Ba Chị Em

hồi chót, khi viên bác sỹ,

hồi chót, khi viên bác sỹ,

hồi chót, khi viên bác sỹ, sau lúc lâu im lặng, bỗng nói về cảnh nóng nực ở châu Phi, - tôi run lên vì cảm phục tài nghệ của anh, vì lo sợ cho con người, cho cuộc sống của chúng ta, tẻ nhạt, khốn khổ…". Sê Khốp lớn lên ở một tỉnh nhỏ heo hút, nhàn rỗi. Trong cái ao tù đó, ông đã tiếp xúc và quan sát, để sau này đưa vào tác phẩm của mình các thầy ký và lái buôn, sỹ quan và thị trưởng, địa chủ và tá điền, quý tộc và bình dân, cảnh sát và thầy tu; thợ thuyền và giáo học… những con người tầm thường, nhẫn nhục, không suy nghĩ, không có lý tưởng, của một cuộc sống nhỏ nhen, ngu ngốc, trì trệ mà sức mạnh duy nhất là kim tiền, hư danh, xiểm

nịnh, quyền hành độc đoán và bạo lực roi vọt. Ngay từ tuổi ấu thơ, Sê Khốp đã hít thở cái uế khí ngột ngạt sặc mùi nô lệ giày xéo, vùi dập, nhận thấy giá trị con người quá ư là mỏng manh, thấp kém. Trên đất nước Nga hoàng suy vong của một ngày thu bàng bạc, Sê Khốp đã đánh tiếng chuông âm vang mãnh liệt, xoáy sâu vào tâm hồn, để thức tỉnh ở mọi con người đang ngái ngủ nỗi lòng chán ghét cực độ đối với cảnh đời nửa khôn nửa dại, dở sống dở chết, không biết nên cười hay nên khóc đó. Với cái vốn sống phong phú và sự quan sát tinh tế về đời sống bên trong, với tài nghệ siêu việt và cái nhìn vô cùng nhân đạo, ông đã phản ánh cả một thời đại vào tác phẩm của mình. Trong đó, riêng về kịch, ta phải kể đến vở Ba chị em. Olga, cô chị cả ế chồng, mệt mỏi vì công việc dạy học vô vị của mình, chín chắn và nhẫn nhục, lòng đau khổ như xé mà đành khoanh tay bất lực nhìn cuộc đời của cả mấy anh chị em tan vỡ như một cái bong bóng xà phòng. Cô hai Masa đẹp đẽ, khôn ngoan, hăng say, cương quyết, nhưng bất mãn vì người chồng và những bạn bè tầm thường, dung tục. Cô hoang mang bế tắc như con ruồi đập đầu vào cửa kính, và cũng chỉ biết phá vỡ cái khuôn khổ tù túng của cuộc sống bằng cách ngoại tình với trung tá Versinin; đó là một lối thoát phù phiếm, tạm bợ, chẳng khác gì ném một hòn sỏi xuống mặt ao tù đóng váng, sỏi vừa chìm thì mặt nước cũng trở lại im lìm. Cô út Irina, tràn đầy nhựa thanh niên và mơ mộng tin yêu, khao khát tìm hiểu ý nghĩa cuộc sống, hương vị hạnh phúc, nhưng năm tháng qua đi, cỗ vẫn chỉ là "một chiếc dương cầm quý giá, khóa kín lại, mà người ta đã đánh mất chìa khóa rồi". Cả ba chị em đều có một ước vọng duy nhất: dọn nhà đi đến Moskva. Nhưng không bao giờ họ thực hiện được cái điều mong muốn đó. Không phải vì họ không có phương tiện di chuyển, cũng không phải vì có trở ngại gì giữ họ lại. Họ không có gan và chưa có dịp đi tới. Vả lại đi để làm gì kia chứ? Đối với họ, Moskva là cái bóng xa xôi và hư ảo của hạnh phúc. Và người ta không thể mua một cái vé rồi lên tàu đi tới hạnh phúc được. Thay đổi chỗ ở chưa phải là thay đổi cuộc đời. Đó là những phần tử trí thức, tinh tế và nhạy cảm, nhưng dù họ có cố vùng vẫy ngoi lên khỏi cảnh sống sa lầy, cuối cùng họ vẫn không sao thoát khỏi bàn tay của định mệnh, của cuộc sống tiểu tư sản lầy lũa. Tương lai sẽ giải thoát cho họ mọi đau khổ và trong khi chờ đợi, hãy làm việc, làm việc. Họ đẹp cả ngay trong cái đau khổ, mất

