắt khốn kiếp! Cuối cùng tao cũng được yên thân.” Đàn chó lại lồng lên phía trước, và gã đàn ông chùn lại trước cả khi Malcolm kịp nhúc nhích. Nếu đánh hắn một lần nữa, Malcolm biết, cậu sẽ giết hắn, mà trong suốt thời gian đó, nỗi đau chia cắt kinh khủng kia đang rút cạn sinh lực của cậu, vàg g ạ ự ậ nhận thức về việc con linh thú dũng cảm bị bỏ rơi của mình đang canh chừng cho em bé khiến nỗi khổ sở bao trùm lấy cậu. “Trường Rusakov là gì?” Cuối cùng cậu cũng thốt lên. “Tại sao nó lại quan trọng?” “Bụi...” Đó là từ cuối cùng Bonneville nói ra, gần như không hơn gì một tiếng thì thầm. Lũ chó đang đi quanh quẩn, mất định hướng. Malcolm nghĩ tới Alice, tới tiên nữ đã làm tóc cho cô, tới đôi má ấm nóng trong giấc ngủ của cô, rồi cậu nghĩ tới cảm giác được ôm em bé Lyra trong vòng tay mình. Lũ chó nhận thấy cảm xúc của cậu liền quay lại và nhảy tới trước một lần nữa, xuyên qua Malcolm, cậu liền giơ mái chèo lên và đập lấy đập để cho tới khi dáng người của Bonneville nằm bất động, tiếng rền rĩ ngừng lại, tất cả đều yên lặng, con linh thú linh cẩu đã tan biến, chỉ còn lại Malcolm đứng trên cái xác của gã đàn ông đã săn đuổi chúng quá lâu. Đôi tay của Malcolm, đã được tôi luyện sau nhiều ngày chèo thuyền, giờ đang nhức nhối vì kiệt sức. Đến trọng lượng của mái chèo cũng là quá sức đối với cậu. Cậu thả nó xuống. Bầy chó đã biến mất. Cậu ngồi sụp xuống và tựa vào một trong các cột trụ. Cơ thể của Bonneville nằm nửa trong nửa ngoài vùng ánh trăng chói loà. Một dòng máu nhỏ chầm chậm chảy xuống, hợp vào với những vũng nước mưa vẫn đang đọng trên các bậc cầu thang. Mắt Alice đang nhắm nghiền. Có máu trên má cô, máu nhỏ xuống chân cô, máu trong móng tay của cô. Cô đang run rẩy. Cô chùi miệng rồi nằm lại trên phiến đá ướt, trông chẳng khác gì một con chim bị thương. Ben đang ở trong dạng chuột, run lẩy bẩy nơi cổ cô. “Alice, ” cậu thì thầm. “Asta đâu rồi?” Cô lẩm nhẩm qua đôi môi bầm tím. “Làm sao mà...” “Cậu ấy đang canh chừng cho Lyra. Bọn em phải tách - tách rời...”

“Ôi, Mal, ” cô thốt lên, chỉ có vậy, nhưng cậu cảm thấy rằng toàn bộ nỗi đau này đã được đền đáp xứng đáng. Cậu lau mặt. “Chúng ta phải kéo hắn xuống dưới nước, ” cậu run rẩy nói. “Ừ. Được rồi. Làm chậm thôi...” Malcolm lôi cơ thể đau nhức của mình đứng thẳng dậy rồi cúi xuống tóm lấy hai chân của gã đàn ông. Cậu bắt đầu kéo. Alice ép mình đứng dậy để giúp, kéo một cánh tay áo. Cái xác khá nặng, nhưng nó trượt đi dễ dàng, thậm chí còn không mắc vào những tấm bia nửa chìm nửa nổi. Chúng tới bên mép nước, nơi dòng lũ đang chảy xiết. Con thuyền của TCK và ánh đèn pha của nó đã đi khỏi. Chúng lúng túng vần gã đàn ông đã chết lại cho tới khi dòng chảy cuốn hắn đi khỏi, rồi chúng đứng bấu víu lấy nhau trong lúc nhìn cái hình dạng đen ngòm, càng đen hơn trên dòng nước tối thẫm, trôi đi cùng với dòng lũ cho tới khi mất dạng. Ngọn nến vẫn đang cháy trong chiếc xuồng. Chúng thấy Lyra ngủ say sưa còn Asta, đã sức cùng lực kiệt, đang nằm bên cạnh cô bé. Malcolm bồng con linh thú của mình lên và ôm nó lại gần, cả hai cùng bật khóc nức nở. Alice trèo vào trong xuồng rồi nằm run rẩy trong lúc Ben liếm láp người cô, làm sạch máu ở mọi nơi. Sau đó cô kéo một tấm chăn phủ lên hai đứa rồi quay đi và nhắm mắt lại. Malcolm bế em bé lên, ôm nó trong tay rồi nằm xuống, linh thú của chúng nằm giữa và những tấm chăn phủ lên cả hai. Việc cuối cùng cậu làm là kẹp hai ngón tay để tắt lửa đi.