mát và họ đáng thương ngay cả trong những hoài bão tin yêu. Nhà văn nhân đạo Sê Khốp đã trân trọng và yêu mến các nhân vật của mình bao nhiêu! Để tô điểm thêm cho cái cuộc đời dung tục đó càng thêm tuyệt vọng là cặp vợ chồng Andrei - Natasa. Ông anh cả Andrei mà cả gia đình hy vọng trở nên một nhà khoa học, cuối cùng cũng chỉ biết ăn, ngủ, lấy vợ, đẻ con, giả ngây, giả điếc. Natasa thì kệch cỡm và lăng loàn, tham lam và ích kỷ, tàn nhẫn và dâm ô. Chị ta bước vào nhà của ba chị em, nghiễm nhiên chiếm đoạt lấy quyền làm chủ, gây sự với em chồng, bắt nạt chồng, hành hạ đầy tớ và ngang nhiên rước nhân tình vào nhà. Hai vợ chồng đó đã dắt díu nhau sa đọa và đầu độc cả cuộc sống của kẻ khác. Họ đúng là hiện thân của đầu óc thô bạo, độc đoán, ti tiện lối tiểu tư sản. Xoay quanh các nhân vật trung tâm đó là Versinin, ông trung tá đầu hai thứ tóc mà vẫn đào hoa, thích cao đàm hùng biện hơn là bắt tay thực hiện những ước vọng tương lai của mình; là Xolioni, thô bỉ và tàn nhẫn như một hung tinh,vẫn tự ví mình với một nhà thơ lớn nhưng thực ra chỉ là một tên gây gổ sát nhân, không yêu được Irina thì giết chết hạnh phúc của người con gái ngây thơ đó; là Trebutikin, một ông thầy thuốc không bao giờ chữa bệnh, chỉ biết đọc báo, đánh bạc và uống rượu, mọt ruỗng cả thể xác lẫn tâm hồn, cứ đòi làm lại cuộc đời! Còn một chút gì là tốt lành thì cuối cùng cũng bị hủy diệt nốt: cái chết ai oán và vô lý của Tudanbich, một người xấu trai nhưng trung thực, chồng chưa cưới của Irina, làm cho tấn bi hài kịch càng thêm trọn vẹn. Ba chị em, giữa lúc đau khổ nhất, đã ôm lấy nhau, giữ vững lòng tin tưởng ở hạnh phúc mai sau, kêu gọi nhau cùng làm việc, hy vọng một cuộc đời mới nhất định sắp xảy ra. Tác giả đã nhìn thấy sự phát triển của lịch sử xã hội, và mấy năm sau đó, cuộc Cách mạng Nga năm 1905 đã biến những lời ước vọng của ba chị em thành một sức mạnh chiến đấu cho chân lý và hạnh phúc. Sự nghiệp sáng tác kịch của Sê Khốp đạt tới đỉnh cao nhất với vở kịch cuối cùng của đời mình: Vườn anh đào. Liubov Andreepna, bà chủ trại ấp có cái vườn anh đào, là một người đàn bà đứng tuổi nhưng còn đẹp, dòng dõi quý tộc. Để khuây nỗi buồn vì chồng chết, con chết, bà đã cùng người tình đi đến ở Paris rong chơi đàng điếm, tiêu xài hoang phí. Nay bà trở lại quê hương ở nước Nga, để đoàn tụ với gia đình và tìm lại những kỷ niệm xưa. Cái trang trại vì không người quản lý tốt