V 25 Chuyến bay chiều lặng lẽ ào lúc này, mực nước lũ đã lên cao đến đỉnh điểm. Khắp nơi trên miền Nam nước Anh, nhà cửa và làng mạc bị tàn phá, những toà nhà lớn bị cuốn đi, động vật trong trang trại bị chết đuối, còn về con người, số người mất tích hay tử vong tạm thời là không thể đếm nổi. Các nhà chức trách của cả địa phương và quốc gia phải dùng từng đồng trong ngân khố của mình và từng giây trong quỹ thời gian cho một mục đích duy nhất là giải quyết hỗn loạn. Trong số tất cả các hoạt động khác, dồn dập và gấp gáp không kém gì nhau, hai bên tìm kiếm Malcolm và Lyra đang đều đặn đi xuôi dòng về phía thành phố thủ đô. Họ lần theo những lời đồn, mà có rất nhiều lời đồn như thế; họ lờ đi mọi tiếng kêu khóc cầu cứu từ những con người bị nước bao vây ở khắp các hướng; đôi mắt và tâm trí của họ chỉ dành cho một thằng bé và một đứa con gái trong chiếc xuồng, cùng với một em bé, và cho một người đàn ông với con linh thú linh cẩu ba chân. Cũng giống như Ngài Nugent, George Papadimitriou đã trải qua cảm giác về sự lạ lùng và phi thực tế mà cơn lũ đem lại. Ông du mục chủ con thuyền mà Papadimitriou đang ở trên nói với ông rằng trong tri thức của dân du mục, thời tiết khắc nghiệt có tâm trạng riêng của nó, cũng như thời tiết bình lặng vậy. “Làm sao mà thời tiết lại có tâm trạng được chứ?” Papadimitriou hỏi. Người du mục đáp: “Ông nghĩ thời tiết chỉ có ở ngoài kia thôi sao? Nó cũng ở trong này nữa, ” rồi gõ vào đầu mình.

“Vậy ý ông là tâm trạng của thời tiết cũng chính là tâm trạng của chúng ta?” “Chẳng có gì lại chính là thứ khác cả, ” người du mục đáp, rồi không nói thêm gì nữa. Họ tiếp tục tiến lên theo dòng lũ, nói chuyện với bất cứ ai gặp được, hỏi han về chiếc xuồng cùng cậu bé và cô bé. Phải, người ta đã nhìn thấy chúng vào ngày hôm trước, nhưng không, đó không phải là một cái xuồng bình thường, đó là một chiếc xuồng hơi có gắn động cơ ở bên ngoài. Phải, có người đã thấy chúng, nhưng chúng đã chết ở trong thuyền, hoặc chúng là thuỷ quái, hay chúng lại được trang bị súng. Rồi hết lần này đến lần khác: chúng là những linh hồn, nói chuyện với chúng sẽ bị xui xẻo, chúng tới từ thế giới thần tiên. Papadimitriou đón nhận tất cả những điều ngớ ngẩn này với sự tập trung hết sức nghiêm túc. TCK trong lúc tìm kiếm cũng sẽ được nghe những lời đồn tương tự: Vấn đề không phải là phán xét tính xác thực của chúng, mà là đánh giá phản ứng có thể có của phe bên kia. Nugent và Schlesinger cũng sẽ phải đối mặt với cùng một vấn đề. Và cứ mỗi giờ trôi qua, họ lại tiến gần đến London hơn. Ánh ban mai, lạnh lẽo và tàn nhẫn hơn bao giờ hết, đánh thức Malcolm dậy sớm hơn nhiều so với mong muốn của cậu. Nhức nhối trong từng thớ cơ, và nhức nhối trong tâm trí khi những hình ảnh của buổi đêm ùa về, cậu vất vả ngồi dậy và cố gắng tỉnh táo lại. Alice vẫn đang ngủ, cả em bé cũng vậy, nằm im, ấm áp trong vòng tay cậu. Cậu ước gì mình không bị tỉnh giấc, cậu biết mình sẽ phải đánh thức họ dậy nhưng lại ước mình có thể để họ ngủ tiếp. Cậu phóng tầm mắt ra ngoài từ dưới mái vòm. Khu nghĩa địa trông còn kinh khủng hơn hồi đêm, khi mà ít nhất ánh trăng cũng cho nó một vẻ gắn kết óng ánh bạc. Dưới ánh sáng dữ dội của buổi sáng, trông nó thật dơ dáy, hoang vu, um tùm, và còn

có một điều tồi tệ hơn: Những bậc thang của hầm mộ nhỏ bị dính đầy máu, một lượng rất lớn. Trong một thoáng, Malcolm thấy nôn nao, cậu nhắm mắt lại và cố giữ cho người đứng vững. Rồi cảm giác đó cũng qua đi. Vừa di chuyển thật chậm rãi để không đánh thức Lyra, cậu đặt cô bé xuống giữa những tấm chăn rồi trèo ra khỏi xuồng và đứng run lẩy bẩy trên nền cỏ đẫm nước, ôm lấy Asta trong vòng tay. Lúc này khi có nó ở sát bên, cậu cảm thấy càng bị chấn động, buồn bã, tội lỗi, già cỗi hơn nhiều lần. Asta ép gương mặt mèo vào cổ cậu. Khi chúng tách rời nhau, Asta cũng phải chịu đau đớn; có lẽ một ngày nào đó, chúng sẽ có thể nói chuyện về điều đó; nhưng hiện giờ thì cậu thấy ngập tràn cảm xúc đau đớn và hối hận vì đã làm khổ nó. Nếu cũng giống cậu thì nỗi đau mà con linh thú đang cảm thấy sâu hoắm đến mức như thể cảm giác ấy đang trú ngụ trong mọi nguyên tử trên người nó vậy. “Chúng ta không thể làm gì khác được, ” Asta thì thầm. “Chúng ta buộc phải làm vậy.” “Quả thật là vậy.” Cậu có thể cọ trôi vết máu không? Liệu những bậc thang có bao giờ sạch sẽ trở lại không? Người cậu run lên. “Mal? Em đâu rồi?” Giọng của Alice vang lên yếu ớt. Cậu cúi xuống để nhìn vào trong thuyền, và thấy gương mặt cô lờ đờ vì giấc ngủ và vẫn còn dính máu từ đêm hôm qua. Cậu quay trở lại thuyền, với tay vào trong để lấy một trong những tấm khăn nhàu nhĩ rồi lôi nó đi trên nền cỏ để dấp nước. Cô bé lặng lẽ đón lấy nó rồi chấm chấm lên mắt và má. Sau đó cô cũng trèo ra ngoài, vẻ cực kì đau đớn, run rẩy, răng đập lập cập, rồi với tay vào bế Lyra lên. Em bé đang rất cần được thay tã. Nó cũng đang ngái ngủ nữa; thay vì cứ nói luôn mồm một cách sống động như mọi khi, nó lại tỉ tê khóc vẻ bất mãn, trong khi đó Pantalaimon nằm oặt người trong dạng chuột bên cổ nó. “Hai má em đỏ quá, ” Malcolm kêu lên.

“Khéo bị cảm rồi. Mà chúng ta chỉ còn một cái tã thôi, chị nghĩ chúng ta không thể đi xa hơn được nhiều đâu.” “Chậc..” “Chúng ta phải nhóm lửa, Mal ạ. Phải tắm rửa cho nó, rồi phải cho nó ăn nữa.” “Em sẽ đi kiếm thêm ít củi.” Cậu với lấy cái mái chèo, định bụng gột sạch máu khỏi nó trước, và phát hiện ra một thảm hoạ. “Ôi Chúa ơi!” “Gì thế?” Mái chèo đã bị hỏng. Việc cậu làm tối qua đã khiến cán bị gãy đôi.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 79

Đang tải bình luận...