và không thanh toán nổi nợ nần chất đống, sẽ bị đem bán đấu giá. Lái buôn Lopakhin đã giúp bà một lối thoát, là đem cái trang trại chia thành từng khoảng cho thuê và lấy tiền đó trả nợ. Nhưng quen với lối sống đàng điếm, xa lìa thực tế, biếng lười và suy nhược, Liubov Andreevna, cũng như anh là Gaev, đã phó mặc buông trôi, đi tìm những cách giải quyết viển vông; và cái trang trại đẹp cổ kính như một ngôi đền hoang phế đó, đã lọt vào tay Lopakhin. Cái tổ ấm quý phong kiến ấy, không đứng vững được trước sóng gió cuộc đời và sự tấn công của lịch sử, đã sụp đổ không tài nào chống đỡ được nữa. Khi phải rời bỏ trang trại, hai anh em Gaev và Liubov Andreevna đã ôm nhau khóc - tiếng khóc cáo chung của một chế - nhưng thực ra số mệnh họ đã kết liễu từ lâu rồi. Bà Liubov đã bất lực, và cũng không hề tìm cách cứu vãn cái vườn anh đào; dù phải bán đi hay có giữ lại được, thì bà vẫn là bà ta, sớm muộn thì rồi họ cũng tất yếu bị lịch sử đào thải, cả hiện tại và tương lai đều không bao giờ còn chỗ dành cho họ nữa. Bà muốn đoạn tuyệt với dĩ vãng, nhưng tương lai cũng thật là hỗn độn mờ mịt: với mấy nghìn đồng rúp cuối cùng của bà cô ở Iaroslav, bà ta lại đến Paris sống, rồi đến đâu sẽ hay đến đấy! Chế độ phong kiến - qua hình tượng của Liubov - đã sụp đổ tan tành. Nó nhường bước cho chế độ tư bản, lúc bấy giờ mới bắt đầu bành trướng ở Nga, tuy muộn nhưng cũng mang đủ các tính chất tham lam, tàn nhẫn của nó. Lopakhin đã giành giật quyền làm chủ vườn anh đào, và lấy đó làm một cơ sở kinh doanh kiểu tư bản chủ nghĩa. Lopakhin đã thành tâm đến giúp đỡ bà chủ cũ Liubov mặc dầu y rất kiêu hãnh vì cái tài ba phất lên làm giàu của mình. Y sung sướng khi mua được vườn anh đào, ra lệnh chặt trụi cả cây cối ngay cả khi người chủ cũ chưa rời khỏi căn nhà. Nhân vật này thật phức tạp. Y quý mến Varia nhưng lại không chịu lấy nàng làm vợ. Cũng không phải y bận bịu công việc như Varia nói đâu. Thế tại sao y lảng tránh hạnh phúc, lùi bước khi sắp ngỏ lời cầu hôn với Varia ở màn cuối? Vì cuộc đời lúc đó là như Vậy. Đó là cái buổi giao thời, khi xã hội cũ với mọi tập quán, tín ngưỡng, đạo đức, lý tưởng của nó đang sụp đổ mà cuộc đời mới thì chưa đến. Nhân vật của Sê Khốp hành động không phải do ý muốn chủ quan của mình mà tuân theo những quy luật có nguồn gốc ở cuộc đời bên ngoài mà nhiều khi họ không nhận thức được, mạnh hơn cả lý trí và sự suy luận của họ. Trong buổi giao

thời đó, hạnh phúc chỉ là một ảo tưởng. Lopakhin không muốn lấy Varia, mặc dầu y quý mến nàng, cũng như Liubov Andreevna, rất thương tiếc cái trang trại của mình, đã buông trôi để mất vườn anh đào, đó chỉ là những hành động tất yếu của quy luật khách quan, mạnh hơn cả ý muốn chủ quan của họ. Đó cũng là một khía cạnh chủ đề mà Sê Khốp thường đề cập tới trong một tác phẩm của mình. Lopakhin đã mua được cái trang trại, với một giá tiền khá đắt. Y bảo dàn nhạc Do Thái tấu nhạc lên, để mừng y đã thành ông chủ mới. Nhưng cái anh chàng tư sản tham lam có ngón tay búp măng rất nghệ sỹ đó, thất học mà khôn ngoan, tháo vát mà lãng mạn, trung hậu mà tàn nhẫn, liệu hắn có giữ được lâu cái vị trí chủ nhân ông của mình không? Y đã đốn cái vườn anh đào đi, những liệu y có xây dựng được một cái gì mới mẻ, vững chắc trên miếng đất hoang tàn đó? chúng ta tin rằng không. T’rophimov đã chẳng tiên tri mà bảo y rằng: "đừng có quen thói huyênh hoang rởm" đó sao? Mặc dầu, tay tư sản đó đang thời sung sức, nhưng ta biết chắc rằng đây vẫn chưa phải là vị chủ nhân ông chân chính của vườn anh đào. Những anh hùng làm nên lịch sử phải là những lực lượng mới mẻ khác kia. Họ là T’rophimov, anh sinh viên nghèo nhưng tràn đầy lòng tin ở hạnh phúc ngày mai; là Ania cô gái quý tộc tươi trẻ, thèm khát sống tự do như gió thổi. Đôi thanh niên đó đã cất cao tiếng tuyên ngôn: "Nhân loại đang tiến về phía chân lý cao cả, tiến về phía hạnh phúc to lớn nhất mà con người ta có thể chờ đợi được trên trái đất này, và tôi đang đi trên những hàng đầu đó"; đã gửi lời chào "Vĩnh biệt nhà ta, vĩnh biệt quá khứ của ta" và sung sướng kêu gọi: "Lên đường!" Đó là tượng trưng trong sáng nhất cho một nước Nga trẻ trung của tương lai. Khi viết Vườn anh đào, Sê Khốp có ý định sáng tác một "vở kịch vui cười": Những nhân tố khôi hài đã được tập trung vào bộ ba: Iasa - Đuniasa - Epikhodov. Tên đầy tớ Iasa cũng hút xì gà, uống rượu sâm banh, trai lơ đĩ thõa, lợi dụng tình yêu của Đuniasa để tiêu khiển cho qua những ngày buồn tẻ ở quê hương; hắn hỗn với Gaev, mắng ông già Phier chăm chỉ, trung hậu, thẹn vì có bà mẹ quê mùa. Tóm lại đích danh là một thứ "ma-cà-bông" ở Paris. Cô hầu phòng Đuniasa thì suốt ngày chải chuốt vuốt ve, xuất thân lao động nhưng lại học đòi thói tiểu thư khuê các, hơi tí là ra vẻ choáng váng ngây ngất. Nhưng đáng tức cười và cũng đáng thương hại nhất là

Ephikhodov, anh chàng "hai mươi hai cái xúi quẩy". Anh ta gọi cái đàn ghi￾ta của mình là măng đô-lin cho thêm phần thơ mộng và lúc nào cũng mang sẵn trong người một khẩu súng lục (chắc là không có đạn!); thật đủ lệ bộ của một kiểu si tình lãng mạn rẻ tiền. Anh ta đọc các thứ sách kỳ diệu, nói năng chẳng ra ngô ra khoai gì cả, đụng đâu là đổ vỡ đấy, đúng là cái đồ "hậu đậu" như già Phier nói, và bên cạnh cái đau khổ to lớn của gia đình hai anh em Gaev và Liubov, những cái xúi quẩy mà anh ta cho là nỗi bất hạnh ghê gớm, thực ra chỉ là những trò cười không đáng kể. Tất cả những cái lãng mạn lỗi thời của bọn quý tộc đã được tập trung vào bộ ba này. Và họ càng làm ra vẻ hào hoa phong nhã bao nhiêu, thì càng lộ vẻ lố bịch, trái mùa, thảm hại bấy nhiêu. Với vở kịch Vườn anh đào, Sê Khốp đã đưa cái chế độ phong kiến già cỗi lên đoạn đầu đài; đã lớn tiếng tố cáo và kết án cái chế độ tư bản không tương lai; và nhiệt tình mộng tưởng tới một lực lượng mới giải phóng con người và xây dựng cuộc sống tươi đẹp. Đó là ba chủ đề của một vở kịch. Qua bốn vở kịch trên, Sekhốp đã dẫn chúng ta nhập vào cuộc cùng sống cuộc đời của nhân vật, cùng vui buồn và suy tưởng với họ. Có nhiều cảnh ngộ oan trái, éo le, nhiều ý nghĩ đau đớn, chua cay, thậm chí có cả đổ vỡ, tuyệt vọng không sao cứu vãn được nữa. Nhưng xuyên qua toàn bộ tác phẩm của mình, Sê Khốp không hề bi quan. Những tâm trạng ưu thời mẫn thế không phải đơn giản chỉ là đầu hàng bất lực, mà trong ưu tư sâu sắc đó vẫn cháy lên ngọn lửa của tin yêu, hi vọng. Nina Zaretrnaia đã trở thành diễn viên, sau bao nhiêu tủi cực. Cậu Vania lại nhẫn nhục ngồi vào bàn làm việc và chờ đợi một ngày mai thảnh thơi hơn. Ba chị em vẫn can đảm sống sau cái chết của của Tudanbích. Và ngay cả Liubov Andreevna, con người vô tư mà ta thường cho là "nhân vật tiêu cực", thực ra thâm tâm cũng đã chán ngấy cuộc đời cũ; và bà trở lại Paris, với mối tình đau khổ, cũng chỉ là để tìm một thứ bổn phận nào đó, để đủ sức sống. Những nhân vật của Sê Khốp tuy không hành động, nhưng họ đã truyền cho ta bao nhiêu khát vọng tương lai, từ cuộc sống sơ lầy cất cánh bay lên những bầu trời trong sáng hơn, chờ đợi những trận gió mới xua tan cái hơi oi bức, ngột ngạt vây quanh. Tác giả đã vươn lên khỏi hoàn cảnh sống và nhịp bước tiến lên theo từng vở kịch, không ngừng hoàn thiện tác phẩm của mình. Từ phát súng tự kết liễu đời mình của T’replev sang thái độ can đảm

của Xonia, tới sự thèm khát sống của Irina, và kết thúc bằng lòng tin tưởng mãnh liệt của T’rophimov, nhiệt tình phấn khởi của Ania, Sê Khốp đã không chỉ mơ tưởng một ngày mai hạnh phúc mà tin chắc chắn rằng nó sẽ đến, phải đến. Những vở kịch của Sê Khốp đã nhất trí kết hợp được nội dung cuộc sống thật hàng ngày và nội dung tư tưởng xã hội, triết học về cuộc sống đó. Nemirovich Dansenko đã nói: cái duyên dáng kỳ diệu của kịch Sê Khốp là ở "trong sự thật hàng ngày, sinh động và giản dị, kết hợp với một tính chất trữ tình sâu sắc". Do đó, tác phẩm của ông luôn luôn vươn lên ánh sáng, tràn đầy khát vọng tương lai, hoàn toàn không phải là yếu thế mà đầy đủ yếu tố của lạc quan chủ nghĩa. Ông đã biểu hiện chân thực cuộc đời, không gò ép, nghĩ rằng "hạnh phúc và mầm tươi vui của cuộc sống… nằm trong sự thực", và về cuối đời mình, ông đã bước đầu kết hợp được một cách có ý thức chủ nghĩa hiện thực phê phán với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng Những vở kịch của Sê Khốp đã vượt qua ngoài giới hạn của thời gian và không gian, để mãi mãi tồn tại trong cái kho tàng của văn học thế giới, không phải đơn thuần chỉ vì nội dung tư tưởng tiến bộ và đời sống sinh động đã được thể hiện trong tác phẩm, mà còn là nhờ giá trị nghệ thuật tuyệt diệu của nó nữa. Một nghệ thuật đến nay vẫn còn rất mới mẻ, và đã xây dựng thành hẳn một loại kịch mang tên tác giả: "loại hài kịch trữ tình Sê Khốp". Kịch của Sê Khốp thường thiếu một đề tài có kịch tính. Việc Nina muốn trở thành diễn viên, T’replev muốn trở thành nhà văn (Chim hải âu) Xerebriacov muốn bán cái trang trại nhưng vấp phải sự phản kháng của Voinizki (Cậu Vania), Onga, Masa, Irina muốn đi Moskva (Ba chị em), Liubov Andreevna bắt buộc phải cho bán đấu giá trại ấp của mình (Vườn anh đào) - bản thân tất cả những biến cố cơ bản đó chẳng có một ý nghĩa gì đặc biệt cả. Đây là sân khấu của những cảnh đời nguyên chất và chân thực, giản dị và phức tạp, như bản thân cuộc đời. Không có những cảnh ngộ ngặt nghèo, những hoàn cảnh căng thẳng, những tình tiết rắc rối, những "thắt nút" ly kỳ và "mở nút" hồi hộp. Tính chất bi thảm đáng thương cũng như mỉa mai tức cười của nhân vật không phải xây dựng trên hành động đặc biệt này nọ, mà trên cái cảnh trái ngược thường tình giữa ảo tưởng và thực tế, giữa cái chủ quan tĩnh tại của họ với cái xã hội bên ngoài luôn luôn chuyển

biến. Kịch Sê Khốp cũng không có những ngôi sao đột xuất, những nhân vật trung tâm. Tác giả không chỉ lo lắng đến số phận một con người riêng lẻ nào đó, mà trình bày cái đời sống vật chất và tinh thần của cả một xã hội con con bao gồm toàn bộ nhân vật của vở kịch. Ông giáo Metvedenco, anh địa chủ phá sản Teleghin, người gác cổng Pherapon hay lão già Phier… hoàn toàn không phải là nhân vật phụ như ta thường quan niệm. Họ hoạt động ở sân khấu ít nhưng đều có cá tính rõ rệt, đều biểu hiện một khía của chủ đề và mãi mãi còn in sâu vào tâm trí người đọc, người xem. Vở kịch Cậu Vania cũng có thể gọi là Bác sĩ Axt’rov, và trong Vườn anh đào, từ Liubov, Lopakhin, T’rophmov đến bộ ba Iasa, Đuniasa, Ephikhodov… biết lấy ai làm nhân vật chính? Tác giả tập trung sự chú ý của mình không phải vào sự đột xuất của một nhân vật trung tâm hoặc những biến cố bên ngoài, mà chỉ lấy sự việc xảy ra trong kịch làm cái cớ để đi sâu vào tình tiết nội tại của đề tài, đời sống bên trong của nhân vật, với tất cả những diễn biến và xung đột tâm lý. Trong các vở kịch cổ xưa, cái đòn bẩy thúc cho mâu thuẫn phát triển thường là số mệnh. Trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt với số mệnh, con người đã bộc lộ tất cả tính chất của mình ra. Từ kịch cổ điển với Shakepeare, Cornei, Molier tới kịch hiện đại, thì động cơ chính lại là tính cách của con người. Sự đối lập của các nhân vật có cá tính mãnh liệt - biểu hiện của cái thiện hoặc cái ác, của tình thương yêu hoặc lòng thù ghét - trở nên trung tâm của vở kịch, nguồn gốc của mâu thuẫn. Trong các vở kịch của mình, Sê Khốp đã thay cái Số mệnh cổ xưa và Con người Shakespear đó bằng Cuộc đời với tất cả ý nghĩa sâu sắc nhất của nó. Trong kịch Sê Khốp, không phải là tính cách con người quyết định sự tiến triển của vở kịch nữa, mà là những nguyên cớ ở ngoài con người, ở ngoài tính cách và đề tài, nằm ngay trong thực tế cuộc đời. Đây là sự xung đột giữa cảm quan, tâm trạng của nhân vật với cảnh sống bao quanh họ, nói rộng ra là giữa con người với thực tế, giữa cá nhân với xã hội. Tại sao T’replev khi bắt đầu đã có tên tuổi trong làng văn lại đi tự sát, tại sao Cậu Vania lại làm lành với Xerebriacov và tiếp tục làm việc để cung phụng hắn, tại sao ba chị em không đi Moskva, và tại sao Liubov Andreevna không giữ được cái vườn anh đào? Để trả lời từng ấy câu hỏi, chỉ có thể nói rằng: vì rằng cuộc đời

trong cái buổi giao thời đó là như Vậy! Quan niệm nghệ thuật về nhân vật và kịch tính như Vậy của Sê Khốp đã ảnh hưởng quyết định đến sự cấu tạo về mọi mặt của kịch bản. Nếu ta đi tìm trong kịch Sê Khốp những mâu thuẫn giữa tính cách nhân vật thì nó rất mơ hồ. Những nhân vật của kịch Sê Khốp, dù yêu hay ghét nhau, không bao giờ công khai xung đột với nhau. Hai mẹ con Arcadina và T’replev săn sóc nhau, chửi mắng nhau rồi lại làm lành với nhau, nhưng không bao giờ hiểu nhau; Xerebriacov bị Cậu Vania giết hụt nhưng vẫn tảng lờ, không hề coi Vania là đối thủ đáng kể của mình, và đã chủ động giảng hòa; Andrei cãi lộn với ba chị em trong cái đêm có hỏa hoạn, rồi lại òa ra khóc và xin lỗi; hoặc T’rophimov đã đánh giá Lopakhin như một "thú dữ" rồi lại cho hắn có "tâm hồn tế nhị, thanh tao". Trong khi lựa chọn diễn tả tính cách của các nhân vật, tác giả còn dụng tâm lựa chọn không phải những con người xấu xa nhất hoặc tốt đẹp nhất, mà sáng tạo nên những tính cách nhiều màu vẻ, những con người sinh động đầy mâu thuẫn nội tại: do đó ông đã phản ánh được xác đáng thực chất xung đột giữa con người và cuộc sống đương thời. Những vở kịch của Sê Khốp thường chứa đựng nhiều tình tiết và xung đột song song tồn tại, phát triển nhiều hướng đề tài khác nhau, xen kẽ vào nhau mà không tổn hại lẫn nhau. Ngoài ra, lại có cả những sự việc có tác dụng quan trọng đến nội dung vở kịch xảy ra ở ngoài sân khấu. Trong Ba chị em, ta nghe thấy nhắc đến gã tình nhân của Natasa là Protopopov; hoặc bà vợ cả đã quá cố của Xerebriacov trong Cậu Vania hoặc Grisa, Cậu con trai bị chết đuối của Liubov Andreevna, cùng với người tình ở Paris của bà ta, trong vở Vườn anh đào. Những nhân vật đó không hề xuất hiện, nhưng tưởng như lúc nào cũng có mặt trên sân khấu, tham gia vào các biến cố. Văn của Sê Khốp vốn giản dị, rõ ràng mà không sơ lược. Trong khi sáng tạo ra lối hành văn riêng của mình, ông không cần tìm những hình thức mới, mà chỉ loại trừ những cái gì là thừa trong cái đã có sẵn. Do đó, lời văn đi thẳng đến độc giả bằng tư tưởng sáng sủa, hình ảnh chính xác của nó. Ngôn ngữ trong kịch Sê Khốp cũng chỉ là thứ tiếng nói quần chúng thường dùng hàng ngày. Nhưng một khi đã được đưa vào kịch bản, thông qua miệng những nhân vật của Sê Khốp, thì nó đã gây nên những tác động rất khác xa với cái thông thường hàng ngày. Lời nói của nhân vật đều có cá tính riêng biệt, thường xoay quanh một vấn đề nhất định, phản ánh tính

tình, sở thích, công việc và tâm tư riêng biệt của nhân vật. Đó là những câu nói rất cô đúc, những đoạn đối thoại lửng lơ, nhiều khi không ăn nhập gì với nhau cả, thiếu hẳn tính chất lô-gíc , nhân vật trong khi trò chuyện với nhau, dường như mỗi người vẫn theo đuổi một ý nghĩ riêng, kẻ hỏi thì không chờ đợi trả lời, kẻ trả lời thì cũng chỉ là một dịp để nói to những tâm tư riêng biệt của mình lên thôi; chỉ cốt nói mà không cần nghe, mỗi người tự quay về cái thế giới trung tâm là cõi lòng thầm kín của mình. Đó là thứ ngôn ngữ không dùng để diễn đạt tình cảm mà tự bản thân nó đã biến thành tình cảm rồi. Cái mà người ta thường gọi là "ý ngoài lời". Như khi ta vào một khu rừng, bỗng thấy khí mát bao quanh, mà biết rằng một dòng suối ngầm đang róc rách chảy trong lòng đất. Sau mỗi câu nói bình thường, kín đáo đó đều có ẩn một tư tưởng, dào dạt một tình cảm, gây thành một thứ đối thoại nội tâm, một chiều sâu thứ ba, một trận sóng ngầm. Và nó bỗng nhiên có cái phép màu nhiệm là tạo nên một cái không khí rất đặc sắc, rất nồng đậm, đầy hơi thở của cuộc sống. Có đọc kỹ kịch Sê Khốp, ta mới đắm mình được vào cái không khí đó, linh cảm hết cái "ý ngoài lời", như mùa xuân sờ thấy nhựa xanh tươi căng ứ trên mỗi búp lộc non tơ. Kịch Sê Khốp không những chỉ nói bằng lời mà còn nói bằng "im lặng", nói rất nhiều và rất hùng hồn nữa kia. Đây không phải là cái phút giây "im lặng" chết, trống rỗng, mà cái phút giây "im lặng" kéo dài trước hoặc sau một cơn giông tố, diễn tả những nội tâm vô cùng phiền toái, cả những tình cảm đôi khi mãnh liệt nữa. Cái "ý ngoài lời" và cái "im lặng" đó là tiết tấu đặc trưng của kịch Sê Khốp, một thứ tiết tấu từ ngoài đời vang hưởng vào trong tác phẩm. Sê Khốp không phải chỉ là nhà thơ của kịch, mà còn là đạo diễn, họa sỹ, nhạc sỹ trong kịch. Đó là những lới chú thích nửa vời, như "rưng rưng nước mắt", "cười qua hàng lệ" - đó là vầng trăng trên mặt hồ quê hương của con "chim hải âu"…, ánh lửa đám cháy đầy tính chất tượng trưng, đỏ rực qua khung cửa sổ buồng "ba chị em"… cái "vườn anh đào" nở hoa trắng xóa… mỗi phong cảnh tưởng như mỗi tác phẩm của nhà danh họa nước Nga Levitan, bạn thân của Sê Khốp. Phong cảnh ở đây không hạn chế trong phạm vi thụ động làm một thứ "phông" trang trí đơn thuần, mà nó đã thành một loại nhân vật, tham gia trực tiếp vào mọi biến cố của cuộc sống sân khấu, làm tôn thêm nội dung tư tưởng của đề tài. Nhưng cái gì đã góp

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 4

Đang tải bình luận...